
Ngày 1/8/2020, nghị định thư lần thứ nhất sửa đổi Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện ASEAN-Nhật Bản (AJCEP) giữa Nhật Bản và 5 nước thành viên Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), gồm Lào, Myanma, Singapore, Thái Lan và Việt Nam có hiệu lực.
AJCEP đi vào hiệu lực vào tháng 12/2008, bao gồm các cam kết trong lĩnh vực thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ, đầu tư và hợp tác kinh tế.
Nghị định thư lần này bổ sung các cam kết liên quan đến thương mại dịch vụ, di chuyển thể nhân và đầu tư. Nghị định thư được kỳ vọng sẽ giúp tăng cường thêm quan hệ kinh tế giữa Nhật Bản và các nước ASEAN trong nhiều lĩnh vực.
Mặc dù AJCEP đã được thực thi từ tháng 12/2008, nghị định thư sửa đổi lần thứ nhất này sẽ thúc đẩy thêm thương mại và đầu tư giữa Nhật với Lào, Myanmar, Singapore, Thái Lan và Việt Nam.
Để hiểu thêm về các tác động của thỏa thuận mới đến các doanh nghiệp và các cơ hội đầu tư tại Việt Nam, Vietnam Briefing sẽ thảo luận về các thay đổi chính trong nghị định thư này.
Bối cảnh
AJCEP là hiệp định thương mại tự do đa phương đầu tiên của Nhật Bản, được phát triển lên từ Hiệp định đối tác kinh tế song phương (EPA). EPA là thỏa thuận được ký bởi hai nước trở lên nhằm tạo ra một khu vực thương mại tự do, trong đó các nước mở cửa kinh tế và hợp tác kinh tế lẫn nhau.
Trước AJCEP, VIệt Nam và Nhật Bản đã ký với nhau một EPA mang tên Hiệp định Đối tác Kinh tế Việt Nam – Nhật Bản (VJEPA), với nhiều ưu đãi hơn cho thương mại và đầu tư song phương so với AJCEP. Hai FTA này có thể cùng tồn tại song song, và doanh nghiệp có thể chọn áp dụng bất kỳ hiệp định nào, miễn là có lợi hơn cho hoạt động của họ.
Nghị định thư thứ nhất sửa đổi AJCEP được cho là có ý nghĩa đặc biệt với 3 nước chưa có FTA song phương với Nhật Bản, đó là Lào, Myanmar và Campuchia. Hơn nữa, nghị định thư cũng bao gồm các quy định mới và các cam kết tự do hóa chưa từng có tiền lệ trong các EPA và các hiệp định có liên quan của các nước ASEAN.
Đầu tư và thương mại song phương Nhật Bản - ASEAN
Theo Tổ chức Ngoại thương Nhật Bản (JETRO), ASEAN là đối tác thương mại lớn thứ ba của Nhật, sau Trung Quốc (tính cả Hong Kong) và Mỹ. Năm 2019, kim ngạch thương mại giữa Nhật Bản và ASEAN đạt 214 tỷ USD, với thâm hụt 2 tỷ USD nghiêng về phía Nhật Bản.
Nhật Bản còn bị thu hút bởi tiềm năng thị trường ngày một phát triển và mức độ mở cửa của ASEAN. Trong 5 năm qua, nhà đầu tư Nhật Bản đã rót trung bình 20 tỷ USD mỗi năm vào khu vực này.
Tính đến hết năm 2019, có hơn 13,000 doanh nghiệp Nhật Bản hoạt động tại Đông Nam Á, và hơn 200,000 công dân Nhật sống và làm việc tại đây. Một khảo sát được thực hiện bởi Ngân hàng Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JBIC) năm 2019 cho thấy hơn 56% doanh nghiệp Nhật Bản đang mong muốn mở rộng hoạt động kinh doanh tại các nước ASEAN, đặc biệt là Việt Nam, Indonesia, và Thái Lan trong vài năm tới.
Chính phủ Nhật Bản cũng khuyến khích doanh nghiệp nước mình đa dạng hóa chuỗi cung ứng, bằng cách chuyển hoạt động sản xuất sang ASEAN để đối phó với cuộc chiến thương mại Mỹ-Trung, tranh chấp lãnh thổ Nhật - Trung Quốc, cũng như tình hình dịch bệnh Covid-19.
Nói là làm, tháng 4 năm 2020, chính phủ Nhật Bản đã ban hành gói hỗ trợ kinh tế trị giá 2,4 tỷ USD nhằm giúp đỡ các doanh nghiệp Nhật Bản đem hoạt động sản xuất từ Trung Quốc về lại trong nước hoặc chuyển đến một quốc gia khác tại khu vực Đông Nam Á.
Ý nghĩa của nghị định thư đối với Việt Nam
Nhật Bản đã và đang là một trong những đối tác thương mại, nhà đầu tư và nhà viện trợ nước ngoài hàng đầu của Việt Nam. Trong những năm gần đây, Việt Nam nổi lên như một điểm đến hấp dẫn đối với đầu tư nước ngoài và là một lựa chọn hợp lý cho các doanh nghiệp Nhật Bản muốn tái cấu trúc lại chuỗi cung ứng.
Theo JETRO, 64% doanh nghiệp Nhật Bản có kế hoạch mở rộng hoạt động hiện có tại Việt Nam, và 43% doanh nghiệp nói rằng Việt Nam là lựa chọn đầu tiên của họ khi dịch chuyển sản xuất.
