JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU
Phân tích - Bình luậnHội nhập kinh tế quốc tếXóa bỏ rào cản thương mại để phát triển nền nông nghiệp Đông Nam Á

Xóa bỏ rào cản thương mại để phát triển nền nông nghiệp Đông Nam Á

nongnghiep1705

Bãi bỏ quy định, tăng cường sự hỗ trợ từ chính phủ và đầu tư R & D có thể giúp ngành nông nghiệp đạt chuẩn thế giới.

Trên thực tế, 98% các xe tải xuất hạt tiêu từ Campuchia đến một cơ sở chế biến ở Thành phố Hồ Chí Minh tại Việt Nam phải dỡ hàng khỏi xe tại biên giới và chất lên các xe tải khác bên phía Việt Nam. Nhà xuất khẩu sử dụng dịch vụ của một trong ba công ty hậu cần có giấy phép hoạt động ở cả hai thị trường sẽ được miễn thực hiện thủ tục này. Dẫu vậy, lô hàng của họ cũng phải mất hai ngày để thông quan.

Nếu lấy con số này nhân với số lượng xe tải di chuyển qua lại mỗi ngày giữa biên giới của các nước thành viên ASEAN thì sẽ thấy được thời gian tiêu tốn cho thủ tục thông quan nhiều như thế nào. Đây chỉ là một ví dụ đơn giản về một khâu trong chuỗi cung ứng nông nghiệp ở Đông Nam Á. Có thể tưởng tượng được nếu thời gian tiêu phí này được rút ngắn lại thì sức cạnh tranh và giá trị của sản phẩm nông nghiệp trong khu vực sẽ tăng lên bao nhiêu lần.

Dĩ nhiên, các chính phủ thành viên của ASEAN đã đạt được những thành tựu nhất định trong việc cải thiện dòng chảy thương mại nội khối. Lấy ví dụ, các nước ASEAN đã xóa bỏ thuế quan cho các hàng hóa của nhau, từ đó làm gia tăng đáng kể kim ngạch thương mại nội khối.

Tuy nhiên, giá trị xuất khẩu nông nghiệp của ASEAN, cũng như mức độ tự cung tự cấp lương thực trên toàn ASEAN nói chung, vẫn chưa đúng với tiềm năng của khối. Sản lượng và tổng giá trị xuất khẩu nông nghiệp dù đã tăng dần nhưng vẫn dưới mức chuẩn quốc tế.

Chúng ta có thể nhìn vào sản lượng thu hoạch để đánh giá tiềm năng. Nông dân trồng cà phê Việt Nam hiện đạt năng suất hơn 3,5 tấn/ha - một trong những mức cao nhất trên thế giới - so với 0,5 tấn/ha được sản xuất ở Indonesia.

Việc sản lượng bằng hoặc vượt xa năng suất so với các nền kinh tế nông nghiệp phát triển cho thấy nông nghiệp của ASEAN hoàn toàn có cơ hội tăng trưởng hơn nữa. Theo số liệu từ Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ, sản lượng ngô của Việt Nam đã tăng từ 1,17 triệu tấn/ha vào năm 1995 lên mức trung bình 4,6 triệu tấn/ha tính đến giai đoạn hiện nay. Đối với Hoa Kỳ, con số này ở mức 11 triệu tấn/ha. Bỏ qua sự khác biệt về điều kiện khí hậu thì con số trên cho thấy một khoảng cách chênh lệch đáng kể trong tăng trưởng.

Theo số liệu từ Ngân hàng Thế giới, nông nghiệp chiếm tới 35% tổng sản phẩm quốc nội ở một số nước ASEAN, với số lượng lao động làm việc trong ngành chiếm tới 70% dân số.Đồng thời, vẫn còn hàng triệu nông dân sản xuất nhỏ lẻ vẫn tiếp tục sống trong nghèo đói.

Do đó, cải thiện năng suất trong chuỗi cung ứng nông nghiệp có thể thay đổi hoàn toàn kinh tế khu vực và chất lượng sống của người dân. Sự chuyển dịch to lớn này hoàn toàn trong tầm với, chỉ cần sự đồng thuận và nỗ lực của từng quốc gia thành viên cũng như của toàn khối ASEAN.

Có năm sáng kiến quan trọng có thể thúc đẩy sự thay đổi này: tăng cường các chương trình hỗ trợ của chính phủ để cải thiện năng suất nông nghiệp cũng như đầu tư cho công cuộc nghiên cứu và phát triển (R&D); hài hòa hóa các quy định về hải quan, về cơ sở hạ tầng và tài chính trong toàn khối ASEAN.

Rõ ràng, các chính sách của chính phủ có tác động lên mức sản lượng trong khu vực. Sự thành công của Việt Nam trong ngành cà phê chủ yếu là nhờ vào các chương trình của chính phủ để phát triển ngành này một cách thiết thực lâu dài, song song với việc triển khai các chương trình đào tạo hộ sản xuất nhỏ cũng như nỗ lực phối hợp giữa khu vực công và tư nhân. Dù còn thua xa các nước trong khối, nhưng sản lượng của Indonesia cũng đang dần cải thiện đáng kể, vì chính phủ nước này hiện đang thúc đẩy công nghiệp hóa ngành cà phê. Cụ thể, chính phủ Indonesia đã thiết lập các vườn ươm đẳng cấp quốc tế bằng nguồn vốn huy động từ khu vực tư nhân, thành lập các phòng thí nghiệm để phân tích mẫu đất và lá, đồng thời triển khai các chương trình đào tạo nông học như ở Việt Nam.

