
Trong tháng 12, nước Mỹ đã xuất sắc chốt được hai thỏa thuận thương mại – một là thỏa thuận thay thế cho NAFTA, và hai là thỏa thuận sơ bộ với Trung Quốc, mà theo ngôn ngữ báo chí là “Thỏa thuận giai đoạn 1”. Cả hai hiệp định trên đều gây ra phản ứng bất mãn. Không một hiệp định nào đạt được tham vọng ban đầu của Nhà Trắng hay mong muốn của Quốc Hội Mỹ. Tuy nhiên, cả hai hiệp định đều có ích cho nền kinh tế vì giúp xua tan bầu không khí bất định đã ngăn cản quá trình mở rộng kinh doanh của doanh nghiệp từ đó đến nay. Có lẽ giờ đây, kinh tế toàn cầu có thể lấy lại một chút sức sống của những năm 2017-2018.
Hiệp định Mỹ-Mexico-Canada (USMCA) dùng để thay thế cho NAFTA khó có thể là một hiệp định đột phá. Vì khoảng 90% nội dụng của nó là giống hệt NAFTA. Các điều khoản mới mặc dù làm lợi cho Mỹ, tuy nhiên, mức độ không đáng kể. Nông dân bơ sữa của Mỹ sẽ được tiếp cận thêm đôi chút thị trường bơ sữa của Canada. Các công ty công nghệ thì sẽ được bảo vệ bản quyền, còn các nhà bán lẻ trên mạng, loại hình doanh nghiệp phổ biến tại Mỹ, sẽ có thêm nhiều mặc hàng được miễn thuế. Các công ty dược phẩm đã không thể có được sự bảo hộ độc quyền 10 năm như họ mong muốn, tuy nhiên, thời gian độc quyền cũng không bị giảm đi so với trong NAFTA. Các doanh nghiệp sản xuất ô tô đặt tại Mỹ sẽ hưởng lợi theo hai cách: hàm lượng nội địa để được miễn thuế nhập khẩu tăng từ 62.5% lên 75%; và ô tô phải có từ 40-45% hàm lượng được sản xuất bởi lao động có mức lương hơn 16 USD/giờ. Nhìn chung, USMCA đã buộc Mexico phải cam kết cải cách luật lao động, cho phép người lao động được tự do hơn trong việc thành lập nghiệp đoàn và khởi kiện hành vi bốc lột sức lao động. Nếu Mexico thực hiện đúng cam kết, mức lương ở nước này sẽ tăng lên, từ đó xóa bỏ đi lợi thế cạnh tranh của Mexico vốn được dùng để thu hút các doanh nghiệp Mỹ và Canada đặt nhà máy tại đây.
Các điều khoản mới đã gây thất vọng cho không ít người. Các doanh nghiệp phản đối điều khoản về ô tô, cho rằng nó sẽ làm tăng thêm chi phí lao động cho nhà sản xuất. Chắc chắn là, phải có ai đó đứng ra để chi trả cho mức lương tăng thêm này, hoặc là người tiêu dùng (thông qua giá bán tăng), hoặc là doanh nghiệp (thông qua lợi nhuận giảm), hoặc cả hai, nhưng tác động cũng sẽ không đáng kể. Mặc khác, lao động có tổ chức, mặc dù ủng hộ thỏa thuận, cũng đã nói rõ là họ mong muốn các điều khoản chặt chẽ hơn, đặc biệt là về vấn đề lao động Mexico. Đảng viên Đảng Dân chủ đã thúc đẩy một điều khoản về việc cử thanh tra lao động của Mỹ đến Mexico. Và Mexico, vì lý do chủ quyền, tất nhiên phản đối điều khoản trên và cam kết sẽ cải cách lao động như một biện pháp thay thế. Các điều khoản còn lại ghi nhận chiến thắng cho ngành dược nhưng lại là thất bại cho ngành công nghệ. Nói cách khác, thỏa thuận USMCA là một ví dụ điển hình cho sự thỏa hiệp cổ điển. Người thắng được một ít mà người thua mất một ít. Không ai có thể thành thực tuyên bố rằng mình có thêm một miếng bánh lớn.
Thỏa thuận với Trung Quốc thậm chí còn đạt được kỳ vọng thấp hơn nhiều so với ban đầu, tuy nhiên, đây chỉ là một khởi điểm. Phía Mỹ cam kết sẽ hủy bỏ đợt đánh thuế 156 tỷ USD dự kiến áp lên hàng hóa Trung Quốc trong tháng này, và giảm mức thuế đã áp lên 120 tỷ hàng hóa vào tháng 9 từ mức 15% xuống còn 7.5%. Mỹ vẫn giữ lại gói đánh thuế 25% lên 250 tỷ USD hàng hóa, dùng đó làm “đòn bẩy” để đàm phán giai đoạn 2.
Các nhượng bộ từ Trung Quốc phần lớn dưới dạng cam kết. Bắc Kinh hứa sẽ dỡ bỏ hạn chế cho các định chế tài chính Mỹ. Nếu được thực hiện, cam kết này sẽ cho phép các ngân hàng Mỹ và các công ty bảo hiểm của Mỹ được mở các chi nhánh của mình tại thị trường Trung Quốc. Mặc dù thỏa thuận lần này không đề cập đến vấn đề an ninh mạng hay vụ việc của công ty viễn thông Huawei, Trung Quốc đã hứa sẽ dừng yêu cầu công ty Mỹ hoạt động ở Trung Quốc phải liên doanh với đối tác Trung Quốc và chuyển giao công nghệ. Bắc Kinh cũng hứa sẽ bảo vệ bản quyền bằng việc nhấn mạnh rằng các công ty Trung Quốc thông báo người nắm giữ bản quyền Mỹ nếu có thể có sự vi phạm. Có lẽ quan trọng nhất đó là, từ nay, các công ty Mỹ có thể khiến kiện qua Đại diện Thương mại Mỹ. Trong quá khứ, công ty Mỹ phải khiếu kiện thông qua chính quyền Trung Quốc, và đôi khi hành động này sẽ hứng chịu sự trả đũa.
