
Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) cũng như các văn kiện thỏa thuận thành lập tổ chức và quản trị quan hệ thương mại giữa các Thành viên đã được nhắc đến một cách đáng chú ý – và kì lạ – trong thời gian diễn ra các cuộc đàm phán của Brexit.
Đối với một số người, nếu như phần còn lại của thế giới vẫn hoạt động tốt với sự có mặt của WTO cùng các loại hiệp định khu vực hoặc tự do thương mại thì Anh Quốc không nhất thiết phải ràng buộc chính sách thương mại của mình – ít nhất – là với Liên minh châu Âu (EU). Đối với những người khác, WTO đại diện cho một sự thất bại – sau quá hội nhập kinh tế sâu rộng vào một thị trường rộng lớn, luật lệ của WTO chỉ đóng vai trò như một cơ sở, và hầu như chẳng đưa ra bất kì bảo vệ nào dành cho các lợi ích kinh doanh và thương mại ở Anh Quốc. Thậm chí còn có một số đề nghị ngắn – và hài hước – ít nhất dành cho một vài người đã tham gia cuộc chơi này đủ lâu, rằng 1) hậu Brexit, Anh Quốc sẽ phải đăng kí gia nhập vào WTO, hoặc, ở một thái cực khác, 2) sau khi giành lại “chủ quyền” của mình trong các vấn đề liên quan đến chính sách thương mại, Anh Quốc bằng cách nào đó sẽ dẫn dắt các Thành viên còn lại trong WTO giải quyết các vấn đề khó nhằn (Cơ quan Phúc phẩm, các cuộc đàm phán) đã tồn đọng trong hơn 20 năm qua.
Đâu mới là tác động thực sự của Brexit lên Vương quốc Anh và WTO?
Cũng như nhiều điều khác trong cuộc sống, cùng với luật pháp, thương mại, và quan hệ thương mại – nhưng có lẽ ngoại trừ lý thuyết kinh tế học – câu trả lời đó là một từ thẳng thắn và mập mờ “tùy”.
Trong bài viết này, tôi sẽ cố gắng giải thích về WTO và thảo luận về mối liên hệ của nó với Anh Quốc hậu Brexit, đặc biệt là trong lĩnh vực thực phẩm và đồ uống. Như một tổ chức quốc tế có nguồn gốc từ thời kì tái thiết toàn cầu sau Thế chiến thứ 2 và được thành lập với một hiệp ước dài 560 trang sau khoảng 7 năm thực hiện các cuộc đàm phán đa phương, bài viết này sẽ trình bày ngắn gọn như một bản phác thảo thu nhỏ; và sẽ không tránh khỏi việc đơn giản hóa một cách đáng kể. Bài viết này cũng sẽ không đưa ra một phân tích pháp lí toàn diện và chính xác về các luật lệ của WTO. Tôi hy vọng rằng có thể cung cấp đủ ngữ cảnh và bối cảnh để làm rõ chủ đề phức tạp này và mang lại cho người đọc một cái nhìn đầy đủ hơn ít nhất là về những nét chính và kết cấu của vai trò nổi bật và quan trọng của WTO trong quan hệ kinh tế và thương mại của Anh Quốc hậu Brexit.
I. WTO là gì?
1. Một hệ thống luật lệ
WTO là một tổ chức quốc tế được thành lập bởi một hiệp ước đa phương có hiệu lực từ ngày 1/1/1995. Hiệp ước này, thường được biết đến như Hiệp định WTO, tạo ra một hệ thống toàn diện về quyền và nghĩa vụ giúp quản lí phạm vi ảnh hưởng lên thương mại của tất cả hàng hóa, một vài ngành dịch vụ, và một số đầu tư nhất định của một Thành viên. Nó đặt ra các quy tắc quản lí, trong số đó có thuế quan, thủ tục hải quan, các biện pháp y tế và an toàn, các quy định kỹ thuật (bao gồm dán nhãn), trợ cấp, và các biện pháp đối phó với thương mại, dịch vụ gian lận và quyền sở hữu trí tuệ.
Các nghĩa vụ căn bản nhất của một Thành viên trong WTO liên quan đến việc không phân biệt đối xử: giữa các Thành viên (tối huệ quốc, hay còn là MFN) và giữa các hàng hóa hoặc dịch vụ trong nước và nhập khẩu (nguyên tắc đối xử quốc gia). Các quyền cơ bản bao gồm việc duy trì mức thuế quan đã đàm phán; chỉ tự do hóa các lĩnh vực dịch vụ mà Thành viên mong muốn đưa ra cam kết; và thực hiện các biện pháp bảo vệ trật tự công cộng, sức khỏe, và môi trường; và thực hiện các biện pháp được cho là cần thiết để bảo mật.
