
Nếu các chính phủ giữ nguyên các chính sách thương mại trong 3 năm qua, thế giới có lẽ đã tốt hơn nhiều so với bây giờ. Ngày nay, các nhà làm chính sách có thể khiến quá trình hội nhập đi thụt lùi, còn thua cả thời hậu thế chiến thứ hai – khi tiến trình hội nhập lúc bấy giờ chỉ đơn giản là đàm phán loại trừ thuế quan cho nhau.
Tác giả: Jeffrey Frankel – giáo sư đại học Harvard; từng là thành viên ban cố vấn kinh tế của cựu tổng thống Mỹ Bill Clinton.
Người ta từng nói, chính sách thương mại quốc tế vận hành theo “nguyên lý xe đạp”. Một khi đã lên xe, chúng ta không thể chỉ đứng im – phải tiếp tục di chuyển về phía trước hoặc nếu không sẽ bị ngã. Tương tự, các vòng đàm phán thương mại tự do cũng phải được diễn ra liên tục, bằng không, tiến trình mở cửa thương mại toàn cầu sẽ dần dần bị lật đổ bởi tư tưởng bảo hộ.
Tôi không rõ liệu lý thuyết trên có đúng hay không. Còn trên thực tế, nếu chính phủ các nước không đả động gì đến chính sách thương mại trong ba năm qua, thế giới có lẽ đã tốt hơn nhiều so với hiện giờ. Thương mại đang chệnh choạng – khối lượng thương mại toàn cầu đã sụt giảm mạnh 1.1% trong 12 tháng qua – khi các vị lãnh đạo “vớ vẩn” của các nước lớn đang đấu đá lẫn nhau.
Nhưng cho dù các lãnh đạo mới và có năng lực hơn lên thay, họ chưa chắc có thể làm tình hình tốt hơn so với việc quay trở lại với công thức đàm phán xóa bỏ thuế quan cho nhau như thời kỳ sau thế chiến thứ hai. Suy cho cùng, có một sự thật rành rành là quá trình “hội nhập nông” (shallow integration) – tức xóa bỏ các rào cản thương mại dễ nhận thấy như thuế quan và hạn ngạch – phần lớn đã được hoàn tất, còn quá trình tiếp theo là “hội nhập sâu”, tức là thống nhất các quy tắc chung để điều tiết môi trường kinh doanh, thì cho đến nay vẫn còn khá mơ hồ, mặc dù các lợi ích tiềm năng là to lớn.
Một ví dụ điển hình của tiến trình hội nhập sâu đó chính là quyết định của các nước thành viên trong thị trường chung châu Âu về việc thành lập liên minh châu Âu hội nhập toàn diện và thậm chí là sử dụng một đồng tiền chung, vượt xa khỏi phạm vi mở cửa thương mại thông thường. Tuy nhiên, mục tiêu đó rõ ràng là quá tầm với về mặt chính trị, ít nhất là đối với nước Anh đang bị Brexit đeo bám như hiện nay.
Một ví dụ gần đây về nỗ lực hội nhập sâu đó chính là việc chính quyền Mỹ yêu cầu Trung Quốc chấm dứt việc ép buộc doanh nghiệp Mỹ phải chia sẻ công nghệ độc quyền như là điều kiện để tiếp cận thị trường nước này.
Nhiều chuyên gia kinh tế Mỹ ủng hộ đòi hỏi trên của Mỹ, nhưng họ đều cho rằng Tổng thống Trump đã làm sai cách. Chiến lược đúng đắn cho Mỹ đó là chung phe với các nước lớn khác để gây áp lực lên Trung Quốc, tốt hơn là thông qua các tổ chức đa phương như WTO. Vì các hãng ô tô của Đức cũng gặp phải vấn đề tương tự tại thị trường Trung Quốc giống như các công ty Mỹ.
Tuy nhiên, ngay cả khi vị tổng thống tương lai của Hoa Kỳ áp dụng một cách tiếp cận tốt hơn, vị ấy cũng sẽ không thành công trong việc giải quyết vấn đề trên. Vì một lý do là, quản lý việc chuyển giao công nghệ là vấn đề khó. Trên thực tế, không có chứng cớ rõ ràng cho thấy các công ty Trung Quốc yêu cầu chuyển giao công nghệ, chưa kể là chính phủ Trung Quốc. Mà thông thường, chính các doanh nghiệp nước ngoài mới là người tự nguyện chia sẻ công nghệ, với mong muốn thu hút các công ty địa phương thành lập liên doanh với mình. Làm thế nào mà chính phủ một nước có thể quản lý một việc làm tinh vi như vậy?
Câu trả lời là, chính phủ Trung Quốc có thể bãi bỏ quy định yêu cầu các công ty nước ngoài phải thành lập liên doanh với công ty trong nước khi muốn kinh doanh tại Trung Quốc. Trên thực tế, chính quyền nước này gần đây đã tiến hành một số bước theo hướng trên trong lĩnh vực ô tô và tài chính.
