JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU
Phân tích - Bình luậnHội nhập kinh tế quốc tếTại sao doanh nghiệp và các hộ gia đình Mỹ cần Trung Quốc

Tại sao doanh nghiệp và các hộ gia đình Mỹ cần Trung Quốc

TrungQuocMy04042018

Các con số thống kê thương mại song phương chỉ cho thấy một phần câu chuyện về tầm quan trọng của thị trường Trung Quốc đối với kinh tế Mỹ. Hàng hóa nhập khẩu giá rẻ từ Trung Quốc không những có lợi cho người tiêu dùng Mỹ, đặc biệt là các gia đình có thu nhập thấp và trung bình, mà còn có lợi cho các doanh nghiệp Hoa Kỳ, cũng như hỗ trợ tạo việc làm.

Trung Quốc sẽ được hưởng lợi nếu bình thường hóa quan hệ thương mại với Hoa Kỳ. Nhưng cần biết rằng, chiều người lại cũng đúng với Mỹ. Mới đây, gã khổng lồ công nghệ Mỹ Apple đã cắt giảm dự báo doanh số, mà theo CEO Tim Cook, sự sa sút ở thị trường Trung Quốc là một trong các nguyên nhân chính. Cuộc chiến thương mại của Tổng thống Mỹ Donald Trump đang làm trầm trọng thêm các tác động vốn có của một nền kinh tế đang trên đà suy giảm tăng trưởng. Doanh thu giảm mạnh của Apple đã làm nổi bật tầm quan trọng của thị trường Trung Quốc đối với các công ty Mỹ, và cũng cho thấy những rủi ro mà chủ nghĩa bảo hộ của ông Trump đặt ra với nền kinh tế Mỹ.

Trên thực tế, Apple bán được nhiều iPhone và iPad cho người Trung Quốc hơn các con số thống kê của Hoa Kỳ. Tương tự, General Motors bán nhiều xe hơi ở Trung Quốc hơn số liệu được ghi nhận (thực tế còn nhiều hơn Hoa Kỳ và Canada cộng lại). Đó là vì các công ty này, cũng như nhiều công ty khác, sản xuất tại Trung Quốc và bán trực tiếp cho người tiêu dùng Trung Quốc. Số lượng các công ty Trung Quốc bán trực tiếp tại thị trường Mỹ lại ít hơn nhiều.

Do các công ty Mỹ đã không ngừng tăng cường hoạt động tại Trung Quốc theo thời gian, số liệu thống kê thương mại song phương chỉ phản ánh một phần tầm quan trọng của thị trường Trung Quốc đối với nền kinh tế Mỹ.

Từ năm 2000 đến 2018, xuất khẩu của Hoa Kỳ sang Trung Quốc tăng mạnh 530%, cao hơn nhiều so với mức tăng trưởng xuất khẩu 130% của Hoa Kỳ ra toàn cầu trong thời gian này. Đây là kết quả trực tiếp của nỗ lực tự do hóa thương mại đơn phương mà Trung Quốc theo đuổi sau khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới vào năm 2001, bao gồm việc giảm thuế quan từ 30% trước khi gia nhập WTO xuống dưới 6% như hiện nay. Hơn nữa, hàng nhập khẩu vào Trung Quốc để phục vụ sản xuất cho thị trường thế giới sẽ được miễn thuế, và con số này chiếm khoảng một nửa trong tổng kim ngạch nhập khẩu của Trung Quốc.

Tốc độ tăng trưởng GDP nhanh của Trung Quốc đã thúc đẩy nhập khẩu. Nhưng kết quả đó có được cũng nhờ tự do hóa thương mại và các cải cách khác để ủng hộ cơ chế thị trường. Không có quốc gia nào tháo dỡ nhiều rào cản thương mại hoặc thực hiện nhiều cải cách hướng đến thị trường hơn Trung Quốc trong bốn thập kỷ qua.

Những cải cách định hướng thị trường của Trung Quốc đã mở ra một làn sóng khởi nghiệp, cho phép các công ty thuộc khu vực tư trong và ngoài nước phát triển mạnh, và trong nhiều trường hợp, công ty tư nhân còn tăng trưởng nhanh hơn các công ty nhà nước.

Điều này trái ngược hoàn toàn với suy nghĩ của nhiều người, cho rằng Trung Quốc đa phần bỏ qua hoặc trốn tránh các cam kết của họ khi gia nhập WTO. Nếu đó là sự thật, Trung Quốc đơn giản là không thể tăng trưởng nhanh hơn 95% các quốc gia trên thế giới kể từ năm 2001.

