
Liệu các hiệp định thương mại tự do khổng lồ (Mega - FTA) có lợi cho nền kinh tế Ấn Độ hay không? Phần lớn ngành công nghiệp Ấn Độ có thể nói không, nhưng một bài nghiên cứu chính sách được thực hiện bởi Rajeev Kher, cựu Bộ trưởng Thương mại Ấn Độ, và Ram Upendra Das, người đứng đầu Trung tâm Thương mại Khu vực, một cơ quan độc lập được hỗ trợ bởi Bộ Thương mại Ấn Độ, đã đưa ra quan điểm ngược lại.
Bài nghiên cứu có vai trò vô cùng quan trọng, bởi lẽ Ấn Độ đang tích cực đàm phán với 10 quốc gia thành viên của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) – gồm Brunei, Campuchia, Indonesia, Lào, Malaysia, Myanmar, Philippines, Singapore, Thái Lan, Việt Nam - và sáu đối tác FTA của ASEAN – gồm Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Hàn Quốc, Australia và New Zealand - cho một siêu hiệp định thương mại khu vực, Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP), chiếm 40% giá trị nền thương mại toàn cầu và 45% dân số thế giới. Mục tiêu của bài nghiên cứu là nhằm tạo ra cuộc tranh luận rộng hơn về những ưu và nhược điểm của RCEP và giúp Bộ trưởng Thương mại Piyush Goyal có cơ sở để đưa ra những quyết định về việc tham gia RCEP của Ấn Độ trong những tháng tới.
Trong 'Chuyện chưa kể về FTA của Ấn Độ: Một góc nhìn khác', Kher và Das đã phân tích tình hình thương mại của Ấn Độ với năm đối tác FTA lớn trong giai đoạn trước và sau FTA, và kết luận rằng sự tăng trưởng thương mại trong giai đoạn 2010-2018 là nhiều hơn so với thời kỳ trước FTA, tức là giai đoạn 1991-2009. "Tốc độ tăng trưởng lớn hơn trong giai đoạn tổng thể phản ánh vai trò của các FTA trong việc truyền tải sự tăng trưởng cho nền thương mại," họ cho biết.
Ấn Độ hiện có 16 hiệp định thương mại tự do có hiệu lực, bao gồm những hiệp định rất toàn diện như - Hiệp định Hợp tác Kinh tế Toàn diện Ấn Độ - Singapore (CECA), Hiệp định Thương mại Hàng hóa Ấn Độ - ASEAN, Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Ấn Độ - Nhật Bản (CEPA), Hiệp định Đối tác Kinh tế toàn diện Ấn Độ - Hàn Quốc (CEPA), Hiệp định Hợp tác Kinh tế toàn diện Ấn Độ-Malaysia (CECA).
Nghiên cứu thừa nhận rằng tốc độ tăng trưởng nhập khẩu đã lớn hơn mức tăng xuất khẩu (dẫn đến thâm hụt thương mại lớn hơn, thường được nhấn mạnh là một nguyên nhân khiến Ấn Độ lo ngại). Nhưng, nghiên cứu lập luận rằng, tăng trưởng nhập khẩu không nên được nhìn nhận một cách biệt lập mà bằng tỷ trọng của tổng thương mại, trong cả kịch bản trước FTA và sau FTA. "Tỉ lệ phần trăm thâm hụt thương mại của Ấn Độ trong tổng giá trị thương mại đã tăng lên, mặc dù tổng kim ngạch thương mại của Ấn Độ cũng tăng lên, ngụ ý rằng mức thâm hụt thương mại có thể chấp nhận được cũng phải tăng lên," các tác giả nói.
Chẳng hạn, trong số năm FTA được nghiên cứu, giá trị thương mại của Ấn Độ với ASEAN là lớn nhất nếu xét về quy mô tổng kim ngạch (81 tỷ USD) và quy mô thâm hụt thương mại (12,9 tỷ USD). Các nhà nghiên cứu chỉ ra trong trường hợp cụ thể này, sự gia tăng thâm hụt thương mại của Ấn Độ là ít nhất so với các đối tác FTA khác trong giai đoạn 2009 - 2018. Bài viết phân tích rằng: "Tỷ lệ thâm hụt thương mại trên tổng giá trị thương mại với ASEAN đã giảm từ -17,4% trong năm 2009 xuống -15,9% trong năm 2018. Điều này ngụ ý rằng sức chịu đựng thâm hụt thương mại của Ấn Độ đã tăng lên. Đây là bởi sự tăng lên trong tổng thương mại giữa Ấn Độ và ASEAN giai đoạn sau FTA so với giai đoạn trước FTA, mức tăng thâm hụt thương mại thấp hơn, chính vì thế thâm hụt thương mại trên tổng tỷ lệ thương mại đã giảm ".
