
Vài năm trở lại đây, do chi phí lao động tăng, nhu cầu đa dạng hóa của doanh nghiệp, và khi chính phủ Trung Quốc chuyển trọng tâm từ các ngành thâm dụng lao động sang các ngành kỹ thuật cao, doanh nghiệp Trung Quốc cũng như các doanh nghiệp nước ngoài đang hoạt động tại đây đã dần chuyển hoạt động sản xuất sang khu vực Đông Nam Á, đặc biệt là Việt Nam.
Bên cạnh các lý do trên, cuộc chiến thương mại đang leo thang giữa Mỹ và Trung Quốc cũng là một nguyên nhân nữa góp phần đẩy nhanh xu hướng này.
Đi đường vòng qua Việt Nam
Do gần gũi Trung Quốc về mặt địa lý, giá lương thấp, lao động có tay nghề, sở hữu nhiều hiệp định thương mại và tính kết nối khu vực cao, Việt Nam đang nổi lên như một trong các lựa chọn thay thế mà các nhà sản xuất đang hướng đến.
Chính phủ Việt Nam đã lường trước được tình huống, khi Mỹ đánh thuế Trung Quốc, các nhà sản xuất có thể đưa hàng hóa đi vòng qua Việt Nam để xuất khẩu, vì vậy, đã tiến hành một số bước nhằm đảm bảo xác định chính xác nguồn gốc cho cho hàng xuất nhập khẩu. Nghị định số 31/2018/NĐ-CP có hiệu lực từ tháng 3 năm 2018 đã bổ sung thêm quy định liên quan đến nguồn gốc hàng hóa xuất nhập khẩu. Cùng chung lo ngại với Việt Nam, chính phủ Mỹ trong tháng Ba vừa qua cũng đã áp thuế cao lên mặt hàng thép xuất khẩu từ Việt Nam có nguồn gốc Trung Quốc.
Điều này chứng tỏ, trong ngắn hạn các nhà xuất khẩu Trung Quốc có thể sẽ mượn Việt Nam để bẻ hướng hàng hóa, nhưng hành động trên không được khuyến khích. Thay vì làm vậy, các doanh nghiệp này nên chú trọng các biện pháp hạn chế rủi ro trong dài hạn, để giảm thiểu mức độ tác động từ cuộc chiến.
Giảm thiểu rủi ro
Doanh nghiệp có nhà máy đặt tại Trung Quốc có thể giảm thiểu rủi ro bằng cách di chuyển hoạt động sang những nơi khác có chi phí tốt hơn trong Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam. Biện pháp này đòi hỏi doanh nghiệp phải tìm kiếm những nhà cung ứng mới, thương lượng lại hợp đồng và di dời tài sản, và vì vậy, cũng sẽ tốn nhiều thời gian và tiền bạc của doanh nghiệp. Trước mắt, để giảm bớt thiệt hại, các công ty có thể bổ sung thêm nhà cung ứng và áp dụng các thủ thuật né thuế kỹ thuật (nếu có thể).
Rà soát lại các mức thuế
Trước khi cân nhắc việc di dời khỏi Trung Quốc, các công ty cần đánh giá kỹ các mức thuế và đảm bảo phân loại mã HS chính xác cho hàng hóa của mình. Hơn nữa, các công ty cũng cần tập trung vào giá trị tính thuế hải quan để xác định giá trị hàng hóa nhập khẩu.
Điều này không chỉ giúp xác định chính xác chi phí tăng thêm, mà còn cung cấp cơ hội để sử dụng các thủ thuật né thuế kỹ thuật (tariff engineering strategies).
Tối ưu hóa chuỗi cung ứng
Các nhà nhập khẩu Mỹ cần phải làm việc kỹ với nhà cung cấp để đảm bảo tính chính xác cho xuất xứ hàng hóa, đặc biệt với các nhà phân phối cấp 2 và cấp 3. Điều này sẽ không chỉ giúp doanh nghiệp xác nhận lại nước xuất xứ, mà còn giúp đa dạng chuỗi cung ứng để giảm thiểu tác động. Một danh sách nhà cung ứng đa dạng về địa lý còn giúp doanh nghiệp quản trị được các rủi ro khác như lạm phát và biến động tiền tệ.
Các doanh nghiệp có thể thay thế một phần hoặc toàn bộ chuỗi cung ứng bằng các nhà cung ứng mới, dựa trên số lượng tương tự có sẵn trong khu vực và dựa trên việc so sánh chi phí.
Chuyển đến một địa điểm mới
Các doanh nghiệp sản xuất có thể chuyển một phần hoặc toàn bộ hoạt động sản xuất sang một nước thứ ba hiện không bị đánh thuế cao như Trung Quốc. Trong ngắn hạn, doanh nghiệp có thể di chuyển một phần quy trình sản xuất sang nước khác, từ đó giúp thay đổi mã HS đối với các mặt hàng bán thành phẩm được sản xuất ở Trung Quốc, và vì vậy, có thể được áp mức thuế thấp hơn.
