
Một trong những sáng kiến ra đời từ Hội nghị trực tuyến Thượng đỉnh Đặc biệt ASEAN ngày 14/4 là đề xuất về việc thành lập một Quỹ Phản ứng Covid-19 ASEAN. Sáng kiến này đã được các lãnh đạo ASEAN ủng hộ nhiệt liệt. Các nước ASEAN có thể sử dụng quỹ này để mua những vật dụng y tế trong trường hợp dịch bệnh bùng phát trong tương lai. Nhưng liệu chúng ta có biết nước nào đủ khả năng cung cấp thiết bị bảo hộ cá nhân (PPE) trong ASEAN?
Khi các nước thành viên ASEAN áp dụng những biện pháp để đối phó với đại dịch COVID-19, thương mại có thể đóng vai trò như một công cụ mạnh mẽ nhưng đon giản, để tăng cường khả năng tiếp cận PPE. Nhằm bảo vệ bản thân và các bệnh nhân khỏi việc bị lây nhiễm và lây nhiễm sang cộng đồng, các nhân viên y tế cần những sản phẩm PPE như găng tay, mũ trùm đầu, khẩu trang và tấm che mặt, kính bảo hộ và áo choàng. Ở đây, mặc dù các nước ASEAN có nhập khẩu một số sản phẩm PPE từ các quốc gia ngoài khu vực, nhưng hầu hết đều đánh thuế nhập khẩu các sản phẩm này rất cao.
Trong giai đoạn trước COVID-19, dữ liệu thương mại của Liên Hợp Quốc năm 2018 cho thấy các nước ASEAN không chỉ sản xuất các sản phẩm PPE để giao dịch trong khu vực, mà họ còn xuất khẩu sang những nước khác trên thế giới. Có ít nhất một quốc gia trong ASEAN góp mặt vào danh sách 5 nhà xuất khẩu hàng đầu thế giới đối với từng loại sản phẩm PPE trong năm 2018. Các nước này bao gồm Việt Nam với sản phẩm áo choàng, mũ trùm đầu, mặt nạ và găng tay; và Malaysia và Thái Lan đối với găng tay.
Trong năm 2018, tổng giá trị xuất khẩu toàn cầu của các sản phẩm PPE là 47,5 tỷ USD. Phần lớn các mặt hàng xuất khẩu bao gồm găng tay, khẩu trang và áo choàng. Và hơn 60% trong số này được cung cấp bởi 5 nhà xuất khẩu hàng đầu. Giá trị xuất khẩu găng tay toàn cầu được ghi nhận ở mức 15,6 tỷ USD, 76% trong số đó được cung cấp bởi Trung Quốc, Malaysia, Thái Lan, Việt Nam và Bỉ. Xuất khẩu khẩu trang toàn cầu (gồm khẩu trang vải và mặt nạ phòng hơi độc) đạt tổng cộng 13,6 tỷ USD, 63% trong số đó được cung cấp bởi Trung Quốc, Đức, Hoa Kỳ, Việt Nam và Mexico. Trung Quốc cũng là nước xuất khẩu hàng đầu toàn cầu đối với các sản phẩm PPE khác.
Tổng giá trị xuất khẩu các sản phẩm PPE của ASEAN là 8,5 tỷ USD, chiếm 18% xuất khẩu toàn cầu trong năm 2018. 80%, trong số đó là găng tay và áo choàng (chiếm 13% toàn cầu). Nhà xuất khẩu lớn nhất các sản phẩm PPE là Malaysia (4,6 tỷ USD), tiếp theo là Việt Nam (1,7 tỷ USD) và Thái Lan (1,4 tỷ USD).
Trong khi đó, các nước ASEAN cũng nhập khẩu các sản phẩm PPE với tổng giá trị khoảng 1 tỷ USD. Phần lớn trong số đó là găng tay, áo choàng và mặt nạ phòng độc. Nhà nhập khẩu lớn nhất các sản phẩm PPE là Việt Nam (256 triệu USD), tiếp theo là Indonesia (167 triệu USD) và Malaysia (160 triệu USD).
Tuy nhiên, không phải quốc gia ASEAN nào cũng sản xuất tất cả các sản phẩm PPE cần thiết cho nhân viên y tế để đối phó với COVID-19. Thái Lan và Việt Nam là các nhà xuất khẩu ròng (giá trị xuất khẩu trừ đi giá trị nhập khẩu) đối với găng tay, kính bảo hộ, áo choàng và mũ trùm đầu, nhưng lại là nhà nhập khẩu ròng khẩu trang. Campuchia và Indonesia là các nhà xuất khẩu ròng của găng tay, áo choàng và mũ trùm đầu, nhưng lại là nhà nhập khẩu ròng của kính bảo hộ và khẩu trang. Malaysia là nước nhập khẩu ròng của găng tay và kính bảo hộ, nhưng lại là nhà xuất khẩu ròng áo choàng và mũ trùm đầu.