Theo một số ý kiến, ngay cả khi các doanh nghiệp Hoa Kỳ thu được lợi nhuận từ việc tiếp cận thị trường Trung Quốc, quan hệ thương mại Mỹ - Trung vẫn khiến người lao động Mỹ phải chịu cạnh tranh từ lao động Trung Quốc ở các lĩnh vực có chi phí nhân công thấp. Nhưng hàng hóa nhập khẩu giá rẻ từ Trung Quốc không những có lợi cho người tiêu dùng Mỹ, đặc biệt là các gia đình có thu nhập thấp và trung bình, mà còn cho các doanh nghiệp Hoa Kỳ, cũng như hỗ trợ tạo việc làm. Gần 40% hàng nhập khẩu từ Trung Quốc vào Mỹ là phụ tùng, linh kiện và sản phẩm trung gian. Chi phí tiết kiệm được từ hàng nhập khẩu giá rẻ cho phép các doanh nghiệp Hoa Kỳ tăng tính cạnh tranh cho hàng hóa mà họ sản xuất, cũng như cho phép họ thuê thêm nhân công.

Theo nghiên cứu của tác giả và các đồng nghiệp, hiệu ứng chuỗi cung ứng này đã tạo ra nhiều việc làm hơn số việc làm bị mất đi do bị cạnh tranh trực tiếp từ Trung Quốc. Trong khi số việc làm bị mất đi tập trung trong các ngành sản xuất, thì công việc có được từ thương mại với Trung Quốc lại rộng khắp nền kinh tế, bao gồm nhiều lĩnh vực dịch vụ hiện đại. Nhờ đó, quan hệ thương mại Mỹ - Trung đem lại lợi ích cho 75% người lao động Mỹ, chưa tính đến tác động tích cực đối với sức mua và các khoản thu nhập chuyển đổi qua lại.

Tuy nhiên, nhiều người Mỹ chỉ tập trung vào khía cạnh rủi ro mất việc làm do thương mại tự do gây ra. Khi một công ty Mỹ sa thải lao động của mình, quan hệ với Trung Quốc thường bị đổ lỗi. Nhưng khi một công ty Mỹ thuê thêm nhân công, người ta hiếm khi nhắc đến các khoản chi phí tiết kiệm được từ thương mại với Trung Quốc.

Một số người Mỹ đang kêu gọi tách rời hai nền kinh tế Hoa Kỳ và Trung Quốc. Nếu điều đó xảy ra, các công ty Mỹ sử dụng nguồn đầu vào từ Trung Quốc sẽ đánh mất lợi thế cạnh tranh so với các đối thủ châu Âu và Nhật Bản, người lao động có thể mất việc làm và các hộ gia đình Mỹ có thu nhập thấp và trung bình sẽ phải gánh chịu giá cả hàng hóa gia tăng.

Nhưng điều này không có nghĩa rằng Trung Quốc không cần phải thay đổi. Nước này nên tiếp tục hạ thấp các rào cản thương mại, giảm trợ cấp cho các doanh nghiệp nhà nước, nới lỏng hạn chế đối với các công ty nước ngoài hoạt động trong nước và tăng cường thực thi quyền sở hữu trí tuệ.

Để thương mại song phương trở nên công bằng và hiệu quả hơn, Mỹ cũng cần thực hiện một số thay đổi. Ví dụ, nước này cần giảm các mức thuế cao (khoảng 20%) đối với hàng dệt may, một trong những mặt hàng xuất khẩu chính của Trung Quốc. Mỹ cũng cần cải cách cơ chế chống bán phá giá (bằng cách hợp nhất với luật chống độc quyền) và thay đổi các quy định không công bằng như đổ lỗi cho ngành sản xuất Trung Quốc, khiến xuất khẩu của Trung Quốc gặp khó khăn.

Cả Mỹ và Trung Quốc đều có lợi từ việc bình thường hóa quan hệ thương mại song phương. Trong khi việc cải cách chính sách gặp khó khăn do áp lực chính trị và phân phối lợi ích, một cách tiếp cận có đi có lại và công bằng sẽ là chìa khóa cho sự phát triển bền vững ở cả hai quốc gia. Câu hỏi đặt ra là liệu các nhà lãnh đạo có đủ can đảm và khôn ngoan để đưa mối quan hệ trở lại với đúng quỹ đạo.

Theo Project-Syndicate.org – KDu

Từ khóa: chiến tranh, thương mại, Mỹ, Trung Quốc, thuế, xuất khẩu, nhập khẩu

Chuyên mục RCEP

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Phân tích - Bình luận

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Thư viện hội nhập

thu vien


phong ve thuong mai

Video

Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field

Liên kết

 

Lượt truy cập

008753312
Go to top