
Toàn cầu hóa, được định nghĩa là sự hội nhập toàn cầu của các thị trường hàng hóa, dịch vụ, dòng chảy vốn, và con người, là một hiện tượng đã tồn tại từ rất lâu và vẫn có thể tiếp tục phát triển mạnh mẽ.
Theo một báo cáo từ tổ chức CaixaBank Research, hầu hết các nghiên cứu đều thừa nhận rằng chúng ta đang ở trong giai đoạn dư chấn của một hiện tượng gọi là làn sóng toàn cầu hóa lần thứ 2, và với tốc độ phát triển hiện tại, chúng ta sẽ sớm bước vào làn sóng toàn cầu hóa lần thứ 3. Mỗi làn sóng đều gắn liền với một quá trình chuyển đổi công nghệ nhất định: làn sóng đầu tiên diễn ra trong giai đoạn từ năm 1870 đến cuộc Đại khủng hoảng (1930) và gắn với cuộc Cách mạng Công nghiệp; làn sóng thứ hai kéo dài từ khi kết thúc Chiến tranh Thế giới Thứ hai đến tận ngày hôm nay và đi cùng với cuộc Cách mạng Công nghệ Thông tin và Truyền thông; và làn sóng thứ ba, nếu có xảy ra, sẽ liên hệ chặt chẽ với cuộc cách mạng kỹ thuật số.
Quá trình toàn cầu hóa hiện đang bước vào một ngã rẽ quan trọng, bởi vì những thách thức mà nó đang đối mặt sẽ quyết định con đường phát triển của nó trong vài năm tới đây. Chúng ta cần phải nhận thức được rằng, môi trường hiện tại đang rất thiếu ổn định và những thách thức mà chúng ta đang đối mặt cần được giải quyết ổn thỏa để có thể đạt được một phiên bản toàn cầu hóa vững chắc hơn.
Ngày nay, quá trình toàn cầu hóa đã đạt đến một tầm cao chưa từng thấy: chỉ số toàn cầu hóa được tổng hợp bởi Viện Kinh tế Thụy Sỹ đang ở mức cao nhất mọi thời đại, và 3 trong số 4 trụ cột (hàng hóa, dòng chảy vốn và con người, ngoại trừ dịch vụ) cũng phản ánh mức độ toàn cầu hóa sâu rộng. Tương tự như vậy, tỷ lệ tổng kim ngạch thương mại trên tổng GDP vào những năm 1970 cũng vượt xa cột mốc đỉnh cao của chính nó vào năm 1913, trong làn sóng toàn cầu hóa lần thứ nhất.
Đây là một kết quả từ tiến trình tự do hóa thương mại hàng hóa. Và mặc dù tốc độ phát triển có dấu hiệu chậm lại trong những năm gần đây, do các biến cố bùng nổ theo chu kỳ (những cuộc Đại Suy thoái) và các tác động mang tính cấu trúc (sự phân mảnh của chuỗi cung ứng toàn cầu), các dòng chảy thương mại ngày nay vẫn luôn duy trì ở mức cao. Ngược lại, một điểm nghẽn to lớn vẫn tiếp tục tồn tại trong lĩnh vực dịch vụ: mặc dù tỷ lệ các ngành dịch vụ trên tổng giá trị xuất khẩu tăng từ 9% vào năm 1970 lên thành 25% vào năm 2018, các rào cản quy định vẫn còn rất khắt khe đối với rất nhiều lĩnh vực (chẳng hạn như các dịch vụ tài chính và viễn thông).
Nhiều nhà kinh tế học ủng hộ việc thiết lập thêm nhiều hiệp định thương mại tự do đầy tham vọng, nhằm đẩy mạnh thương mại dịch vụ. Điều này hoàn toàn có thể trở thành hiện thực trong một thời đại mà những thay đổi công nghệ có thể giúp đơn giản hóa các hoạt động xuất khẩu và nhập khẩu dịch vụ. Lĩnh vực tài chính cũng đã đạt đến trình độ hội nhập rất cao, mặc dù cuộc khủng hoảng tài chính từng gây ra một số trì trệ, khiến các dòng chảy vốn ngân hàng xuyên biên giới bị kiểm soát gắt gao hơn.
