JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU
Phân tích - Bình luậnHội nhập kinh tế quốc tếToàn cầu hóa không phải là thủ phạm

Toàn cầu hóa không phải là thủ phạm

IMF

Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) và các tổ chức uy tính khác có thể chứng thực cho một thực tế rằng tiến trình toàn cầu hóa là nguyên nhân góp phần tăng trưởng kinh tế toàn cầu thêm từ 1,5% đến 2%, giúp đưa hàng trăm triệu người thoát khỏi nạn nghèo đói ở những khu vực đang phát triển, và nâng cao tiêu chuẩn sống cho các nước đã phát triển. Các nhà phân tích của Morgan Stanley và các tổ chức kinh tế tài chính khác ở Mỹ đã ước lượng rằng, chỉ riêng hàng nhập khẩu giá rẻ từ Trung Quốc đã giúp tiết kiệm cho các gia đình Mỹ trung bình 1000 USD/năm, cho phép người tiêu dùng có thể mua nhiều và tiết kiệm cũng nhiều hơn.

Một nghiên cứu thực hiện bởi Đại học Pennsylvania (trường cũ của Trump) phát hiện rằng công tự động hóa mới chính là nguyên nhân gây mất việc làm trong các ngành sản xuất. Ngoài ra, chính những doanh nghiệp Mỹ quyết định chuyển cơ sở sản xuất sang các nước đang phát triển với chi phí nhân công thấp, và với các quy định lỏng lẻo về lao động và môi trường, mới là nguyên nhân khiến cho các ngành sản xuất bị chuyển dịch khỏi nước Mỹ.

Thực ra, các chính sách thương mại của Washington và việc các nhà sản xuất Mỹ chuyển cơ sở sản xuất sang Trung Quốc mới là nguyên nhân khiến Mỹ thường xuyên bị thâm hụt thương mại với Trung Quốc. Quốc hội Mỹ đã ban hành lệnh cấm xuất khẩu những sản phẩm có tiềm năng “đe dọa an ninh quốc gia” hay những sản phẩm “dân dụng/quân sự” đến Trung Quốc và các quốc gia mà họ coi là “mối đe dọa” tiềm năng, làm lãng phí một lượng đáng kể những cơ hội xuất khẩu. Bên cạnh đó, hơn hai phần ba giá trị nhập khẩu của Mỹ (khoảng 270 tỷ USD trong tổng số 350 tỷ USD trong năm 2016) là hàng hóa của công ty Mỹ sản xuất tại Trung Quốc. Thực tế, Trung Quốc chỉ xuất khẩu 180 tỷ USD giá trị hàng hóa vào Mỹ trong năm 2016, và con số này cũng khá gần với giá trị mà Mỹ xuất khẩu sang Trung Quốc. Nếu Mỹ nới lỏng các quy định hạn chế xuất khẩu và tái hiệu chỉnh giá trị nhập khẩu “thực tế” từ Trung Quốc, Mỹ có thể đã tạo ra thặng dư thương mại với nền kinh tế lớn thứ hai thế giới.

Xu hướng toàn cầu hóa sau Thế chiến II

Xu thế toàn cầu hóa từng được Mỹ và Anh Quốc quảng bá mạnh mẽ trong giai đoạn hậu chiến tranh, nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Năm 1994, khi mà sự thất bại của Phe Phát xít (Đức, Nhật và Ý) trở thành một kết quả được định sẵn, Mỹ và Anh Quốc đã khởi động Hội nghị Bretton Woods (với sự tham gia của 42 quốc gia đồng minh) để vạch ra lộ trình cho nền kinh tế thế giới thời hậu chiến, với nền tảng là  tự do hóa thương mại. Từ hội nghị này, hai tổ chức mới đã ra đời: Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) và Ngân hàng Thế giới (WB). Mục tiêu của IMF là hỗ trợ thúc đẩy hoạt động thương mại và đầu tư. Mục tiêu của WB là hỗ trợ tiến trình tái thiết nền kinh tế.

Mỹ, với vai trò là nhà tài trợ tài chính lớn nhất và cũng là cổ đông lớn nhất cho cả hai tổ chức, đã nắm quyền chi phối các quy tắc thương mại hậu chiến tranh, nhằm phục vụ cho chính sách “Nước Mỹ trên hết”. Đại diện thương mại Mỹ lúc bấy giờ, ông Harry Dexter White, đã từ chối đề nghị của Anh Quốc – phát hành một đồng tiền chung cho toàn thế giới (gọi tên là bancor). Thay vào đó, Mỹ đã thành công trong nỗ lực đưa đồng đô la Mỹ trở thành “đồng tiền dự trữ” cho hoạt động giao dịch quốc tế, biến Mỹ thành “Người cho vay cuối cùng” của cả thế giới, cho phép Mỹ nắm giữ nguồn vốn “không giới hạn” (bởi vì đồng đô la Mỹ vốn được chấp nhận rộng rãi như một đơn vị trao đổi trung gian, đơn vị dự trữ và đơn vị tính). Từ đó, vị thế bá chủ nền kinh tế toàn cầu của Mỹ cũng được tăng cường.

