
Gần một nữa các giao dịch thương mại và đầu tư của Anh là thực hiện với EU. Hiện tại, khi vẫn còn là thành viên EU, Anh vẫn đang áp dụng gần như cùng một hệ tiêu chuẩn cho các loại sản phẩm và dịch vụ. Thông qua bức bạch thư về vấn đề Brexit, chính phủ Anh Quốc đã đề nghị với EU và Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), , về việc thiết lập các lộ trình thương mại giữa EU với Vương quốc Anh,bao gồm các đề xuất về thuế nhập khẩu và hạn ngạch, và “sao chép lại các hiệp định thương mại đang tồn tại nhiều nhất có thể”. Nếu không có hiệp định thương mại nào được thiết lập với EU thời hậu Brexit, khối EU và Anh Quốc sẽ phải tiến hành áp thuế lẫn nhau ở mức mà họ đang áp dụng đối với các thành viên khác trong tổ chức WTO. Tỷ lệ áp thuế trung bình khá thấp – chỉ xung quanh khoảng 1.5% - nhưng vẫn có một vài mặt hàng bị áp thuế cao hơn. Ví dụ, ngành xe hơi, sẽ phải gánh chịu mức thuế nhập khẩu mới là 10% - mà theo đại diện bộ phận sản xuất của công ty Nissan ở khu vực Châu Âu thì đó gọi là “một thảm họa” đối với ngành công nghiệp Anh Quốc.
Thuế quan còn gây ảnh hưởng đến giá cả của thực phẩm. Việc đồng Bảng Anh mất giá khoảng 10% sau cuộc trưng cầu ý dân về Brexit đã đem lại lợi thế nhất định cho ngành xuất khẩu của quốc gia này và làm tăng số lượng khách du lịch đến Vương quốc Anh. Nhưng tình trạng lạm phát giá thực phẩm – cho đến hiện tại, khi mà Brexit vẫn chưa hoàn toàn áp dụng – đã đóng góp vào tình trạng lạm phát tổng thể, tăng ở mức cao nhất trong 4 năm, vào khoảng 2,9%. Lạm phát giá thực phẩm có tác động đáng kể đến chất lượng cuộc sống, đặt biệt là với những người có thu nhập thấp và chi phần lớn tiền lương của họ để mua thức ăn. Các bằng chứng của Viện nghiên cứu độc lập Resolution Foundation (Anh) cho thấy, tiền lương thực tế của lực lượng lao động đã giảm khoảng 40%, vì thế, rất nhiều người đã bắt đầu cảm thấy tồi tệ. Các sản phẩm nông nghiệp nhập khẩu từ EU vào Vương quốc Anh bị đánh thuế rất cao: Một số loại thịt có thể bị áp mức thuế cao đến 84%, các sản phẩm sữa bị áp đến 74% và các sản phẩm ngũ cốc là 63%. Bởi vì 71% hàng nông nghiệp nhập khẩu của Vương quốc Anh là đến từ EU, nếu không có thỏa thuận thương mại mới nào được ký kết, giá thực phẩm ở Vương quốc Anh có khả năng sẽ còn tăng cao hơn. Và người nông dân Anh Quốc cũng sẽ khốn đốn, khi mà giá trị xuất khẩu nông sản hằng năm của Vương quốc Anh vào EU (hiện tại là 16,1 tỷ Euro) chắc chắn sẽ giảm.
Những người ủng hộ “Brexit cứng” thường nhìn nhận việc rút khỏi EU như là cơ hội để cắt giảm hoàn toàn rào cản thuế quan, từ đó giúp giảm chi phí chi tiêu cho người tiêu dùng Anh. Khi không còn là thành viên trong liên minh thuế, Vương quốc Anh sẽ được tự do thiết lập một biểu thuế cho riêng mình, hoặc cũng có thể đơn phương quyết định loại bỏ nó. Nhưng các rào cản thuế thường là những con bài quan trọng trong đàm phán thương mại: nếu Vương quốc Anh cắt giảm các rào cản thuế nhập khẩu của mình mà không nhận được một cơ hội thâm nhập thị trường nước ngoài tương ứng, sẽ rất khó để hàng xuất khẩu của nước này có thể được bán với giá đủ thấp và bù đắp cho các công việc mất đi trong ngành công nghiệp, do phải đối mặt với sự cạnh tranh từ hàng nhập khẩu. Vì các rào cản thuế thường cao hơn trong lĩnh vực sản xuất, tỷ lệ thất nghiệp cũng có khả năng sẽ tăng cao hơn trong các lĩnh vực này – trong bối cảnh các ngành sản xuất của Vương quốc Anh đã và đang phải đối mặt với nhiều khó khăn về kinh tế.
