
Các cuộc tranh luận xung quanh Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) đang trở nên nóng hơn khi có thêm sức ép mới đề nghị đưa điều khoản cho phép các nước thành viên được quản lý đồng tiền của mình nhằm đảm bảo khả năng cạnh tranh trước các đối tác thương mại. Sức ép mới xuất hiện khi nguyên Bộ trưởng tài chính và nguyên Giám đốc hội đồng kinh tế quốc gia thuộc chính quyền Tổng thống Obama kêu gọi thông qua vấn đề này.
Quản lý tiền tệ là nguyên nhân chủ yếu gây ra tình trạng thâm hụt thương mại kéo dài tại Mỹ và không ngừng lan rộng. Thâm hụt thương mại kìm hãm tốc độ tăng trưởng hay sẽ tạo ra điều kiện đủ để đạt được mức tăng trưởng tối ưu có vẻ sẽ là vấn đề kinh tế quan trọng cần được phân tích trong những năm tới.
Trong điều kiện thuế suất ở Mỹ thấp, rất khó để nghĩ ra vấn đề nào khác nếu không phải là cơ chế quản lý tiền tệ vốn dĩ có thể ảnh hưởng đến dòng chảy thương mại toàn cầu. Do đó, việc loại bỏ vấn đề này ra khỏi TPP sẽ là điều kỳ lạ. Nhiều người ủng hộ TPP cũng cho rằng sẽ là rất miễn cưỡng khi đưa các điều khoản nhằm ngăn chặn việc quản lý tiền tệ vào nội dung hiệp định. Có nhiều tranh luận về lý do tại sao Mỹ không thể hoặc không nên dừng việc quản lý đồng tiền của mình, một trong số đó là: đưa một chương riêng về tiền tệ vào TPP sẽ cho phép các nước khác sử dụng các điều khoản này để ngăn Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED) thực hiện các chính sách tiền tệ mở rộng. Nếu những điều khoản này được áp dụng trong thời kỳ Đại suy thoái, nó sẽ tiếp tục cản trở FED tham gia vào chính sách nới lỏng định lượng (QE) nhằm đẩy lùi tình trạng suy thoái kinh tế và thúc đẩy phục hồi.
Trói tay của FED như thế sẽ là một điều nguy hại, nhưng không có lý do nào để cho rằng quản lý tiền tệ sẽ hạn chế FED hay bất kỳ ngân hàng trung ương nào thực hiện các hành vi thao túng.
Điều này đã được đánh động và lý do là: chính sách nới lỏng định lượng hoạt động thông qua việc FED mua lại tài sản trong nước để đổi lấy dự trữ mà nó tạo ra. Cụ thể, FED mua trái phiếu chính phủ Mỹ, chứng khoán có đảm bảo bằng tài sản thế chấp (MBS) và ghi có cho người bán duy trì tài khoản dự trữ tại FED. Ảnh hưởng trước tiên của hành động này là kéo giảm lãi suất trái phiếu. Tiếp theo đó, lãi suất trái phiếu giảm sẽ làm giảm áp lực lên đồng USD, và theo đó sản phẩm xuất khẩu của Mỹ sẽ trở nên rẻ hơn trong khi hàng hóa nhập khẩu lại trở nên đắt hơn và cuối cùng giảm thâm hụt thương mại cho Mỹ. Tuy nhiên, kênh chính và mục tiêu chính là lãi suất trong nước và những tài sản được mua bằng chính đồng tiền mà cơ quan quản lý tiền tệ kiểm soát.
Ngược lại, khi mô tả chính sách quản lý tiền tệ trọng thương, tất cả đều cho rằng đó là việc mua lại tài sản nước ngoài của cơ quan quản lý tiền tệ quốc gia. Ví dụ, Ngân hàng trung ương Trung Quốc không mua lại trái phiếu chính phủ Trung Quốc mà thực hiện mua trái phiếu chính phủ Mỹ hay MBS. Điều này tác động đầu tiên đến sự thay đổi về cầu tương đối giữa Mỹ và Trung Quốc với tài sản và theo đó làm thay đổi tỷ giá giữa đồng USD và đồng nhân dân tệ.
Do đó, việc đưa những giới hạn hay các nguyên tắc mở rộng cho tài sản nước ngoài được mua bởi các cơ quan quản lý tiền tệ vào TPP (hoặc một hiệp định nào khác) sẽ không đủ khả năng ngăn cản những sáng kiến tương tự như chương trình nới lỏng định lượng của FED trong và sau khủng hoảng.
Theo http://www.epi.org - PC
Từ khóa: TPP, Hiệp định thương mại tự do, Thái Bình dương, quản lý tiền tệ, tài chính, nhập khẩu, xuất khẩu
Các tin khác
- Dịch chuyển và chiến lược: kế hoạch đầy tham vọng của ASEAN vì một cộng đồng kinh tế mới - 04/02/2015
- Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) năm 2015 – Cơ hội cho Châu Á - 03/02/2015
- Cải thiện môi trường kinh doanh: Cần hơn một nghị quyết - 02/02/2015
- Bất chấp khác biệt, ASEAN vẫn có thể mở rộng tiềm năng chung của khối - 06/01/2015
- So sánh AEC và WTO - 05/01/2015






















