Khi Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) được hình thành vào năm 2015, có ba câu hỏi được đặt ra cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs) trong khu vực. Đầu tiên là AEC có tốt cho các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs) trong khu vực hay không? Thứ hai là SMEs trong khu vực đã sẵn sàng cho AEC năm 2015 chưa? Và thứ ba là vai trò của SMEs trong khu vực khi AEC được hình thành sau năm 2015?

Đối với câu hỏi thứ nhất, như đã nêu trong Lộ trình xây dựng Cộng đồng ASEAN 2009-2015, "The AEC sẽ thiết lập ASEAN thành một thị trường và cơ sở sản xuất hợp nhất để giúp ASEAN năng động và cạnh tranh hơn, với những cơ chế và biện pháp thúc đẩy việc thực hiện những sáng kiến kinh tế hiện có; thúc đẩy hội nhập khu vực trong các lĩnh vực ưu tiên; tạo điều kiện cho việc lưu chuyển doanh nghiệp, lao động lành nghề và những tài năng; và củng cố các cơ chế thể chế của ASEAN."
Trong ngắn hạn, AEC sẽ đưa ASEAN trở thành khu vực có thể di chuyển tự do hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, lao động có tay nghề cao, và di chuyển vốn tự do hơn.
Đối với các chủ sở hữu hoặc người quản lý SMEs tại các quốc gia thành viên, điều quan trọng là phải nhận thức được rằng di chuyển tự do hàng hóa sẽ bao gồm cả thị trường và sản xuất, cả cơ hội và thách thức. Cơ hội và thách thức có thể là trực tiếp, cũng có thể là gián tiếp. Trực tiếp, ví dụ, một SME địa phương có thể có cơ hội bán hàng hóa của mình cho các nước thành viên khác; nhưng cũng có thể họ sẽ phải đối mặt với cạnh tranh trực tiếp ngay tại thị trường nội địa từ hàng hoá tương tự được sản xuất bởi SMEs từ các nước thành viên khác. Trong khi đó, SMEs có thể chịu ảnh hưởng gián tiếp, ví dụ như họ đang sản xuất một số bộ phận hoặc phụ tùng cho một công ty lắp ráp địa phương, họ sẽ có đơn hàng lớn hơn khi công ty này mở rộng thị trường sang các nước thành viên khác. Ngược lại, họ sẽ nhận được ít đơn đặt hàng hơn nếu nhà lắp ráp giảm sản xuất do bị cạnh tranh gay gắt từ các nước thành viên khác tại thị trường nội địa.
Tất cả SMEs địa phương cũng phải lưu ý rằng lưu chuyển tự do dịch vụ, đầu tư, lao động có tay nghề và vốn sẽ là những thay đổi cơ bản mà họ phải thích ứng trong tương lai. Điều này ngụ ý là SMEs tại các nước thành viên sẽ có nhiều cơ hội để nâng cao hiệu quả hoặc năng suất cũng như mở rộng quy mô sản xuất với chi phí thấp hơn vì lực lượng lao động, dịch vụ chất lượng tốt hơn và vốn sẽ có sẵn.
AEC sẽ tạo nhiều cơ hội hay thách thức hơn cho SMEs địa phương phụ thuộc vào hai yếu tố chính: sự sẵn sàng của các doanh nghiệp và sự quan tâm của các chính phủ từng nước thành viên trong việc hỗ trợ doanh nghiệp. Nhưng một điều chắc chắn là các doanh nghiệp tại từng quốc gia thành viên cần phải nâng cao nguồn lực và khả năng của mình nếu muốn phát triển hoặc xa hơn là trở thành doanh nghiệp thương mại và sản xuất hàng đầu trong khu vực.
SMEs cần coi việc xây dựng năng lực là yếu tố ưu tiên hàng đầu. Tùy thuộc vào điều kiện hiện tại của mỗi doanh nghiệp để thiết lập chương trình phù hợp, nhưng cần tập trung phát triển nguồn nhân lực (không chỉ nâng cao kỹ năng của người lao động mà cả sự phát triển của doanh nghiệp), cải tiến công nghệ /năng lực kỹ thuật, xây dựng hoặc tăng cường mạng lưới kinh doanh, nâng cao năng lực quản lý, tổ chức lại doanh nghiệp, áp dụng những phương pháp sản xuất tốt hơn, xây dựng chiến lược kinh doanh dài hạn tốt hơn, và mở rộng năng lực sản xuất.
Đối với chính phủ, cần có những biện pháp thiết thực và hiệu quả để hỗ trợ SMEs xây dựng năng lực. Sự hỗ trợ của chính phủ không nhất thiết là phải trực tiếp như trợ cấp vốn, đào tạo kỹ thuật /nghề, hoặc hỗ trợ kỹ thuật, mà có thể là gián tiếp như đề ra chính sách tài khóa, tiền tệ, chính sách ngành, đầu tư và thương mại phù hợp có lợi cho SMEs. Thậm chí, trong nhiều trường hợp, các chính sách tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động kinh doanh còn quan trọng hơn là hỗ trợ trực tiếp. Ngân hàng Thế giới trong báo cáo thường niên về "Thực hành Kinh doanh" đã tái khẳng định rằng các chính sách hay quy định tạo thuận lợi cho hoạt động kinh doanh sẽ giúp ích nhiều cho SMEs địa phương phát triển.