Vấn đề toàn cầu hóa dòng chảy con người cũng ngày càng quan trọng và đang nhận được sự quan tâm nhất định trong các cuộc tranh luận của công chúng, bởi ảnh hưởng kinh tế của nó và bởi những tai tiếng từ cuộc khủng hoảng di cư tị nạn (từ năm 2000 đến 2017, đã có khoảng 33,000 người di cư mất mạng trên biển Địa Trung Hải khi đang hướng về châu Âu, theo số liệu của Liên Hiệp Quốc). Mặc dù tỷ lệ người di cư trên tổng dân số vẫn duy trì ở mức ổn định, khoảng 3% trong suốt 100 năm qua, con số thực tế đã tăng lên 244 triệu người, trong đó 19% đang sinh sống tại Hoa Kỳ và 23% tại Liên minh châu Âu. Đa phần các dòng chảy di cư là từ các nước đang phát triển sang các nước đã phát triển, và 40% trong số họ di cư dưới hình thức tham gia chương trình đại học. Xu hướng này ngày càng tăng lên trong bối cảnh bùng nổ cạnh tranh thu hút nhân tài trên toàn cầu, dẫn đến tình trạng chảy máu chất xám tại các nền kinh tế đang phát triển.
Sau khi miêu tả vắntắt những yếu tố khác nhau tạo nên quá trình toàn cầu hóa, chúng ta phải phân tích những thách thức đang gặp phải. Thách thức đầu tiên chính là việc củng cố các thể chế toàn cầu quan trọng (như Qũy Tiền tệ Quốc tế - IMF, Ngân hàng Thanh toán Quốc tế - BIS, và Tổ chức Thương mại Thế giới - WTO). Các tổ chức này được thành lập sau Chiến tranh Thế giới Thứ hai và hỗ trợ làn sóng toàn cầu hóa hiện nay.
Ví dụ như IMF, cơ quan này nên hiện đại hóa hệ thống quản trị doanh nghiệp của mình, để tạo sức ảnh hưởng cao hơn lên các nền kinh tế mới nổi, những nơi đã phát triển mạnh mẽ nhờ vào tiến trình toàn cầu hóa. Rất khó để biện hộ cho việc một số nước trong OECD nắm 64% quyền biểu quyết ra quyết định, trong khi họ chỉ chiếm 46% tổng GDP toàn cầu, hay như quyền biểu quyết của Trung Quốc chỉ chiếm 6% trong khi nước này hiện nắm giữ đến 19% nền kinh tế toàn cầu. Còn đối với BIS, việc các dòng chảy tài chính toàn cầu ngày càng gắn kết chặt chẽ với nhau hơn cho thấy cơ quan này và các thể chế tài chính khác nên giữ một vai trò chủ động hơn, nhằm thúc đẩy hợp tác trong chính sách tiền tệ và tài chính vĩ mô. Cuối cùng, WTO nên đóng một vai trò quan trọng hơn trong việc giúp Trung Quốc hội nhập một cách hài hòa vào nền thương mại toàn cầu.
Thách thức thứ hai là vấn đề phân bổ tốt hơn những lợi ích tổng thể. Điều quan trọng là phải nhấn mạnh được những tác động tích cực của quá trình toàn cầu hóa trong những thập kỉ gần đây: ở các nước đang phát triển, quá trình này giúp cho hàng triệu người dân thoát khỏi cảnh nghèo đói, còn ở các nền kinh tế tiến bộ, nó tạo ra những giá trị quan trọng cho sự thịnh vượng của người dân, chẳng hạn như việc họ có thể lựa chọn nhiều mặt hàng tiêu dùng đa dạng, với mức giá phải chăng.