Trước bối cảnh như trên, nghị định thư sửa đổi AJCEP sẽ có tác dụng xúc tiến, tạo thuận lợi và bảo vệ thương mại cũng như các cơ hội đầu tư của Nhật Bản tại các nước ASEAN, trong đó có Việt Nam. Tương tự, Việt Nam cũng đã thực hiện các cam kết chính như mở cửa thị trường, nới lỏng quy định về hiện diện thương mại và di chuyển thể nhân đối với một số ngành và dịch vụ, để thu hút thêm đầu tư và tận dụng được các cơ hội thương mại từ Nhật Bản.
Cung cấp dịch vụ xuyên biên giới trở nên dễ dàng
Việt Nam dự kiến sẽ xóa bỏ hoàn toàn các rào cản đối với một số ngành dịch vụ xuyên biên giới, trong đó có dịch vụ pháp lý, kế toán kiểm toán, thuế, kỹ sư và kỹ sư tích hợp, dịch vụ y khoa và nha khoa, dịch vụ máy tính, hoạt động R&D trong khoa học tự nhiên, nghiên cứu thị trường và tư vấn quản lý, giao dục, dịch vụ quảng cáo, v.v…
Bên cạnh đó, Việt Nam cũng cho phép các tổ chức nước ngoài được thực hiện hầu hết các dịch vụ kể trên tại Việt Nam, với một vài ngoại lệ và quy định riêng trong một số ngành như kỹ sư, y khoa và nha khoa, các loại hình dịch vụ phục vụ nông nghiệp và sản xuất.
Lấy ví dụ, nghị định thư cho phép thành lập bệnh viện 100% vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam nhưng kèm theo điều kiện về vốn tối thiểu là 20 triệu USD. Nghị định thư cũng cho phép các doanh nghiệp của Nhật và các nước khác trong AJCEP được tiến hành kinh doanh dịch vụ kỹ sư.
Di chuyển thể nhân
Di chuyển thể nhân là việc di chuyển của công dân hoặc người cư trú của bất kỳ quốc gia thành viên nào trong AJCEP từ nước này sang nước khác để cung cấp một dịch vụ thương mại nào đó. Trong nghị định thư này, Việt Nam đã cho phép thời hạn lưu trú là 90 ngày đối với người bán hàng dịch vụ, doanh nhân chịu trách nhiệm xây dựng hiện diện thương mại tại Việt Nam, và các nhà cung ứng dịch vụ theo hợp đồng khác.
Nhân sự luân chuyển trong nội bộ công ty (cấp quản lý, điều hành và chuyên gia) của các công ty nước ngoài có hiện diện thương mại tại Việt Nam sẽ được cấp phép lưu trú với thời hạn ban đầu là 3 năm, và có thể được gia hạn thêm, tùy vào điều lệ hoạt động của các tổ chức này tại Việt Nam.
Về phía Nhật Bản, doanh nhân Việt Nam giờ đây có thể sử dụng visa đầu tư hoặc kinh doanh ngắn hạn hoặc lâu dài. Các chuyên gia trong một số lĩnh vực nhất định như pháp lý, kế toán, thuế và một số dịch vụ chất lượng khác có thể ở lại Nhật Bản tới 5 năm. Điều khoản này còn mở rộng cho đối tượng là vợ/chồng và con cái của họ.
Nghị định thư giúp ASEAN và Nhật Bản chia sẻ các nguồn lực lớn sẵn có, từ đó thúc đẩy các ngành dịch vụ và sản xuất của cả hai phía tăng trưởng thêm. Các doanh nghiệp xuất nhập khẩu của các nước thành viên cũng có thể khai thác nguồn tài nguyên chung rộng lớn hơn. Lấy ví dụ, họ có thể sử dụng nguyên liệu thô hoặc nguyên liệu trung gian từ bất kỳ quốc gia nào trong AJCEP để được hưởng ưu đãi thuế.
Thỏa thuận sửa đổi này cũng có lợi cho Nhật Bản, vì giúp các doanh nghiệp Nhật Bản, đặc biệt là trong ngành dịch vụ, thành lập công ty tại các nước khác nhau trong ASEAN một cách dễ dàng hơn, và di chuyển các bộ phận sản phẩm cũng như sản phẩm giữa các nước trong khối thuận lợi hơn, như thể đây là một chuỗi lắp ghép xuyên quốc gia.
Còn đối với Việt Nam, AJCEP đem lại thêm nhiều lợi ích vì xóa bỏ thuế quan ngay lập tức hoặc với lộ trình ngắn hạn đối với các sản phẩm và dịch vụ chưa có trong VJEPA.
Nguồn: Vietnam Briefing
Từ khóa: ý nghĩa, nghị định, thư sửa đổi, AJCEP, nhà đầu tư, Việt Nam
Các tin khác
- Xuất siêu lớn, mừng và lo - 19/08/2020
- Ứng phó các vụ kiện phòng vệ thương mại: Không để bị động trong mọi tình huống - 19/08/2020
- Liam Fox: Nhiều quốc gia phải giữ lấy thương mại tự do - 19/08/2020
- Gỡ cảnh báo 'thẻ vàng' IUU để phát triển nghề cá bền vững - 18/08/2020
- Thỏa thuận thương mại Mỹ-Trung là đường dây liên kết mạnh nhất của hai nước hiện nay - 18/08/2020






















