
Thông báo gần đây về Hiệp định thương mại Mỹ-Nhật (USJTA) là một điều khá bất ngờ đối với nhiều người Nhật vì sự nhanh chóng một cách bất thường của nó. Hiệp định trên chỉ mất 6 tháng đàm phán – trái ngược hoàn toàn với khoảng thời gian đàm phán 5 năm của Hiệp định Đối tác Kinh tế EU-Nhật Bản. Một trong những lý do giúp Mỹ và Nhật Bản có thể nhanh chóng kết thúc đàm phán đến như vậy là vì hai nước đã giới hạn nội dung hiệp định chỉ trong hai lĩnh vực: xóa/giảm thuế quan và các quy định liên quan đến thương mại số.
Về vấn đề thuế, ưu tiên cao nhất của Mỹ là thịt bò. Trong USJTA, lộ trình giảm thuế của Nhật Bản dành cho thịt bò gần như giống hệt với lộ trình trong TPP – hiệp định mà Mỹ đã rút lui. Chỉ khác là năm 0 trong Hiệp định USJTA ứng với năm thứ 2 trong TPP. Điều tương tự cũng diễn ra với các sản phẩm khác như thịt heo, lúa mì và rượu.
Tuy nhiên, USJTA lại đi lùi so với TPP ở một số lĩnh vực khác. Trong USJTA, Nhật Bản đã không có bất kỳ cam kết nào dành cho các sản phẩm như sữa tách béo, bơ, lâm sản, thủy sản, và tất cả các loại gạo. Nhìn chung, về phía Mỹ, lợi ích đạt được từ USJTA thì kém xa so với lợi ích đạt được từ TPP.
Mặt khác, từ góc nhìn của Nhật Bản, hiệp định này chỉ có thể được xem là một “thành công về mặt tự vệ”. Nhật Bản thu được rất ít lợi ích trực tiếp từ Hiệp định. Về mối quan tâm lớn nhất của Nhật Bản – là giảm thuế cho ô tô và phụ tùng ô tô – thì hiệp định này chỉ nhắc tới như là một vấn đề “sẽ được đàm phán thêm”, và không xác định bất kỳ thời gian cụ thể nào (Đoạn 7, Phụ lục II). Điều này nói lên một điều, Mỹ vẫn tiếp tục ở cửa trên trong các vòng đàm phán tiếp theo.
Thắng lợi quan trọng của Nhật Bản lại nằm bên ngoài hiệp định – đó là Nhật sẽ thoát được một đợt tăng thuế đối với ô tô – điều mà chính quyền Mỹ đã đe dọa trước đó, căn cứ trên Điều 232 của Đạo luật Mở rộng Thương mại Mỹ năm 1962.
Vì các cam kết về thuế quan trong hiệp định lần này khá khiêm tốn, một số người nhận định nội dung về thương mại số mới là thành tựu nổi bật nhất của hiệp định USJTA giai đoạn 1. Hiệp định kỹ thuật số trong USJTA tương tự như chương 14 trong TPP nhưng có bổ sung thêm một số nội dung. Một trong số đó là quy định: cấm nước nhập khẩu yêu cầu nhà xuất khẩu phải chuyển giao bất kỳ thông tin độc quyền nào gắn liền với việc mã hóa như là điều kiện để hàng hóa đó được tiếp cận thị trường. Điều khoản này thậm chí còn chưa có trong Hiệp định Mỹ-Mexico-Canada. Đàm phán thành công một hiệp định thương mại số giữa hai cường quốc sẽ có tác động mạnh mẽ đến quá trình đàm phán chủ đề này ở cấp độ quốc tế.
Một khía cạnh quan trọng nữa của USJTA chính là cách tiếp cận gia tăng (incremental approach) được áp dụng trong đàm phán. Phương pháp gia tăng là phương pháp được sử dụng trong xây dựng phần mềm, với cách làm chính là chia nhỏ giai đoạn, dễ dàng cho việc phân vùng và khắc phục lỗi. Hiệp định USJTA sẽ được ký trước đối với các nội dung đã hoàn tất đàm phán, và đối với các nội dung còn lại, việc đàm phán sẽ vẫn tiếp tục diễn ra. Có nhiều ý kiến trái chiều về cách tiếp cận lũy tích này.