Về lâu dài, doanh nghiệp cần phải tập trung di dời toàn bộ dây chuyền sản xuất sang nước khác, chẳng hạn như Việt Nam. Mặc dù trong vài năm gần đây, các hãng điện tử lớn như Intel, Foxconn, LG, và Samsung đã chuyển sang Việt Nam do giá nhân công rẻ hơn Trung Quốc. Thêm vào đó, một vài thương hiệu bán lẻ như Nike, Adidas, và Puma cũng đã di dời sang Việt Nam và Campuchia để cắt giảm chi phí sản xuất. Cuộc chiến thương mại đang diễn ra hiện nay sẽ tiếp tục thúc đẩy thêm cho xu hướng này.
Tại sao là Việt Nam
Ngoài vị trí địa lý sát bên Trung Quốc, Việt Nam còn có một vài lợi thế khác để các nhà sản xuất cân nhắc khi di dời ra khỏi Trung Quốc.
Giá nhân công thấp hơn
Trong khi mức lương ở Trung Quốc đã tăng dần đều trong vài năm trở lại đây, thì mức lương bình quân ở Việt Nam vẫn còn thấp, mới chỉ hơi nhỉnh hơn một nửa mức lương ở vùng Đông Nam Trung Quốc.
Lao động lành nghệ
Chất lượng lao động cùng với cấu trúc dân số trẻ ở Việt Nam đem lại cho nhà sản xuất một lực lượng lao động ổn định
Hiệp định thương mại tự do
Việt Nam đã tham gia một số Hiệp định Thương mại Tự do (FTA), từ đó có thêm lợi thế cạnh tranh so với các quốc gia khác trong khu vực. Ngoài các FTA mà Việt Nam tham gia với tư cách thành viên ASEAN, Việt Nam còn tự có riêng cho mình các Hiệp định song phương với các nước lớn.
Hai FTA gần đây của Việt Nam đang trong giai đoạn rà soát là: FTA EU – Việt Nam và Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP).
Khu vực kinh tế biên giới
Do có đường biên giới chung, Việt Nam và Trung đã thiết lập một số khu vực hợp tác kinh tế qua biên giới, như khu kinh tế Long Bang – Trà Lĩnh, và khu mậu dịch tự do Bằng Tường (Quảng Tây) dọc theo biên giới.
Hai nước cũng đang lên kế hoạch thiết lập thêm nhiêu khu vực thương mại tự do nữa gần các trung tâm sản xuất công nghiệp của tỉnh Quảng Đông và đồng bằng sông Dương Tử.
Cảng biển và các điểm kết nối hàng hải
Việt Nam nằm dọc theo tuyến vận tải hàng hải chính của thế giới. Tính đến năm 2017, Việt Nam có tổng cộng 44 cảng biển với tổng công suất khai thác là 470 – 500 triệu tấn mỗi năm. Mặc dù công suất cảng của Trung Quốc cao hơn nhiều, nhưng chính phủ Việt Nam cũng đang nỗ lực nâng cao năng lực cảng của mình, bằng việc đầu tư xây dựng mới hàng tỷ USD và nâng cấp công suất cho các cảng hiện hữu.
Các cảng lớn của Việt Nam hiện nay gồm có Hải Phòng, Đà Nẵng, Qui Nhơn và Thành phố Hồ Chí Minh. Ngoài ra, Việt Nam cũng đang tập trung phát triển một số khu cảng khác, như Cảng quốc tế Mỹ Thủy, Cảng Liên Chiểu, và Cảng cửa ngỏ quốc tế Lạch Huyện.
Kết nối đường bộ/đường sắt với Trung Quốc
Do có đường biên giới chung, kết nối đường bộ và đường sắt giữa Việt Nam và Trung Quốc là một phần quan trọng trong hiệp định song phương giữa hai nước. Tuyến đường sắt Côn Minh – Hải Phòng, tuyến đường sắt Nam Xương – Hà Nội, cùng với Hàng lang vận tải Côn Minh – Hải Phòng đã đi vào hoạt động, sẽ gia tăng hơn nữa sự kết nối giữa hai nước.
Trong thời gian tới, Việt Nam sẽ vẫn tiếp tục là thỏi nam châm hút các ngành thâm dụng lao động từ Trung Quốc sang, nhờ vào mức lương thấp và năng lực hạ tầng hiện có. Tuy nhiên, Việt Nam cũng cần chú trọng phát triển hơn nữa chuỗi cung ứng, các ngành công nghiệp hỗ trợ và hạ tầng xuất khẩu để thu hút các “ông lớn” trong ngành vì họ cũng đang tìm kiếm các nguồn cung ứng thay thế cũng như tìm kiếm các địa điểm mới để đặt cơ sở sản xuất.
Nguồn: vietnam-briefing.com – TQ
Từ khóa: Việt Nam, Trung Quốc, chiến tranh thương mại, di dời, cơ sở sản xuất, lợi thế
Các tin khác
- Cách mạng công nghiệp 4.0 khiến nhiều ngành nghề cũ mất đi, ngành nghề mới ra đời - 25/09/2018
- 7 Vấn đề cơ bản mọi người cần biết về việc tại sao tự do thương mại lại có ích - 25/09/2018
- Chiến tranh thương mại Mỹ-Trung sẽ tạo trật tự kinh tế mới nào? - 25/09/2018
- Trung Quốc còn vũ khí gì trong cuộc chiến thương mại với Mỹ - 25/09/2018
- 11 think tank của Mỹ và Anh quốc phát thảo hiệp định thương mại tư do lý tưởng giữa hai nước - 24/09/2018






