Tiếp theo, liên quan đến R & D, Hà Lan có thể được xem là một ví dụ điển hình. Mặc dù diện tích nội địa nhỏ bé so với ASEAN, nhưng nước này có những sản phẩm đạt năng suất cao nhất thế giới và hiện là nhà xuất khẩu nông sản lớn thứ hai, với giá trị 94 tỷ euro.

Điều này được lý giải là do mức đầu tư ngân sách đáng kể, cụ thể, ngân sách R & D nông nghiệp Hà Lan hàng năm trị giá 470 triệu euro - tương đương 3,3% GDP nông nghiệp. Trong khi đó, một số nền kinh tế định hướng nông nghiệp lớn của ASEAN hiện đang dành ít hơn 1% GDP nông nghiệp cho hoạt động R & D. Trong tương lai, sẽ có nhiều lợi ích tiềm năng đáng kể nếu đầu tư nhiều hơn cho hoạt động nay.

Ba vấn đề cốt lõi trên toàn ASEAN, bao gồm hải quan, vận chuyển tích hợp và chi phí giao dịch tài chính, cũng hoàn toàn có thể giải quyết được.

Một khung hải quan thống nhất, như của EU, có thể cắt giảm chi phí thương mại nội khối ASEAN. Trong ví dụ về các xe tải vận chuyển hạt tiêu nêu ra ở đầu bài, việc xử lý kép trong khâu tải và dỡ tải làm tăng đáng kể chi phí giao dịch và làm giảm khả năng cạnh tranh tổng thể. Ngoài ra, những trở ngại phi thuế quan, ví dụ như các quy định nội địa đặc thù tại các quốc gia ASEAN khác nhau, cũng cần được thống nhất thành bộ tiêu chuẩn chung. Ví dụ, Indonesia có Tiêu chuẩn quốc gia Indonesia (SNI) dành cho các mặt hàng thực phẩm được bán tại địa phương. Tuy nhiên, SNI không hoàn toàn hài hòa với các tiêu chuẩn ở các thị trường ASEAN khác nên dẫn đến tình trạng thương mại bị trì hoãn.

Kế tiếp là mạng lưới giao thông của ASEAN. Dù đã có cơ sở hạ tầng cảng tương đối phát triển với 6 trong số 25 cảng tấp nập bậc nhất thế giới trong khối, mạng lưới giao thông vẫn cần cải thiện, đặc biệt là các cơ sở đường bộ và đường sắt. Theo Kế hoạch tổng thể về Kết nối ASEAN 2025, khối này đang áp dụng và công nhận một bộ ‘quy trình hỗn hợp’.

Tương tự, trong bảng xếp hạng Chỉ số Logistics của Ngân hàng Thế giới, các nước ASEAN (trừ Singapore) xếp từ vị trí thứ 30 đến 60 trên toàn cầu. Cải thiện cơ sở hạ tầng đường bộ cũng như phát triển tổng thể ngành logistics sẽ làm tăng đánh kể năng lực cạnh tranh.

Cuối cùng, chi phí giao dịch tài chính phải được cắt giảm. Hiện tại, hầu hết các giao dịch nội khối ASEAN liên quan đến việc chuyển đổi từ nội tệ sang đô la Mỹ và sau đó là chuyển sang một loại nội tệ khác. Cải thiện cơ sở hạ tầng cho ngành ngân hàng trong khu vực có thể tạo điều kiện cho các giao dịch đơn giản hơn, rẻ hơn, và các công nghệ mới nổi trong fintech cũng nên được tận dụng. Ngân hàng nông thôn cần xem ví điện tử và cơ sở hạ tầng thanh toán điện tử như một công cụ giúp cung cấp các dịch vụ tài chính đến tay các hộ kinh doanh nhỏ.

Nếu thực hiện song song toàn bộ hoặc một phần những giải pháp nêu trên, nền kinh tế của Đông Nam Á nói chung và chất lượng sống của nông dân nói riêng sẽ được cải thiện đáng kể. Từ đó, khối ASEAN cũng sẽ đóng một vai trò quan trọng hơn trong chuỗi lương thực toàn cầu trong tương lai, và giúp nuôi sống 9 tỷ người trên hành tinh vào năm 2050.

Nguồn: Asia Nikkei - DN

Từ khóa: nông sản, ASEAN, nông nghiệp, R&D, năng suất, sản lượng, Việt Nam, Indonesia

Chuyên mục RCEP

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Phân tích - Bình luận

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Thư viện hội nhập

thu vien


phong ve thuong mai

Video

Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field

Liên kết

 

Lượt truy cập

008749887
Go to top