
Hậu quả mà dịch bệnh corona để lại cho nền kinh tế là hoàn toàn khác nhau giữa các nước, từ đó làm trầm trọng thêm các mâu thuẫn thương mại vốn có, đặc biệt giữa Trung Quốc, Mỹ và châu Âu.
Tại Trung Quốc, chi tiêu dùng đã không thể phục hồi ngay cả khi sản xuất công nghiệp và đầu tư tài sản cố định tăng cao kỷ lục. Vấn đề ở đây là, hàng hóa sản xuất ra rốt cuộc phải được tiêu dùng, vậy thì nếu các hộ gia đình Trung Quốc không mua những gì mà doanh nghiệp Trung Quốc bán ra, một ai khác sẽ phải làm điều đó. Cho đến nay, người tiêu dùng ở Mỹ và châu Âu đã và đang giải cứu cho nguồn dư thừa của các nhà sản xuất Trung Quốc khi chính các doanh nghiệp của họ cũng đang phải vật lộn với khó khăn.
Sau khi virus corona xuất hiện lần đầu tiên tại Trung Quốc, tiêu dùng bán lẻ tháng 2/2020 (sau khi đã điều chỉnh yếu tố thời vụ) giảm khoảng 25% so với tháng 12/2019, trong khi đó, sản lượng sản xuất cũng giảm 20%. Đó gần như chính xác là những gì đã diễn ra tại Mỹ trong giai đoạn từ tháng 2/2020 đến tháng 4/2020. (Còn ở châu Âu, sản xuất và tiêu dùng đều giảm 30%).
Tuy nhiên, mức độ phục hồi của 3 nền kinh tế lớn nhất thế giới lại hoàn toàn khác nhau. Số liệu mới nhất cho thấy chi tiêu dùng hàng hóa của Mỹ và châu Âu đã quay trở lại mức trước dịch bệnh – nếu không muốn nói là tốt hơn – mặc dù các doanh nghiệp sản xuất ở 2 nền kinh tế này đang hoạt động dưới công suất.
Kinh tế Mỹ và liên minh châu Âu đã phản ứng tương tự nhau trước cú sốc mang tên corona, với chi tiêu dùng bán lẻ vượt sản lượng sản xuất.
Nhưng tại Trung Quốc, chi tiêu dùng vẫn thấp so với mức trước dịch bệnh, trong khi sản xuất thì đang tăng tốc trở lại. Trên thực tế, chi tiêu dùng bán lẻ của Trung Quốc trong tháng 7 dường như còn giảm nhẹ so với tháng 6 khi so với xu hướng trước dịch bệnh, trên cơ sở có điều chỉnh yếu tố thời vụ.
Sự hồi phục không đồng đều
Sản lượng sản xuất của Trung Quốc đã bật tăng trở lại, nhanh hơn so với chi tiêu dùng. Điều này trái ngược với Mỹ, nơi mà mức tăng trưởng trong sản xuất thua xa tăng trưởng trong tiêu dùng.
Sự lệch pha này phản ánh các lựa chọn chính sách của chính phủ hai nước, đặc biệt là các hạn chế về trợ cấp xã hội sẵn có cho hàng trăm triệu công nhân thành thị Trung Quốc đến từ vùng nông thôn. Thay vì nhận trợ cấp thất nghiệp, những người nhập cư này đã rời thành phố để trở về đồng ruộng tìm kế sinh nhai. Trong khi đó, các doanh nghiệp Trung Quốc lại nhận được trợ cấp từ chính phủ để duy trì sản xuất, bất chấp việc làm này có mang lại hiệu quả kinh tế hay không.
Kết quả là, tổng chi tiêu của Trung Quốc cho hàng hóa và dịch vụ nhập khẩu trong quý II năm 2020 chỉ là gần 530 tỷ USD, thấp hơn so với mức 606 tỷ USD của quý II năm 2019 và 640 tỷ USD của quý II năm 2018.
Ngược lại, giá trị xuất khẩu hàng hóa chế tạo của Trung Quốc trong quý II gần như không đổi so với những năm trước đó. Thặng dư thương mại của Trung Quốc tăng mạnh do sự kết hợp của hai yếu tố: cầu trong nước giảm trong khi sản xuất là không đổi. (Giá năng lượng giảm cộng với việc người Trung Quốc ít du lịch nước ngoài hơn cũng góp phần dẫn đến kết quả trên).