Mỹ cũng yêu cầu IMF và WB hoạt động như một ngân hàng, quảng bá nền kinh tế dân chủ kiểu Mỹ, và buộc các nước vay nợ phải áp dụng khuôn khổ Đồng thuận Washington (một khuôn khổ tân cổ điển được thiết kết bởi John Williamson, được xem như một định hướng phát triển chung, áp đặt lên tất cả các nền kinh tế mới nổi). Khuôn khổ bao gồm các điều kiện sau: áp dụng dụng những chính sách thắt lưng buộc bụng khi tốc độ tăng trưởng bị giảm sút hoặc trong thời kỳ suy thoái kinh tế, tư nhân hóa các doanh nghiệp nhà nước, và tự do hóa hoạt động thương mại và đầu tư.

Nhưng điều kiện này được thiết lập để bảo vệ và quảng bá những lợi ích của phương Tây, đặc biệt là các quốc gia như Mỹ, và hành động “giúp đỡ” những nước vay tiền chỉ là một mục tiêu phụ. Mục đích của yêu cầu tư nhân hóa các doanh nghiệp nhà nước là nhằm tạo điều kiện cho các công ty phương Tây có cơ hội thâu tóm những ngành kinh doanh trọng yếu (ngân hàng và dầu hỏa) tại quốc gia vay tiền, như cách Nga đã làm với một số quốc gia Châu Phi. Việc yêu cầu các nước vay tiền phải áp dụng chính sách thắt lưng buộc bụng là nhằm đảm bảo nước cho vay sẽ được trả nợ đầy đủ. Tự do hóa thương mại và đầu tư là cách để buộc các nền kinh tế đang phát triển phải mở cửa thị trường, cho phép các nước đã phát triển tiến vào.

Nhằm bảo vệ chặt chẽ hơn thị trường nội địa khỏi hàng nhập khẩu nước ngoài, Quốc hội Mỹ đã từ chối yêu cầu của Anh Quốc về việc thành lập Tổ chức Thương mại Quốc tế (ITO).

Để thay thế ITO, Mỹ đã đề ra Hiệp ước chung về thuế quan và mậu dịch (GATT), được thiết lập để đàm phán cắt giảm hoặc loại bỏ hàng rào thuế quan, nhưng chỉ trong lĩnh vực hàng hóa. Có thể thấy rõ rằng, các nước phương Tây nói chung và và Mỹ nói riêng đã (và đang) chỉ quan tâm đến việc cắt giảm thuế quan đối với các loại hàng hóa mà họ nắm giữ lợi thế so sánh. Đàm phán GATT đã được hoàn tất cùng với sự ra đời của các rào cản phi thuế quan như những biện pháp chống bán phá giá, tại vòng đàm phán Tokyo (tuy nhiên, các nước đang phát triển lại không được mời và cũng không được tham dự GATT).

Chỉ đến khi vòng Uruguay diễn ra (1986 – 1994) theo khuôn khổ của GATT, các quốc gia đang phát triển mới được mời và tham dự vào các cuộc đàm phán thương mại đa phương. Nhưng đó cũng chỉ vì các nước phương Tây và Nhật Bản muốn xây dựng một hiệp định thương mại phi nông nghiệp, để tăng khả năng thâm nhập vào thị trường màu mỡ của các nền kinh tế đang phát triển, đặc biệt là Trung Quốc.

Tuy nhiên, Mỹ và EU vẫn tiếp tục áp đặt các rào cản phi thuế quan (NTBs) để cấm hoặc hạn chế những mặt hàng nhập khẩu “gây hại” cho các nhà sản xuất nội địa, dù các nhà sản xuất này đã được hưởng rất nhiều trợ cấp. Trợ cấp nông nghiệp chiếm khoảng 50% chi tiêu ngân sách của EU, và hơn 25% thu nhập của ngành nông nghiệp Mỹ là từ các khoản tài trợ của chính phủ. EU và Mỹ cũng đơn phương áp đặt thuế chống bán phá giá lên thép và tấm năng lượng mặt trời sản xuất tại Trung Quốc, cáo buộc Trung Quốc bán những sản phẩm này với giá “thấp hơn cả chi phí sản xuất”. Mới đây, Mỹ cũng áp đặt mức 300% thuế đối với dòng máy bay CS100 của hãng Bombardier, đổ lỗi cho việc trợ giá mạnh tay từ chính phủ Canada.

Vấn đề phát sinh từ những thay đổi trong cơ cấu nền kinh tế

Từ nhưng năm 1980 đến nay, nền kinh tế của các nước phương Tây – đặc biệt là Mỹ - đang trải qua những thay đổi đáng kể về cơ cấu, bao gồm xu hướng chuyển cơ sở sản xuất ra nước ngoài và tự động hóa sản xuất, trong nỗ lực làm tăng lợi nhuận và đẩy nạn ô nhiễm ra nước ngoài. Hoạt động sản xuất tại các quốc gia đang phát triển, đặc biệt là Trung Quốc, thường có chi phí thấp hơn, nhờ vào lực lượng nhân công giá rẻ và cơ sở hạ tầng hiệu quả.