Liên minh thuế quan EU ràng buộc các thành viên phải áp dụng cùng một biểu thuế phổ biến đối với các quốc gia bên ngoài tổ chức, để bảo đảm các thành viên không nhập khẩu hàng hóa từ bên ngoài khối thương mại với mức thuế nhập khẩu thấp hơn, sau đó xuất khẩu chúng trở lại thị trường chung của khối, nhằm thoát khỏi rào cản thuế từ các thành viên khác. Hàng hóa xuất khẩu đến thị trường EU từ Na-Uy và Iceland, tuy là hai thành viên của thị trường chung nhưng không tham gia vào liên minh thuế, phải trải qua quá trình kiểm tra hải quan, để đảm bảo các mặt hàng đó chắc chắn (phần lớn) được sản xuất tại chính hai quốc gia xuất khẩu. Chi phí để đáp ứng thủ tục hải quan được ước tính vào khoảng 8% giá trị xuất khẩu, và phần lớn chi phí này xuất phát từ các yếu cầu về giấy tờ chứng minh kèm theo. Kể các những công ty đã đáp ứng được các tiêu chuẩn cần thiết, vẫn sẽ phải chịu những loại chi phí thủ tục này. Bởi vì EU áp dụng cùng một bộ tiêu chuẩn “quy tắc xuất sứ” đối với các quốc gia là thành viên của thị trường chung nhưng nằm ngoài liên minh thuế quan – Iceland, Liechtenstein và Na-Uy – và với những quốc gia có ký các Hiệp định Tự do Thương Mại, như Thụy Sĩ, tình trạng hiện tại của Na-Uy có thể được sử dụng để đánh giá tác động của các thủ tục hải quan đối với hoạt động thương mại. Một khảo sát, thực hiện bởi Hồi đồng Thương mại Quốc gia Thụy Điển đối với khoảng một ngàn doanh nghiệp, cho thấy Na-Uy được xếp vào nhóm đứng đầu (cùng với Nga), như là một đối tác thương mại khó khăn: 70% các doanh nghiệp nhận xét hoạt động thương mại với Na-Uy gặp nhiều khó khăn do các quy định và quy trình xử lý hải quan “cực kỳ cồng kềnh”.
Các quy định đó cũng sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến ngành ô tô của Anh, khi mà 56% lượng xe sản xuất ở Vương quốc Anh hiện đang được xuất khẩu vào EU. Chuỗi cung ứng của Vương quốc Anh được tích hợp chặt chẽ với khu vực EU, với nhiều loại phụ tùng xe hơi phải di chuyển qua lại biên giới khoảng 40 lần. Vì vậy, các nhà sản xuất xe hơi và chính phủ Anh đang mong muốn thiết lập một thỏa thuận thương mại cho một ngành cụ thể, cho phép giữ mức thuế đối với các loại xe hơi và phụ tùng xe bằng không, và đưa các loại phụ tùng từ những quốc gia EU vào một phần trong quy tắc xuất xứ. Nhưng cả Vương quốc Anh lẫn EU đều không thể ký loại thỏa thuận cho riêng ngành xe hơi mà không áp dụng cho các ngành còn lại, vì phải tuân thủ quy định của WTO. Nhằm tránh tình trạng các quốc gia áp dụng chiến lược phân loại (cherry-picking) và phân biệt đối với những thành viên khác, WTO chỉ công nhận những hiệp định thương mại song phương có nội dung bao hàm mọi lĩnh vực giao dịch giữa hai quốc gia ký kết. Và vì thế, một thỏa thuận thuế suất bằng không cho riêng ngành xe hơi sẽ không thể trở thành hiện thực.
Những công ty có quy trình sản xuất dày đặc và có các chuỗi cung ứng phức tạp, như ngành xe hơi, đòi hỏi phải có một quy trình thông quan nhanh và đơn giản đối với các loại phụ tùng được vận chuyển xuyên biên giới. Cả Nissan lẫn Jaguar Land Rover đều đang vận hành chuỗi cung ứng theo nguyên tắc “just-in-time” ("Đúng sản phẩm - với đúng số lượng - tại đúng nơi - vào đúng thời điểm cần thiết" – JIT): thậm chí, một số loại phụ tùng mà họ lưu trong kho, chỉ đáp ứng đủ số lượng cho hoạt động sản xuất trong hai giờ. Chỉ cần một sự gián đoạn rất nhỏ trong quá trình thông quan, cũng có thể làm tạm ngưng hoạt động sản xuất ở các nhà máy – nơi đang tạo ra 2 chiếc xe hơi mỗi phút.