Theo các chuyên gia, hỗ trợ trực tiếp kết hợp với việc tạo ra môi trường kinh doanh thuận lợi quan trọng hơn rất nhiều so với việc chính phủ áp dụng các biện pháp bảo vệ SMEs địa phương. Kinh nghiệm của Indonesia cho thấy, các biện pháp bảo vệ các công ty lớn của quốc gia thông qua cái gọi là chính sách thay thế nhập khẩu dưới thời kỳ chế độ "Trật tự mới" kéo dài hơn 30 năm (1966-1998) của tổng thống Suharto và bảo vệ SMEs địa phương thông qua "Danh sách kiểm soát xuất nhập khẩu" các lĩnh vực (có quan hệ mật thiết với các công ty lớn /công ty nước ngoài hoặc cho phép đầu tư trực tiếp lớn/nước ngoài nhưng họ cần phải là đối tác của các doanh nghiệp nhỏ địa phương) đã không giúp ngành công nghiệp trong nước cũng như SMEs cạnh tranh và phát triển mạnh mẽ.
Đối với câu hỏi thứ ba, dựa trên dữ liệu từ các nước thành viên, hiện nay SMEs chiếm từ mức thấp nhất 88,8% (Myanmar) tới mức cao nhất 99,98% (Lào) trong tổng số doanh nghiệp tại các quốc gia này. SMEs dẫn đầu về tạo việc làm tại tất cả các nước thành viên. Tỷ lệ đóng góp tạo việc làm tương ứng: 51,7% tại Việt Nam,61,0% tại Philippines, 81,4% tại Lào, và cao nhất 97,2% tại Indonesia.
Đặc điểm chung của SMEs tại các nước đang phát triển là họ chỉ chiếm ưu thế về số lượng doanh nghiệp và tạo việc làm chứ không đóng góp nhiều vào tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và xuất khẩu. Trong ASEAN, tỷ lệ đóng góp cao nhất của SMEs vào GDP là ở Indonesia, khoảng 58%. Các nước thành viên khác, từ mức thấp nhất 23,0% tại Brunei, 32,5% tại Malaysia, 36,0% tại Philippines, 37,0% tại Thái Lan, 40,0% tại Việt Nam, và 45,0% tại Singapore.
Về xuất khẩu, SMEs trong khu vực này có vẻ yếu hơn nhiều. Ví dụ, tại Indonesia, tỷ trọng xuất khẩu của SMEs trong tổng xuất khẩu của cả nước (không kể dầu khí) chỉ khoảng 16,4%; ở Malaysia khoảng 19,4%, Philippines 10,0%, Thái Lan 29,9% và 20,0% tại Việt Nam.
Theo các kết quả khảo sát từ các quốc gia thành viên, nhìn chung những khó khăn của SMEs trong khu vực hiện nay gồm: thiếu khả năng tiếp cận thị trường; khó tiếp cận về tài chính; thiếu công nghệ hiện đại; kỹ năng quản lý yếu; trình độ lao động thấp; tiếp cận thông tin thị trường, công nghệ và nguồn nguyên liệu bị hạn chế; không có mối liên kết với các thị trường xuất khẩu; kỹ năng kinh doanh hạn chế nên khó xác định cơ hội thị trường; năng lực đổi mới thấp; các kênh truyền thông hạn chế, và không có mối liên kết hoặc liên kết lỏng lẻo giữa SMEs và doanh nghiệp lớn. Trong số những hạn chế trên, tiếp cận nguồn tài chính và thị trường xuất khẩu là những vấn đề mấu chốt cần được tháo gỡ.
Để SMEs có thể tận dụng được cơ hội thị trường nhiều hơn khi thực hiện AEC vào năm tới mỗi quốc gia thành viên cần phải tạo được một môi trường kinh doanh vơi đầy đủ các yếu tố sau: dễ dàng tiếp cận tài chính, dễ dàng tiếp cận thị trường (trong nước cũng như các nước thành viên khác), dễ dàng tiếp cận những công nghệ tiên tiến và đổi mới, cơ sở hạ tầng phát triển tốt, đảm bảo an ninh trong hoạt động kinh doanh/đầu tư, nguồn nhân lực có trình độ và tay nghề cao, luật pháp và khung pháp lý thống nhất, động bộ, minh bạch và hiệu lực cao.
Điều đó thực sự là rất quan trọng mà SMEs tại tất cả các quốc gia thành viên cần nỗ lực nghiêm túc để giải quyết những thiếu hụt và thách thức với sự hỗ trợ đầy đủ từ chính phủ vì một lý do đơn giản: khi thực hiện AEC vào năm 2015, hoạt động kinh doanh sẽ trở nên phức tạp hơn và SMEs phải hoạt động trong môi trường cạnh tranh cao và nhanh chóng thay đổi để tồn tại và phát triển bền vững trên thị trường.
Theo www.msmenewsnetwork.com – PT
Từ khóa: AEC, 2015, tương lai, doanh nghiệp, vừa và nhỏ, ASEAN
Các tin khác
- Gia nhập TPP: “Tránh lặp lại vết xe đổ WTO” - 28/10/2014
- Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện: Lý thuyết và thực tiễn tại một số nước - 23/10/2014
- Tác động của hiệp định AJCEP tới quan hệ kinh tế Việt Nam - Nhật Bản - 13/10/2014
- Thiếu thông tin về FTA: Doanh nghiệp thiếu chủ động hội nhập - 10/10/2014
- Sẵn sàng cho “sân chơi” các hiệp định kinh tế - 08/10/2014






