Một số người tán đồng cách làm này vì có thể đẩy nhanh được việc ký kết hiệp định. Nhưng số khác lại lo sợ, các nhượng bộ bổ sung có thể được đưa ra trong các hiệp định tiếp theo. Ví dụ, để đổi lấy việc được giảm thuế cho ô tô trong giai đoạn đàm phán tiếp theo, Nhật Bản có thể được yêu cầu phải cấp cho Mỹ hạn ngạch nhập khẩu gạo, điều mà Nhật đã né tránh trong hiệp định giai đoạn 1. Ngoài ra, các vấn đề an ninh cũng có thể được đem ra đổi chác trong các giai đoạn đàm phán về sau.
Việc sửa đi sửa lại hiệp định có thể làm xói mòn niềm tin của các cử tri trong nước vào các cuộc đàm phán. Vì lý do này, USJTA có thể thu hút sự chú ý từ các nước khác, bởi lẽ các nước bên ngoài muốn quan sát xem liệu phong cách đàm phán mới này có thể dùng làm mô hình đàm phán cho các thỏa thuận thương mại sau này hay không.
Cuối cùng, Hiệp định USJTA có thể ẩn chứa nhiều hàm ý sâu xa cho hệ thống thương mại. Một số người cho rằng, hiệp định này không phù hợp với quy định của WTO. Hiệp định USJTA không đáp ứng điều kiện của Điều XXIV: 8(b) trong Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT), trong đó có nêu một hiệp định thương mại phải xóa bỏ rào cản trên “tất cả các lĩnh vực trọng yếu của thương mại”. Bởi vì phạm vi giảm thuế trong USJTA còn hạn chế, có vẻ như quan điểm chỉ trích trên là đúng.
Phe chỉ trích cho rằng, chỉ có thể phân loại USJTA là một “hiệp định tạm thời”, nhưng như vậy cũng không đúng – vì USJTA cũng không phù hợp với quy định liên quan đến hiệp định tạm thời. Bởi vì hiệp định này không chứa đựng “một kế hoạch và một lộ trình” cụ thể để hoàn tất hiệp định như quy định tại Điều XXIV: 5(c) của GATT. Từ trước đến nay, không có một diễn giải rõ ràng nào về cụm từ “một kế hoạch và một lộ trình”, và vì vậy, tranh cãi liên quan đến vấn đề này khó mà phân giải.
Dù là gì đi nữa, vẫn còn quá sớm để kết luận về ý nghĩa của việc ký kết USJTA khi mà hiệp định chỉ mới ở giai đoạn đầu và vẫn còn đang trong quá trình đàm phán. Sẽ thiết thực hơn khi tập trung vào khía cạnh làm sao để hiệp định này có thể đem lại lợi ích thực chất cho các bên tham gia đàm phán nói riêng và tác động có lợi đến tình hình thương mại quốc tế nói chung.
Nguồn: East Asia Forum
Từ khóa: hiệp định thương mại Mỹ-Nhật, thuế quan, ý nghĩa
Các tin khác
- Ý nghĩa của việc Hàn Quốc từ bỏ quy chế quốc gia đang phát triển trong WTO - 21/11/2019
- Nhìn lại mục tiêu đưa đồng tiền Việt Nam “xuất ngoại” - 21/11/2019
- Các nước Đông Nam Á cạnh tranh để vẽ lại bản đồ chuỗi cung ứng - 20/11/2019
- Cải cách WTO: Trung Quốc sẽ là một phần vấn đề hay là một phần giải pháp? - 20/11/2019
- VKFTA thúc đẩy thương mại hai chiều giữa Việt Nam và Hàn Quốc - 19/11/2019






