Bài viết cũng nhấn mạnh tầm quan trọng ngày càng tăng của hàng nhập khẩu trong cơ cấu hoạt động thương mại giữa Ấn Độ với các đối tác FTA kể trên. Trong khi xuất khẩu của Ấn Độ vào tất cả các đối tác FTA chủ yếu bao gồm hàng hóa nguyên liệu thô, hàng nhập khẩu vào nước này chủ yếu là máy móc hạng nặng và các sản phẩm sắt thép, vốn không phải là thành phẩm mà chỉ góp phần làm tăng thêm năng lực sản xuất cho Ấn Độ. "Tỷ lệ phần trăm của hàng hóa trung gian được nhập khẩu từ cả 5 đối tác FTA này trong tổng nhập khẩu từ đã tăng đáng kể", các tác giả cho biết.
Các tác giả chỉ ra rằng: "Thứ nhất, Ấn Độ chủ yếu xuất khẩu cho các đối tác FTA các nguyên liệu đã sơ chế. Đối với ASEAN, nguyên liệu đã sơ chế chiếm tới 78% tổng xuất khẩu ASEAN. Thứ hai, Ấn Độ chủ yếu nhập khẩu từ các đối tác FTA hàng hóa phi tiêu dùng. Đối với ASEAN, hàng hóa phi tiêu dùng chiếm 84% tổng lượng nhập khẩu. Đây có thể là một cơ cấu xuất nhập khẩu lý tưởng của Ấn Độ với các đối tác FTA".
Khía cạnh quan trọng thứ ba của các FTA, được các tác giả nhấn mạnh, là lợi thế về chi phí đối với hàng nhập khẩu của Ấn Độ. "Đối với các đối tác FTA lớn, Ấn Độ đã chứng kiến sự sụt giảm đơn giá nhập khẩu trong giai đoạn sau FTA, nghĩa là đơn giá nhập khẩu trong năm hiện tại (ở đây là 2018) thấp hơn nhiều so với đơn giá nhập khẩu trong giai đoạn trước FTA (một năm trước khi FTA được triển khai). Nói cách khác, nếu không có FTA, hàng hóa nhập khẩu hiện tại (chỉ từ đối tác FTA) sẽ ở mức giá cao hơn," các tác giả khẳng định.
Các tác giả cho rằng trong năm FTA lớn của Ấn Độ, tổn thất doanh thu cận biên do giảm thuế sẽ giúp Ấn Độ tránh hoặc tiết kiệm thâm hụt thương mại tương đương 51,34 tỷ USD trong năm 2018.
Theo bài nghiên cứu, cần có số liệu thống kê tốt hơn trong lĩnh vực thương mại dịch vụ. "Chung tôi thiếu dữ liệu về định hướng dịch vụ đặc biệt là của quốc gia đối tác hoặc các công ty đã cản trở các cuộc đàm phán về thương mại dịch vụ. Không có cơ sở dữ liệu toàn cầu nào nắm bắt được nguồn gốc hay đích đến của sản phẩm dịch vụ 'sau cùng' của quốc gia một cách hiệu quả", các tác giả nói.
Một trong những khuyến nghị của bài viết là kêu gọi xây dựng cụ thể hơn về cách thức mà dịch vụ được giao dịch, đo lường và điều tiết để biến Ấn Độ thành một nhà xuất khẩu dịch vụ lớn, có thể hưởng lợi đầy đủ hơn từ các FTA. Bài viết kêu gọi một sự thay đổi trong cách tiếp cận các cam kết của Ấn Độ, từ địa - chính trị sang địa - kinh tế. Bài viết cũng mong muốn các FTA được nghiên cứu trên cơ sở lợi ích đối ứng và tiềm năng tạo việc làm hơn là từ mỗi góc độ xuất khẩu.
Bộ trưởng Thương mại Ấn Độ Piyush Goyal sẽ phải quyết định liệu các lợi ích của ngành có được ưu tiên hơn so với các bức tranh vĩ mô mà các tác giả đang cố gắng thể hiện hay không.
Nguồn: Business Today
Từ khóa: RCEP, hội nhập kinh tế, đàm phán hiệp định tự do thương mại
Các tin khác
- Một thỏa thuận thương mại với Trump sẽ đưa nước Anh đến tình cảnh tệ hơn - 22/08/2019
- Tương lai ngành khai thác khoáng sản tại ASEAN - 22/08/2019
- Mỹ đang “để ý” Việt Nam kỹ hơn trong thương chiến? - 21/08/2019
- 'Chiến lược Trung Quốc' của ông Trump đang thất bại - 21/08/2019
- Tương lai ảm đạm của nước Anh nếu Brexit không có thỏa thuận - 21/08/2019






















