
Quyết định không tham gia Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP) của Ấn Độ đã khơi mào cho một loạt các bài xã luận và phân tích. Hầu hết các bài viết đều tập trung vào ảnh hưởng của quyết định này đối với 4 lĩnh vực: xuất khẩu, đầu tư, quá trình hội nhập vào chuỗi cung ứng toàn cầu (GVC), và ngành sản xuất nội địa. Trong bài viết này, chúng ta sẽ đi vào phân tích một góc nhìn khác – kinh nghiệm của các quốc gia từng ký kết các hiệp định tự do thương mại (FTA).
Tác động đến xuất khẩu
Đầu tiên, liệu FTA có giúp tăng trưởng xuất khẩu? Một số nhà kinh tế học cho rằng quyết định không tham gia hiệp định RCEP khiến Ấn Độ đánh mất cơ hội xuất khẩu sang các nước RCEP. Thế nhưng họ quên rằng Ấn Độ đã ký kết FTA với Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Nhật Bản, Hàn Quốc, với 3/4 dòng thuế đã về 0. Ngoài ra, Ấn Độ còn có một hiệp định thương mại ưu đãi nhỏ với Trung Quốc.
Một FTA đơn thuần sẽ không đảm bảo sự tăng trưởng trong hoạt động xuất khẩu. Trong trường hợp nước đối tác có thuế quan nhập khẩu cao, nhiều khả năng giá trị xuất khẩu của Ấn Độ sẽ tăng lên 10% nếu mức thuế này được gỡ bỏ. Ngược lại, khả năng tăng trưởng xuất khẩu sẽ thấp nếu như thuế nhập khẩu vào nước đối tác đã thấp sẵn, ở mức khoảng 1-3%. Từ nguyên tắc này, có thể thấy các FTA sẽ không phát huy tác dụng với hoạt động xuất khẩu sang Singapore, Hong Kong, vì thuế nhập khẩu thông thường (thuế quan theo nguyên tắc đối xử tối huệ quốc - MFN) của các thị trường này đã bằng 0. FTA với Malaysia, Nhật Bản, Úc, New Zealand, Brunei, v.v cũng chỉ có lợi cho một vài nhóm mặt hàng, bởi 60% hàng nhập khẩu vào những nước này đều được miễn thuế. Cơ hội tiếp cận thị trường của Ấn Độ chỉ tăng thêm rất ít, mà theo những người chỉ trích là không đáng để kể đến.
Thế nhưng, ngay cả khi mức thuế quan nhập khẩu cao được gỡ bỏ thông qua các FTA, việc này cũng không đảm bảo xuất khẩu sẽ tăng lên. Nhật Bản đã giảm thuế từ 10% xuống còn 0% đối với hàng may mặc Ấn Độ thông qua một FTA năm 2011. Nhưng xuất khẩu hàng may mặc Ấn Độ sang Nhật Bản lại giảm từ 255 triệu USD vào năm 2010 xuống còn 152 triệu USD trong năm 2018. Nguyên nhân là do tác động từ các rào cản phi thuế quan (NTB) của Nhật Bản, chẳng hạn như các yêu cầu đặc biệt về nguồn cung ứng. Thông thường, NTB sẽ không được đàm phán trong các FTA. Các nước phải giải quyết những rào cản này theo hướng song phương. Nói tóm lại, FTA giúp giảm thuế quan, nhưng đây không phải là yếu tố duy nhất quyết định liệu xuất khẩu có tăng trưởng hay không.
Dòng chảy đầu tư
Liệu một hệ thống thuế nhập khẩu thấp hơn có giúp thu hút thêm đầu tư? Hầu hết các chuyên gia đều đồng ý với quan niệm này. Tuy nhiên, hãy nhìn vào bằng chứng từ ngành công nghiệp ô tô ở Úc và Ấn Độ. Vào năm 1987, Úc sản xuất 89% số lượng ô tô cho tiêu dùng trong nước, Úc đã bảo vệ ngành công nghiệp ô tô bằng cách áp đặt thuế nhập khẩu 45%. Khi thuế quan nhập khẩu giảm xuống, thị phần của ô tô nội địa cũng càng thu hẹp. Hiện nay, hầu hết ô tô của Úc đều là nhập khẩu vì thuế quan đã giảm mạnh xuống mức 5%. Hầu hết các nhà sản xuất chế tạo ô tô tại Úc như Nissan, Ford, General Motors, Toyota, Mitsubishi, v.v đều đóng cửa.
Còn Ấn Độ đã thu hút được những khoản đầu tư lớn vào lĩnh vực ô tô nhờ vào thuế quan nhập khẩu cao. Việc này đã thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp ô tô và linh kiện trong nước. Và ở hiện tại, ngành công nghiệp ô tô của Ấn Độ đã phát triển, nước này có thể cân nhắc việc giảm thuế quan nhập khẩu để tăng tính cạnh tranh.