Tuy nhiên, công bằng mà nói, mặc cho những lợi ích này, toàn cầu hóa cũng gây ra tác động xấu lên một vài lĩnh vực nhất định: theo thống kê của hai nhà kinh tế học tại Đại học MIT, Acemoglu và Autor, 10% số công việc sản xuất bị mất đi ở Hoa Kỳ từ năm 1999 đến 2011 (khoảng 560,000 công việc) do đối mặt với sự cạnh tranh thương mại gắt gao của Trung Quốc. Trong bất kì trường hợp nào, chúng ta cũng cần tự hỏi tại sao những cuộc tranh luận xoay quanh một mô hình toàn cầu hóa bao trùm hơn, với mục đích bồi thường kẻ thua và ngăn họ không bị loại bỏ khỏi một nền kinh tế mới, ngày càng sôi nổi hơn bao giờ hết.
Câu trả lời chính là, khi mức độ tiếp cận toàn cầu hóa của một nền kinh tế còn giới hạn, thì lợi ích của việc hội nhập sâu rộng sẽ cao hơn, vì tổng thu nhập thực sự của nền kinh tế sẽ có dấu hiệu tăng lên rõ ràng. Tuy nhiên, khi mà nền kinh tế đã đạt đến một trình độ toàn cầu hóa nhất định, sẽ không còn nhiều khoảng trống để tăng kích thước của chiếc bánh lợi ích, trong khi đó, mất mát gây ra từ các lĩnh vực bị ảnh hưởng tiêu cực lại tăng lên. Đây là lý do tại sao, việc xúc tiến các biện pháp như chính sách lao động chủ động hay chính sách bảo đảm thu nhập trong giai đoạn thất nghiệp của những người bị ảnh hưởng bất lợi bởi quá trình thay đổi lại trở nên ngày một quan trọng.
Cuối cùng, thách thức thứ ba của quá trình toàn cầu hóa đó là phải áp dụng các cơ chế nào để cho quá trình thay đổi công nghệ mà chúng ta đang chứng kiến có thể diễn ra thành công và toàn diện. Nói rõ hơn, cuộc cách mạng kỹ thuật số buộc chúng ta phải tính toàn lại quá trình toàn cầu hóa hiện tại, và cuộc cách mạng này cũng dẫn đến những tác động khác nhau lên các hướng khác nhau.
Một mặt, sự gia tăng trong việc sử dụng robot khiến cho tỷ lệ công việc thuê ngoài giảm xuống đáng kể (theo như Deloitte, chí phí cho một robot dự tính sẽ bằng 10% chi phí trả cho một công nhân làm việc sản xuất trong nước và bằng 35% chí phí trả cho một công nhân làm việc tại các cơ sở sản xuất ở nước ngoài).
Mặt khác, việc mở rộng quy mô sản xuất ở cấp độ toàn cầu dẫn đến sự nổi lên của các tập đoàn đa quốc gia khổng lồ, điều này có tiềm năng gây bất lợi cho hoạt động cạnh tranh và đổi mới. Nếu như tiến trình toàn cầu hóa và các thể chế đại diện cho nó không kịp thời giải quyết những thách thức này, những tư tưởng chính trị chủ nghĩa dân túy theo đường lối đảo ngược toàn cầu hóa có thể sẽ thắng thế.
Nhiều bài nghiên cứu cho thấy các chính trị gia dân túy đã bắt đầu thu được những lợi ích đầu tiên: ở cả Hoa Kỳ và EU, tại những vùng bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi hàng nhập khẩu từ Trung Quốc, sự ủng hộ của người dân dành cho những đảng phái theo chủ nghĩa dân túy cũng tăng cao - nhiều đến mức một vài nhà khoa học chính trị thậm chí khẳng định rằng các cuộc tranh luận chính trị, thông thường sẽ tập trung vào sự khác biệt về tư tưởng giữa cánh tả và cánh hữu, sẽ chuyển thành một cuộc đấu tranh mãnh liệt giữa các nhà toàn cầu hóa và những người theo chủ nghĩa dân túy.