Để phòng ngừa tình trạng này, chính quyền Anh Quốc có thể gia tăng số lượng nhân viên hải quan. So với những quốc gia có diện tích tương đương, Cơ quan Ngân sách và Hải quan Anh (HMRC) đang thiếu nhân sự trầm trọng và hoàn toàn không được chuẩn bị đầy đủ cho số lượng công việc sắp tăng thêm từ việc lọt ra khỏi liên minh thuế quan: Vương quốc Anh chỉ có khoản 5.000 nhân viên hải quan, trong khi Đức có tới hơn 35.000 nhân viên. Vương quốc Anh cũng sẽ cần phải xây dựng một phiên bản Anh của các cơ quan quản lý EU. Chi phí để vận hành một phiên bản Anh của Cơ quan An toàn Hàng không châu Âu (EASA) được dự tính vào khoảng 400 triệu Bảng trong 10 năm, và đây chỉ mới là một trong 40 cơ quan phải xây mới. Cũng có khả năng, các cơ quan quản lý EU sẽ tiếp tục được Vương quốc Anh sử dụng, điều này đồng nghĩa với việc Anh Quốc sẽ phải giải trình với Tòa án Công lý Châu Âu, và khả năng này đã bị bác bỏ thẳng thừng trong bạch thư và trong những tuyên bố mới đây của Thủ tướng Theresa May.
Chi phí của việc “Giành lại quyền làm chủ”
Nhiều nhà vận động hành lang cho phong trào Brexit nhận định bãi bỏ các quy định rườm rà là yếu tố quan trọng để “giành lại quyền làm chủ”. Nhưng, việc ký kết bất kỳ một thỏa thuận thương mại nào cũng đồng nghĩa với việc từ bỏ một số quyền lợi quốc gia nhất định. Điển hình như việc khiVương Quốc Anh là thành viên của WTO, nước này cũng đã đồng ý hạ thấp các rào cản thuế quan của mình xuống một tỷ lệ đã được thỏa thuận với những thành viên khác, và tôn trọng phán quyết từ cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO.
Để có thể duy trì khối lượng giao dịch ở mức độ hiện tại, các thỏa thuận thương mại phải giữ được những rào cản phi thuế quan ở mức thấp bằng cách giảm thiểu các tiêu chuẩn và tinh giản các điều kiện bắt buộc đốivới những nhà sản xuất nước ngoài. Việc áp đặt các chính sách tương tự lên cùng lúc nhiều thị trường sẽ giúp chuyển đổi hiệu quả một khu vực tự do thương mại thành một thị trường chung, nơi mà hàng hóa và dịch vụ được cung cấp, với giả định chúng đáp ứng được các tiêu chuẩn cần thiết. Những quốc gia cố gắng thiết lập thỏa thuận thương mại với nhau sẽ phải chấp nhận sử dụng chung một hệ thống các tiêu chuẩn và chính sách giám sát đã được cả hai bên cùng công nhận. Nếu những quốc gia đối tác có cùng quan điểm về các tiêu chuẩn chung, thì việc tạo ra các thỏa thuận thương mại - mà mỗi bên không phải từ bỏ nhiều quyền lợi quốc gia - cũng dễ dàng hơn. Ví dụ, Vương quốc Anh đã từ bỏ một số quyền lợi khi họ áp dụng hướng dẫn của EU về An toàn Đồ chơi trẻ em. Nhưng thiệt hạitừ việc này là rất nhỏ vì mối quan tâm về an toàn của người tiêu dùng Anh Quốc cũng tương đồng với người tiêu dùng Châu Âu. Việc tuân theo một tiêu chuẩn chung còn cho phép các doanh nghiệp Anh có thể bán hàng cho EU mà không bị kiểm tra bổ sung, và điều này làm giảm các chi phí phi thuế quan trong hoạt động giao dịch của doanh nghiệp. Ở một số phân khúc, bao gồm thực phẩm chế biến và dược phẩm, giá trị của việc áp dụng các tiêu chuẩn đồng nhất nằm ở chỗ nó giúp giảm thiểu rủi ro lây nhiễm chéo từ các lô hàng đến nhiều thị trường khác nhau, và đảm bảo rằng mọi doanh nghiệp đều được đối xử công bằng.