Tuy nhiên, biện pháp đơn giản hơn đó là Trung Quốc nên xóa bỏ mức thuế nhập khẩu ô tô đã tồn tại từ lâu, để các hãng ô tô của Mỹ và Đức có thể xuất khẩu trực tiếp vào thị trường Trung Quốc mà không phải đặt nhà máy tại đây. Đây không chỉ là một giải pháp đơn giản mà còn đem lại lợi ích trực tiếp cho người lao động ở Mỹ và Đức.
Vì vậy, chúng ta nên quay trở lại với cách làm cũ nhưng hiệu quả - đó là xóa bỏ thuế quan. Mỹ nên loại bỏ toàn bộ thuế quan đã áp trong vài năm qua lên máy giặt, tấm pin năng lượng mặt trời, nhôm thép, ô tô và vô số các sản phẩm khác. Đổi lại, Trung Quốc dĩ nhiên cũng nên rút lại các biện pháp trả đũa, chẳng hạn như các mức thuế áp trên đậu nành, thịt heo và các mặt hàng nông sản khác của Mỹ.
Đưa mọi thứ trở về thời điểm tháng 1 năm 2017 sẽ là một cải tiến lớn. Tuy nhiên, mọi thứ không nên chỉ dừng lại ở đó. Quan niệm truyền thống trước đây luôn đánh giá quá cao mức độ của hội nhập nông. Chính phủ các nước nên đẩy nhanh quá trình mở cửa thương mại ở càng nhiều lĩnh vực càng tốt. Một lĩnh vực đặc biệt thích hợp để tự do hóa đó chính là tấm năng lượng mặt trời, tua-bin và các sản phẩm đầu khác vào để sản xuất năng lượng tái tạo. Trớ trêu là, những nước tỏ ra rất quan tâm tới môi trường lại duy trì các rào cản thương mại đối với các sản phẩm trên, dẫn đến làm tăng chi phí bảo vệ môi trường. EU, Trung Quốc và Mỹ là những thủ phạm lớn nhất.
Một chính sách nguy hại của Trump cần được đảo ngược đó là việc làm dụng lý do an ninh quốc gia để áp dụng các biện pháp bảo hộ thương mại. Trước đây, hệ thống thương mại quốc tế cho phép chính phủ mỗi nước được viện dẫn ngoại lệ này nếu nước đó cảm thấy phù hợp. Hầu hết các nước đều áp dụng điều khoản này một cách thận trọng, vì biết rằng lạm dụng nó sẽ khuyến khích các nước khác hành xử tương tự. Nhưng dưới thời của ông Trump, bất kỳ khu vực kinh tế nào, từ ô tô đến bơ đậu phộng, đều quan trọng đến an ninh quốc gia như nhau. Các cuộc đàm phán quốc tế mới nên xác định rõ đâu mới là lĩnh vực có ảnh hưởng đến an ninh quốc gia.
Không một giải pháp nào ở trên có thể giải quyết được vấn đề: thương mại vừa tạo ra người thắng vừa tạo ra kẻ thua – điều làm nên chiến thắng của Tổng thống Trump trong cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ năm 2016. Ba năm sau, hi vọng rằng chúng ta cũng rút ra bài học rằng: thuế quan cũng đồng thời tạo ra người thắng và kẻ thua (thậm chí với số lượng còn nhiều hơn trước đây). Các chính sách thương mại “cứng rắn” không phải là giải pháp cho vấn đề bất công này.
Hơn nữa, thương mại chỉ là một trong nhiều yếu tố dẫn đến tình trạng bất công. Và cho dù nguyên nhân nào quan trọng hơn, các giải pháp của vấn đề đều khá là giống nhau. Ở Mỹ, giải pháp đó là mở rộng bảo hiểm y tế, phổ cập giáo dục, đầu tư hạ tầng, chính sách cạnh tranh, phục hồi các quy định tài chính sau năm 2008, và đánh thuế thu nhập lũy tiến.
Một vài người nói rằng nước Mỹ nên dựng lên các rào cản thương mại cho đến khi cải cách xong các chính sách trên. Nhưng đó là một kết luận chẳng liên quan. Chúng ta nên áp dụng càng nhiều biện pháp chia sẻ lợi ích càng tốt, đồng thời kết thúc chiến tranh thương mại. Và trong tương lai, những người ủng hộ thương mại tự do như chúng ta cần phải được thỏa mãn bằng một chương trình nghị sự về việc xóa bỏ thuế quan và hạn ngạch. Còn tiến trình hội nhập sâu, có lẽ, vẫn chỉ là một mơ ước xa vời.
Nguồn: Project – Syndicate
Từ khóa: Thuế quan, hội nhập, WTO
Các tin khác
- Cam kết Hiệp định CPTPP: Lo lắng doanh nghiệp khó thực thi - 28/11/2019
- Những quốc gia nào ký nhiều FTA hơn Việt Nam? - 28/11/2019
- Chính sách ưu đãi của các nước ASEAN để thu hút FDI trong bối cảnh chiến tranh thương mại - 27/11/2019
- Cơ quan trọng yếu của WTO có thể bị vô hiệu hóa từ ngày 11 tháng 12 - 26/11/2019
- Giải mã những bí ẩn về hiệp định tự do thương mại - 26/11/2019






