Trước khi đi vào phần kết luận, chúng ta sẽ phân tích nguyên nhân khiến cho làn sóng toàn cầu hóa lần thứ nhất bị lệch hướng, để xem liệu chúng ta có đúc kết được bài học nào từ việc này. Dấu hiệu khủng hoảng bắt đầu nhen nhóm từ cuối thế kỷ thứ 19, thời điểm mà các quan chức chính phủ bắt đầu bị chi phối trước áp lực đòi gia tăng thuế quan, gây ra bởi một số nhóm ngành nghề nhất định (chẳng hạn như ngành nông nghiệp). Cùng lúc đó, các quốc gia như Mỹ, Canada, Úc, và Argentina không thể quản lý hiệu quả tình trạng di cư quy mô lớn từ Châu Âu, dẫn tới việc họ phải đóng cửa biên giới vào những năm 1910. Nhiều nhà sử học cho rằng, thái độ phản đối toàn cầu hóa trong vô số tầng lớp người dân là một trong những nguyên nhân dẫn đến Chiến tranh Thế giới Thứ nhất năm 1914 đến 1918.
Cuộc Đại Suy Thoái là đòn đánh cuối cùng lên làn sóng toàn cầu hóa thứ nhất: các quốc gia phản ứng bằng cách đề ra các chính sách đi theo chủ nghĩa bảo hộ trên diện rộng, khiến cho khủng hoảng kinh tế năm 1929 tệ hại hơn rất nhiều, để lại một tiếng vang lớn trên toàn cầu. Theo nhà kinh tế học Jakob Madsen, từ năm 1929 đến 1932, khối lượng hàng hóa giao thương thực tế trên toàn cầu đã giảm 33%, 2/3 trong số đó là do các chính sách chủ nghĩa hộ.
Tóm lại, trong bài viết này, chúng ta biết được toàn cầu hóa đang đi vào một giai đoạn bước ngoặc lịch sử, và bây giờ chính là thời điểm phải giải quyết những thách thức khiến toàn cầu hóa bị nhiều người ngờ vực. Một điều chắc chắn rằng, chúng ta vẫn có thể lạc quan nhưng cũng phải hành động thận trọng: hệ thống quản trị toàn cầu hiện tại có rất nhiều công cụ để loại bỏ những bất cập và thúc đẩy một phiên bản toàn cầu hóa hiện đại và toàn diện hơn. Tuy nhiên, nếu không giải quyết được các bất cập trong quá trình phát triển, chúng ta sẽ có nguy cơ biến cái bóng của quá khứ trở thành ác mộng của hiện tại. Liệu chúng ta có tránh được việc bị vấp chân hai lần liên tục vào cùng một hòn đá đều phụ thuộc vào thời điểm này.
Nguồn: The Corner - HN
Từ khóa: Toàn cầu hóa, chủ nghĩa bảo hộ, hội nhập kinh tế, chiến tranh thương mại, bất bình đẳng thu nhập, rào cản phi thuế quan, WTO, IMF, BIS
Các tin khác
- Cái giá của cuộc chiến thương mại: tăng trưởng GDP quý 3 của Trung Quốc giảm xuống mức thấp nhất kể từ năm 2009 - theo một cuộc thăm dò ý kiến của Reuters - 17/10/2018
- Căn nguyên cuộc chiến thương mại Trung-Mỹ: Xung đột giữa hai hệ thống - 17/10/2018
- Bắc Kinh ‘nhắm đến hiệp định thương mại xuyên Thái Bình Dương’ để bảo hiểm nền kinh tế trước sự tấn công từ Mỹ - 17/10/2018
- Thúc đẩy quan hệ kinh tế giữa Việt Nam với các nước EU - 17/10/2018
- Khu kinh tế cửa khẩu “chết lâm sàng”: Giải cứu... động lực tăng trưởng! - 17/10/2018






