Bắc Kinh cũng cam kết sẽ mua thêm khoảng 200 tỷ USD hàng hóa Mỹ, bao gồm nông sản, năng lượng, hàng hóa chế tạo và dịch vụ, trong hai năm tới. Con số này sẽ gấp đôi số liệu trong quá khứ. Mặc dù đây là thay đổi lớn, nhưng cam kết này cũng dễ thực hiện nếu Trung Quốc chuyển hướng sang mua khí ga tự nhiên – loại năng lượng mà Mỹ dư thừa. Mua thêm nông sản cũng sẽ là nhiệm vụ dễ dàng. Trước khi có thỏa thuận này, Trung Quốc vào năm ngoái đã tăng mua đậu nành của Mỹ gấp 6 lần. Dịch tả lợn châu Phi đã làm chết phần lớn đàn lợn của Trung Quốc, buộc lòng nước này phải nhập thêm thịt lợn từ Mỹ, bất kể có thỏa thuận hay không. Để thực hiện cam kết mua nông sản Mỹ lâu dài, Trung Quốc cũng đã bắt đầu loại bỏ dần một số điều kiện kỹ thuật “an toàn thực phẩm”, chủ yếu là đối với các sản phẩm biến đổi gen.
Chắc chắn là, bầu không khi bất ổn vẫn chưa thể nào biến mất. Vẫn còn đó những nghi ngại về việc thực thi cả hai thỏa thuận trên. Với riêng đối với hiệp định USMCA, nhiều người lo ngại liệu Mexico sẽ thực hiện các cải cách lao động tới mức độ nào. Còn với thỏa thuận với Trung Quốc, sự nghi ngờ còn lớn hơn do các hành vi trong quá khứ của nước này. Trước đây Bắc Kinh đã từng hứa hẹn và luôn thất hứa. Còn lần này, có lý do để lạc quan rằng Trung Quốc sẽ từ bỏ thói lật lọng của mình. Bắc Kinh nhận thức rõ rằng không giống trước đây, Nhà Trắng giờ đang đàm phán quyết liệt hơn và đã cho thấy sự sẵn lòng áp thuế trừng phạt. Lãnh đạo Trung Quốc cũng biết rõ rằng chính quyền Mỹ sẽ tái áp thuế nếu Bắc Kinh thất hứa, vì Mỹ đã thường xuyên làm việc này trong quá khứ.
Ngay cả khi còn nhiều dấu hỏi lớn, hai hiệp định trên, mặc dù còn chưa hoàn hảo, đã giúp xóa bỏ phần nào bầu không khí bất định phủ bóng lên môi trường kinh doanh từ đó đến nay. Có hai lĩnh vực phản ánh chính xác nhất tâm lý kinh doanh: việc làm và chi tiêu vốn. Số liệu tháng 11 về tăng trưởng việc làm trông rất khả quan sau kết quả ảm đạm hồi mùa hè và đầu mùa thu. Có lẽ các nhà quản lý đã có tiên lượng rằng các thỏa thuận trên đã rất gần. Dữ liệu về chi tiêu vốn, đặc biệt là các đơn hàng mua mới máy móc thiết bị, đã hồi phục đôi chút trong tháng 10 sau sự suy yếu suốt mùa hè. Mức tăng gần đây trong tín dụng ngân hàng cho doanh nghiệp có lẽ là một phản ứng lại trước các thỏa thuận và báo hiệu kế hoạch chi tiêu mở rộng. Tháng 9 chứng kiến một lượng lớn trái phiếu doanh nghiệp được phát hành. Nhu cầu vốn cao có khả năng là do sự sụt giảm của lợi tức trái phiếu diễn ra suốt mùa hè qua, nhưng đồng thời cũng nói lên rằng doanh nghiệp giờ đây đã có nguồn để hỗ trợ cho hoạt động mở rộng nếu được thúc đẩy thêm bởi sự ổn định mà các hiệp định trên đem lại.
Các chỉ số kinh tế trong những tháng đầu năm tới sẽ nói lên tất cả. Nếu sự ổn định mà các hiệp định trên mang lại tiếp tục duy trì, sẽ có lý do để kỳ vọng rằng tổng thể kinh tế sẽ hồi phục lên mức 3% như đã từng trong năm 2017 và 2018. Sự kiện đáng mong đợi đó vẫn chưa có gì chắc chắn, những sẽ được tiếp thêm động lực nhờ vào các hiệp định này.
Nguồn: Forbes
Từ khóa: hai, thỏa thuận thương mại, Mỹ, đạt, kỳ vọng, giúp ích, kinh tế
Các tin khác
- WTO: Nguy cơ sụp đổ hay cơ hội cải cách? - 20/12/2019
- Gian lận xuất xứ - nguy cơ cản trở xuất khẩu của Việt Nam - 20/12/2019
- Giới chức Mỹ ca ngợi thỏa thuận đạt được với Trung Quốc bất chấp cái giá phải trả - 19/12/2019
- Tìm biện pháp thực thi hiệu quả Hiệp định thương mại tự do EAEU – Việt Nam - 19/12/2019
- Mỹ vô hiệu cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO, nhưng lại tăng cường một cơ chế khác tại USMCA - 19/12/2019






