Các nước ASEAN khác đạt xuất khẩu ròng nhỏ đối với một sản phẩm PPE như Brunei với kính bảo hộ, Lào với áo choàng, Philippine với mũ trùm đầu và Singapore với mặt nạ.
Một quốc gia riêng lẻ không thể sản xuất tất cả các loại sản phẩm PPE và do đó, họ phải phụ thuộc vào nguồn cung ứng từ trong và ngoài khu vực. Ví dụ, tổng nhập khẩu khẩu trang tại ASEAN đạt 104 triệu USD trong năm 2018, 91% trong số đó có nguồn gốc từ các nước không thuộc ASEAN. Các nhà cung cấp khẩu trang chủ chốt ngoài ASEAN bao gồm Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Liên minh châu Âu, Đài Loan và Mỹ. Các nhà cung cấp khẩu trang chủ chốt trong ASEAN bao gồm Malaysia, Singapore, Thái Lan và Việt Nam.
Tuy nhiên, trong giai đoạn COVID-19 hiện nay, việc tìm nguồn cung ứng sản phẩm PPE từ nước ngoài ngày càng trở nên khó khăn đối với các nước ASEAN. Một số nước ASEAN có thể tự sản xuất PPE vẫn phải đối mặt với tình trạng thiếu hụt do các biện pháp ngăn chặn virus lây lan không cho phép công nhân làm việc tại các nhà máy sản xuất những sản phẩm này.
Các chỉ thị làm việc tại nhà được thực hiện rộng rãi dựa theo những biện pháp kiểm soát COVID-19. Điều này đồng nghĩa với việc rất nhiều công việc dịch vụ có thể được thực hiện từ xa, nhưng hầu hết công việc sản xuất hàng hóa như PPE đòi hỏi sự tập trung nhân sự tại xưởng, đi ngược với yêu cầu giãn cách xã hội. Do đó, các biện pháp này đã làm giảm nguồn nhân lực sản xuất và từ đó làm giảm sản lượng đầu ra của PPE.
Hơn nữa, việc nhập khẩu các sản phẩm PPE từ các đối tác thương mại không ký kết thỏa thuận tự do thương mại (FTA) với ASEAN sẽ phải đối mặt với rào cản thuế quan cao. Dữ liệu từ công cụ tìm kiếm thuế quan ASEAN cho thấy hầu hết các nước ASEAN đánh thuế rất nặng việc nhập khẩu các sản phẩm PPE từ các đối tác không ký kết FTA. 7 trong số 10 quốc gia ASEAN đánh thuế dựa theo mức thuế suất tối huệ quốc (MFN) trung bình từ 9% trở lên đối với các sản phẩm PPE. Những nước này bao gồm Thái Lan (17,1%), Việt Nam (15,3%), Myanmar (13,1%), Campuchia (12,3%), Indonesia (11,4%), Philippines (11,4%) và Lào (9,6%). Brunei và Malaysia đánh thuế nhập khẩu đối với các sản phẩm PPE dưới 3%, trong khi Singapore đã xóa bỏ mọi thuế quan đối với các sản phẩm này.
Nhìn chung, các nước ASEAN có thể xuất khẩu một hoặc nhiều các sản phẩm PPE, nhưng không nước nào có thể sản xuất tất cả các sản phẩm PPE cần thiết để nhân viên y tế đối phó với cuộc khủng hoảng COVID-19. Họ đã tìm nguồn cung PPE từ lẫn nhau, từ Trung Quốc, Mỹ và các nước châu Âu. Tuy nhiên, hàng nhập khẩu từ Mỹ và Liên minh châu Âu phải chịu mức thuế cao. Thuế quan cao hơn làm tăng giá thành của các sản phẩm PPE nhập khẩu, dẫn đến ngân sách công dành cho việc can thiệp chăm sóc sức khỏe trở nên cao hơn.
Nhìn chung, việc loại bỏ thuế quan đối với các sản phẩm PPE nhập khẩu từ những đối tác không ký kết FTA có thể giảm chi phí can thiệp chăm sóc sức khỏe và cải thiện khả năng tiếp cận các sản phẩm PPE trong ASEAN.
Nguồn: The Jakarta Post
Từ khóa: ASEAN, hội nhập kinh tế, khủng hoảng y tế, COVID-19
Các tin khác
- Mỹ, Nhật Bản dịch chuyển dòng vốn đầu tư - 11/05/2020
- Gói kích thích tài chính - 'liều thuốc' cho ASEAN thời dịch Covid-19? - 08/05/2020
- Cân đo hiệu quả các liệu pháp giảm sốc kinh tế - 08/05/2020
- Bắt kịp xu hướng mới để phục hồi - 08/05/2020
- Hậu Covid-19: Thế giới sẽ không bao giờ trở lại như trước - 08/05/2020






