Hầu hết các khoản đầu tư là kết quả tổng hợp từ những chính sách như giảm thuế, giá đất đai rẻ, điện nước rẻ, v.v ở nước nhận đầu tư. Nếu một nước không phải là nền kinh tế hiệu quả nhất, thì việc đặt ra một số rào cản nhập khẩu sẽ giúp nước đó thu hút thêm đầu tư bên ngoài. Nếu như không có các rào cản nhập khẩu, nhiều doanh nghiệp sẽ dịch chuyển cơ sở sản xuất sang các nước đối tác FTA phát triển hơn, rồi xuất khẩu lại vào thị trường trong nước. Nhưng chất lượng đầu tư sẽ tăng lên nếu như nước đó phát triển thành một nền kinh tế hiệu quả. Những nước này sẽ ở vị trí lý tưởng để trở thành trung tâm sản xuất và dịch vụ.
Câu hỏi thứ ba, liệu FTA có giúp việc tham gia vào GVC trở nên dễ dàng hơn? Hầu hết các nhà bình luận phàn nàn rằng Ấn Độ đã mất đi cơ hội trở thành một phần của GVC vì đã không tham gia RCEP. Nó không đơn giản như vậy. Các hoạt động trong chuỗi giá trị thực tế luôn đòi hỏi sự vận hành trơn tru. Và một quốc gia không thể trở thành một phần quan trọng trong các chuỗi giá trị như thế, trừ khi họ xây dựng được các cảng, hệ thống thông quan, vận tải, đường xá, và hệ thống quy định hiệu quả. Qúa trình sản xuất GVC cũng đòi hỏi sự hài hòa của tiêu chuẩn hàng hóa và chất lượng.
Vì những lý do trên, chỉ riêng FTA thì không thể biến một quốc gia trở thành một phần của chuỗi giá trị, vì nó sẽ sụp đổ chỉ với một đơn hàng bị trì hoãn hoặc không đáp ứng được tiêu chuẩn. ASEAN, Nhật Bản và Hàn Quốc là những trung tâm trong chuỗi giá trị khu vực Châu Á. Nhưng dù đã có được FTA với các nước này, Ấn Độ vẫn không hiện diện nhiều trong chuỗi giá trị hàng điện tử, máy móc và hàng may mặc.
Câu hỏi thứ tư, liệu ngành công nghiệp Ấn Độ có theo chủ nghĩa bảo hộ? Nhìn vào tác động của việc giảm thuế nhập khẩu đối với động cơ từ 20% xuống 0% cho một đối tác FTA, các mặt hàng nhập khẩu giá rẻ có thể thay thế những mặt hàng sản xuất nội địa. Nhưng giả sử thuế quan đối với một mặt hàng thấp cỡ 3%, thì doanh nghiệp nội địa có thể không quan tâm tới việc gỡ bỏ thuế quan thông qua FTA. Các nước đã đạt đến mức độ này có thể dễ dàng tham gia FTA mà không cần lo lắng nhiều.
Những bước cần làm để phát huy hiệu quả
Những tác động tiềm năng của FTA lên nền kinh tế hay hoạt động xuất khẩu phụ thuộc vào nhiều vấn đề. FTA chỉ có thể đảm bảo cơ hội tiếp cận thị trường cho những mặt hàng chất lượng cao và giá cạnh tranh. Cải thiện năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp là yêu cầu tất yếu. Chính phủ có thể hỗ trợ bằng cách duy trì mức thuế đối với nguyên liệu thô và hàng hóa trung gian thấp hơn so với các sản phẩm hoàn chỉnh được làm ra. Chính phủ có thể thiết lập một hệ thống tiêu chuẩn và chất lượng rõ ràng đối với các mặt hàng quan trọng. Hầu hết các quốc gia quản lý hoạt động nhập khẩu thông qua những tiêu chuẩn như thế hơn là thông qua thuế quan.
Cuối cùng, về vấn đề Ấn Độ rút lui, Ấn Độ thực tế vẫn được xếp hạng cao hơn cả Mỹ, Nhật Bản, và Trung Quốc về tỷ lệ mở cửa thương mại. Tỷ lệ này được tính bằng cách lấy tổng hàng nhập khẩu và xuất khẩu chia cho GDP – tỷ lệ mở cửa của Ấn Độ (43%), so với Mỹ là (27%), Nhật Bản (35%), và Trung Quốc (38%).
Nguồn: The Hindu
Từ khóa: RCEP, hội nhập kinh tế, rào cản phi thuế quan, chủ nghĩa bảo hộ, hiệp định tự do thương mại
Các tin khác
- Hình thành chuỗi cung ứng mới từ FTA - 26/11/2019
- “Mở khóa” ưu đãi thuế quan các FTA - 25/11/2019
- Thỏa thuận thương mại Mỹ-Nhật sẽ có hiệu lực vào ngày 01/01/2020 - 25/11/2019
- Việc Mỹ rời bỏ các tổ chức đa phương ở châu Á giúp Trung Quốc mạnh lên - 25/11/2019
- Mỹ - Trung có đang thoát khỏi cuộc chiến thương mại? - 22/11/2019






