Đáng chú ý, vì mỗi Thành viên của WTO vẫn có quyền duy trì thuế quan được đàm phán đa phương, và Hiệp định WTO không phải là một “thỏa thuận tự do thương mại”. Đồng thời, Hiệp định WTO không quy định nó sẽ có “hiệu lực trực tiếp” đối với các Thành viên: các Thành viên sẽ tự quyết định liệu nó có muốn thực hiện nghĩa vụ của mình theo Hiệp định hay không.
2. Một tổ chức đa phương
WTO không nằm trong hệ thống các tổ chức quốc tế của Liên Hiệp Quốc. Các Thành viên của WTO xem nó như một tổ chức “được dẫn dắt bởi các Thành viên” vì, so với một vài tổ chức khác, nó không xây dựng những chính sách và đề xuất tách biệt với các Thành viên. Quan trọng là mọi quyết định liên quan đến hoạt động của tổ chức – chẳng hạn như, chủ đề nào nên được đưa vào đàm phán – đều được thực hiện dựa trên “sự đồng lòng”.
Cuộc khủng hoảng gần đây về cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO đã tràn ngập trên các tiêu đề – ít nhất là với một số tiêu đề nhất định. Ở đoạn trước, tôi đã đề cập đến các cuộc đàm phán. Có lẽ sẽ có ích nếu như bài viết nói về cả 3 chức năng của tổ chức này:
Đầu tiên, chức năng chính của WTO đó là trở thành một diễn đàn dành cho đàm phán đa phương về các quy tắc toàn cầu điều chỉnh quan hệ thương mại giữa các Thành viên. Dựa trên các cuộc đàm phán thành công từ tiền thân của nó, Hiệp ước chung về thuế quan và mậu dịch (GATT), WTO dự định cung cấp một cơ chế và một diễn đàn cho các cuộc đàm phán tự do hóa tiến bộ đa phương, bao gồm thông qua đàm phán các luật lệ mới để đáp ứng nhu cầu đang tăng. Với mục tiêu này, WTO đã có một mạng lưới ủy ban mạnh mẽ bao gồm các nhà ngoại giao đến từ các Thành viên am hiểu về lĩnh vực mà các Thành viên quan tâm.
Thứ hai, WTO có một “cơ chế kiểm tra chính sách thương mại”. Mỗi Thành viên của WTO sẽ trải qua một cuộc kiểm tra toàn diện định kỳ về các công cụ chính sách thương mại của nó. Việc này cho phép các Thành viên khác phát biểu những lo ngại mà họ đang có về các biện pháp thương mại; đồng thời cho phép Thành viên đang trong quá trình kiểm tra thực hiện một cuộc đối thoại đa phương về các lĩnh vực nó đang quan tâm và cách thức tốt nhất để thực hiện các nghĩa vụ đa phương của nó.
Cuối cùng, rất nhiều con đường và cấu trúc để giải quyết tranh chấp thương mại được đưa ra dưới danh nghĩa Hiệp định WTO. Đáng chú ý – và đang được đề cập trong các tin tức – là cơ chế giải quyết tranh chấp chính thức của WTO; vào năm 1995, điều này đòi hỏi những đổi mới quan trọng như
- tự động thành lập các hội đồng xét xử có thẩm quyền bắt buộc;
- phúc thẩm xét xử.
II. Anh quốc, EU, và WTO
1. Vấn đề rất phức tạp
Hiện tại, Ủy ban châu Âu đang có thẩm quyền độc quyền đối với Chính sách thương mại chung. Điều này đồng nghĩa với việc:
- Ở WTO, EU là một Thành viên và có quyền và nghĩa vụ riêng thay mặt cho 27 Nước thành viên (sau Brexit)
- Mỗi Nước thành viên trong EU vẫn là một Thành viên của WTO nhưng hầu như không can thiệp trực tiếp vào hầu hết các cuộc thảo luận của WTO
- Đóng góp ngân sách vào WTO được thực hiện bởi từng Nước thành viên trong WTO
Và vì thế, Anh Quốc đã là một Thành viên của WTO. Trên thực tế, Anh Quốc đóng góp tài chính cho WTO và có quyền có mặt trong Ủy ban Ngân sách của WTO. Cuối cùng, Anh Quốc cũng tham gia vào các tổ chức phụ trợ như Trung tâm Tư vấn về Luật của WTO, một trung tâm “hỗ trợ pháp lí” liên chính phủ cho các nước đang phát triển.