Trung Quốc lan tỏa thiệt hại
Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa công nghiệp của Trung Quốc đã quay lại mức bình thường như trước dịch bệnh trong khi kim ngạch nhập khẩu thì giảm mạnh, dẫn đến thặng dư thương mại tăng.
Cán cân thương mại hàng hóa công nghiệp của EU lại đi theo một hướng khác. Kim ngạch nhập khẩu giảm, nhưng kim ngạch xuất khẩu còn giảm mạnh hơn, dẫn đến thặng dư hàng hóa sản xuất của EU trong quý II năm nay chỉ đạt 50 tỷ Euro (60 tỷ USD), thấp hơn so với mức trung bình trước đại dịch là khoảng 110 tỷ Euro. (Thặng dư thương mại của EU là do tiêu dùng dưới mức và đầu tư dưới mức, điều này không tốt cho người dân EU lẫn các nước khác, nhưng cách tốt nhất để cải thiện mức thặng dư nên thông qua tăng nhập khẩu, không phải giảm xuất khẩu).
EU mất thị phần
Thặng dư thương mại của EU đã lao dốc vì xuất khẩu giảm mạnh trong khi nhập khẩu vẫn tương đối ổn định.
Tương tự, số liệu thương mại của Mỹ cho thấy xuất khẩu giảm nhanh hơn nhập khẩu, mặc dù khoảng cách được thu hẹp một chút trong tháng 6 nhờ vào xuất khẩu tăng.
Ảnh hưởng không đồng đều
Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa công nghiệp của Mỹ giảm mạnh hơn nhập khẩu.
Điều này giúp giải thích tại sao sức bật của khu vực sản xuất Mỹ lại khiêm tốn đến vậy. Ngoại trừ ngành đóng gói thịt và ngành ô tô có sản lượng hồi phục theo hình chữ V, hầu hết các ngành còn lại có sản lượng kém xa so với mức đạt được hồi tháng 2, và chỉ mới cải thiện nhẹ trong vài tháng gần đây.
Hình chữ V hay chữ L
Ngành công nghiệp ô tô của Mỹ đã tăng mạnh trở lại sau thời gian dài đóng cửa vì dịch bệnh, nhưng các ngành sản xuất còn lại không phục hồi mạnh mẽ được như vậy.
Không may là, tình trạng cầu tiêu dùng thấp ở Trung Quốc có khả năng sẽ lan sang toàn bộ các nước còn lại. Hàng chục triệu người Mỹ đã chứng kiến thu nhập của họ bị cắt giảm sau khi gói hỗ trợ của chính phủ cho những người thất nghiệp vì dịch bệnh hết hiệu lực. Bên phía EU, chính phủ các nước này cũng đang tranh cãi nảy lửa về thời hạn kết thúc gói hỗ trợ doanh nghiệp trả lương cho công nhân.
Miếng bánh kinh tế toàn cầu sắp trở nên nhỏ hơn, đồng nghĩa với việc các công ty – và các chính phủ đang hỗ trợ họ - sẽ bị buộc phải chiến đấu vất vả hơn nhằm ngăn doanh thu sụt giảm. Điều đó chắc chắn sẽ làm trầm trọng thêm các mâu thuẫn về thương mại vốn đang đe dọa kinh tế toàn cầu thậm chí trước cả khi dịch bệnh nổ ra.
Nguồn: Barrons
Từ khóa: tiêu dùng, phục hồi, yếu, Trung Quốc, tín hiệu xấu, Trung Quốc, thương mại thế giới
Các tin khác
- Hà Nội: Chủ động tận dụng cơ hội từ EVFTA - 19/08/2020
- EVFTA: Cơ hội mới cho thương mại Việt Nam – EU và cơ hội mới cho ASEAN - 19/08/2020
- Ý nghĩa của nghị định thư sửa đổi AJCEP đối với nhà đầu tư tại Việt Nam - 19/08/2020
- Xuất siêu lớn, mừng và lo - 19/08/2020
- Ứng phó các vụ kiện phòng vệ thương mại: Không để bị động trong mọi tình huống - 19/08/2020






