Tuy nhiên, các quốc gia phương Tây lại không triển khai đầy đủ các chương trình tái đào tạo dạy nghề, để giải quyết vấn đề thay thế lao động (bằng máy móc) và thay đổi thị trường lao động. Những sự đổi mới của kỹ thuật công nghệ cũng gây ảnh hưởng đến thị trường việc làm, khiến cho các yêu cầu về kỹ năng trong công việc biến đổi theo từng ngày. Hệ quả là cơ cấu thất nghiệp không chỉ tồn tại mà còn tăng lên.

Việc chính phủ chỉ phục vụ cho các nhóm lợi ích đã góp phần gây ra nhiều vấn đề thương mại và biến đổi khí hậu. Cựu thủ tướng Canada, ông Stephen Harper đã từ chối phê chuẩn Hiệp ước Tokyo về khí thải nhà kính để bảo vệ lợi ích cho ngành khai thác cát dầu ở tỉnh Alberta. Chính sách hồi sinh ngành dầu khí và than đá của Trump cũng gần như sẽ làm trầm trọng thêm vấn đề biến đổi khí hậu. Trump đã xóa bỏ Hiệp định Đối tác Kinh tế Xuyên Thái Bình Dương (TPP) và đưa ra những đề nghị trong NAFTA mà Canada và Mexico gọi là những yêu sách “khó chấp nhận”. Chính sách của Trump có thể sẽ gây xói mòn hoạt động thương mại giữa Mỹ và hai đối tác thân cận, làm trầm trọng thêm các vấn đề kinh tế ở cả ba quốc gia.

Tuy nhiên, các chính trị gia ở những nền kinh tế đang phát triển cũng có một phần lỗi trong các vấn đề về kinh tế và biến đổi khi hậu của thế giới. Sự thiếu năng lực và thiếu thiện chí của các lãnh đạo Trung Quốc trong việc ngăn chặn tình trạng sản xuất dư thừa là nguồn gốc của những bất đồng về chính sách thương mại giữa Trung Quốc với các quốc gia khác. Chủ trương làm ngơ của chính phủ trước các hành động xả thải độc hại vào môi trường từ các doanh nghiệp cũng là nguyên nhân gây ra biến đổi khí hậu.

Kết luận cuối cùng   

Có thể nói rằng, chính các nước phương Tây, và đặc biệt là Mỹ, đã từng “xâm chiếm thị trường của các nước đang phát triển”. Các nước phương Tây đã từng tự làm giàu và củng cố quyền lực bằng cách thực dân hóa những vùng đất hoang sơ, khai thác tài nguyên nơi đây và chèn ép người dân bản địa. Kế hoạch Marshall từng được tung hô (một chương trình ra đời sau Thế chiến II nhằm hỗ trợ tái thiệt cho khu vực Tây Âu và sau này là Châu Á, tiền thân của chính sách “Nước Mỹ trên hết”), buộc các quốc gia vay nợ phải trở thành những nền tự do dân chủ và chi tiền cho hàng hóa của Mỹ.

Nhược điểm của chính sách “Quốc gia trên hết” nằm ở chỗ lợi ích giữa các quốc gia sẽ dễ bị va chạm, gây ra những xung đột về thương mại và xung đột địa chính trị. Việc không ngừng diễn tập quân sự với Hàn Quốc và yêu cầu Triều Tiên phải ngưng phát triển vũ khí hạt nhân sẽ không thể giải quyết được vấn đề mà chỉ làm tình hình ở Bán đảo Triều Tiên thêm căng thẳng. Tương tự, một cuộc chiến thương mại Mỹ-Trung sẽ xảy ra nếu Mỹ vẫn không chịu nhìn nhận rằng các chính sách thương mại và cơ cấu nền thương mại của Mỹ mới là nguyên nhân gây ra thâm hụt với Trung Quốc.

Tiến trình toàn cầu hóa không phải là nguyên nhân khiến nền kinh tế các nước phương Tây bị suy yếu. Cách mà họ vận dụng và kiểm soát tiến trình này có thể mới là nguyên nhân thực sự. Phương Tây cũng không hài lòng khi nhìn thấy nền kinh tế Trung Quốc phát triển mạnh mẽ, và đang ra sức ngăn chặn quốc gia này vượt lên vị trí dẫn đầu.

Nguồn: Asia Times - HN

Từ khóa: toàn cầu hóa, kinh tế, thương mại, biến đổi khí hậu, thất nghiệp, TPP, NAFTA

Chuyên mục RCEP

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Phân tích - Bình luận

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Thư viện hội nhập

thu vien


phong ve thuong mai

Video

Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field

Liên kết

 

Lượt truy cập

008772685
Go to top