2. Tiếp nối Brexit sẽ là …
Sẽ bớt phức tạp hơn vì Anh Quốc sẽ có tiếng nói riêng của mình với tư cách là Thành viên của WTO. Anh Quốc sẽ có thể tự đàm phán cho chính nó trong bất kì cuộc đàm phán đa phương nào, và sẽ không bị trói buộc bởi nhiều mối quan tâm phức tạp từ các Nước thành viên khác.
Những nó cũng sẽ … phức tạp hơn vì Anh Quốc cần phải đưa ra một chính sách thương mại độc lập. Ngay cả khi đưa luật lệ của WTO vào luật quốc gia, Anh Quốc cũng cần phải củng cố chuyên môn về luật lệ thương mại trong cả chính phủ. Trong trường hợp phải giải quyết tranh chấp với một Thành viên khác trong WTO, Anh Quốc phải tự bảo vệ chính mình và, trong trường hợp thất bại, phải đưa ra các biện pháp cần tuân thủ.
III. Anh quốc hậu Brexit hội nhập vào thế giới
1. WTO là một cơ sở hội nhập
Tôi đã đề cập đến tính toàn diện và tính phức tạp trong Hiệp định WTO. Đồng thời, tôi cũng lưu ý Hiệp định WTO không yêu cầu xóa bỏ mọi rào cản bảo hộ đối với thương mại: thuế quan được đàm phán và các biện pháp hạn chế đối với những dịch vụ không phụ thuộc vào cam kết vẫn là một phần trong hộp công cụ chính sách thương mại của tất cả các Thành viên WTO. Trong trường hợp này, quy tắc tiếp cận thị trường chủ chốt của WTO được miêu tả chính xác nhất như một “bộ bắt đầu hội nhập kinh tế”. Tất cả các nền kinh tế tiến bộ đã thực hiện hội nhập kinh tế hoặc ký kết thỏa thuận tự do hóa thương mại theo cách này hoặc cách khác với, ít nhất là, đối tác thương mại lớn nhất của họ.
Để chắc chắn, trong một loạt các chủ đề – chẳng hạn như, các biện pháp sức khỏe và an toàn, các rào cản công nghệ đối với thương mại, biện pháp khắc phục, trợ cấp, dịch vụ, và sở hữu trí tuệ – Hiệp định WTO đã đặt ra các luật lệ khá chi tiết liên quan đến hoặc phụ thuộc nặng nề vào các thỏa thuận tự do hóa thương mại. Tuy nhiên – những luật lệ cơ sở này – đặc biệt là trong lĩnh vực thực phẩm và y tế – không phải là sự thay thế hiệu quả cho hội nhập kinh tế.
2. Tái hội nhập hậu Brexit
Trong một nền kinh tế hiện đại đã phát triển, hội nhập kinh tế không còn giới hạn ở thuế quan và các biện pháp bảo hộ có thể nhìn thấy khác. Thay vào đó, hội nhập kinh tế sẽ nói về tiêu chuẩn, quy định, các biện pháp môi trường và sức khỏe, yêu cầu đối với dịch vụ, quyền sở hữu trí tuệ, và những thứ tương tự. Trong phạm vi mà Anh Quốc muốn cắt giảm chi phí vận hành doanh nghiệp cho các nhà xuất khẩu của nó – và nhờ đó giữ vững tính cạnh tranh trên thị trường quốc tế – nước này buộc phải tham gia các thỏa thuận vượt ra ngoài các điều khoản tiếp cận cơ sở được quy định bởi WTO.
Vì thế, WTO nên được xem như một bàn đạp thay vì là một điểm đến.
Tác giả: King & Spalding
Nguồn: Jdsupra
Từ khóa: WTO, Brexit, hội nhập kinh tế, hiệp định tự do thương mại
Các tin khác
- Đón cơ hội từ EVFTA: Thách thức nguồn nhân lực - 17/02/2020
- EVFTA: Quả ngọt không dễ hái - 17/02/2020
- Hoàn thiện chuỗi giá trị từ cú hích EVFTA - 17/02/2020
- Tổng thống Trump mở một mặt trận mới trong cuộc chiến thương mại - 17/02/2020
- Tổng thống Trump khiến EU tức giận khi tiến hành áp thuế - 17/02/2020






