Hiện tại, sẽ không có nhiều thay đổi về quy định đối với những loại sản phẩm mang nhãn hiệu “CE” (“Conformité Européene” - “ Sự phù hợp của Châu Âu”), và Vương quốc Anh có thể thiết lập một thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau (MRA – Mutual Recognition Agreement) với EU, liên quan đến các mặt hàng như đồ điện tử, máy móc và thiết bị y tế, như những gì mà Úc, Canada và Mỹ đã từng làm. Tuy nhiên, trong dài hạn, nếu hệ tiêu chuẩn của Vương Quốc Anh khác biệt nhiều so với EU, các doanh nghiệp Anh có thể sẽ phải tạo ra hai dòng sản phẩm khác nhau, một cho tiêu dùng trong nước và một cho xuất khẩu vào khối EU; điều này sẽ rất tốn kém và làm giảm tính cạnh tranh.
Một vấn đề lớn hơn nằm ở hoạt động thương mại và đầu tư nước ngoài trong ngành dịch vụ, chiếm đến 80% nền kinh tế của Vương Quốc Anh. Các ngành dịch vụ thường không có rào cản thuế, hàng rào phi thuế quan mới là trở ngại chính. Ví dụ, để có thể thâm nhập vào thị trường hàng không của EU, doanh nghiệp cần phải đặt các trụ sở chính và có các cổ đông lớn bên trong EU, từ đó, khối EU mới có thể áp dụng các quy định giám sát về an toàn. Yêu cầu này có thể tác động đến các công ty như easyJet - công ty này vừa tuyên bố các kế hoạch kinh doanh mới, easyJet Europe, sẽ đặt trụ sở chính tại Vienna. Kể cả khi Vương quốc Anh được công nhận bởi EU về việc có một chế độ quản lý tương đồng, một vài doanh nghiệp vẫn sẽ đạt được nhiều hiệu quả chi phí hơn khi thay đổi địa điểm kinh doanh nếu Vương Quốc Anh không bắt kịp với các thay đổi trong quy định của EU. Những văn bản báo cáo mới đây của chính phủ cũng không giải thích rõ liệu các thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau có đáp ứng được những thay đổi trong quy tắc EU trong tương lai. Do sự tồn tại của các rào cản phi thuế quan, ước tính về tỷ lệ “chi phí thương mại tương đương” trong các ngành dịch vụ, thực hiện giữa Mỹ và EU, dao động trong khoảng từ 8,5% đến 47,3%. Vương quốc Anh được dự đoán cũng sẽ đón nhận ảnh hưởng của những loại chi phí này lên hoạt động thương mại giữa họ với EU, sau khi Brexit.
Với việc các rào cản thuế quan và phi thuế quan cùng tăng, nhiều nghiên cứu, dựa trên các dữ liệu hải quan chi tiết, ước tính giá trị thương mại Anh Quốc-EU sẽ thâm hụt từ 13% đến 40%, tùy thuộc vào mức độ mở cửa thị trường được thỏa thuận. Những người ủng hộ Brexit thì lập luận rằng, các thỏa thuận thương mại với nhiều quốc gia bên ngoài sẽ làm nhẹ bớt sự thâm hụt này – bàn về việc làm mới lại quan hệ thương mại với Khối thịnh vượng chung, ký thỏa thuận với các quốc gia đang phát triển và củng cố quan hệ thương mại với Mỹ. Họ cũng lập luận rằng, khi Vương quốc Anh đã được tự mình hành động, việc thiết lập những thỏa thuận song phương sẽ đơn giản hơn nhiều so với một thỏa thuận thương mại với cùng lúc 29 quốc gia.
Nhưng các thỏa thuận thương mại, kể cả giữa hai quốc gia, cũng tốn nhiều thời gian và nguồn lực ngoại giao. Những thỏa thuận nào nên được Anh Quốc ưu tiên, và nó sẽ có nội dung như thế nào? Các chủ đề được đề cập đến nhiều nhất là việc thiết lập một thỏa thuận mới với EU, các thỏa thuận với Trung Quốc, Ấn Độ, những quốc gia đông dân và đang phát triển nhanh, và với Mỹ, nơi mà chỉ số GDP cũng gần bằng với EU.
Sẽ là hợp lý nếu Anh ưu tiên một thỏa thuận thương mại với EU. Các quốc gia thường tiến hành phần lớn hoạt động thương mại của họ với những đối tác gần nhất và lớn nhất. Điều này cho đến nay vẫn luôn là một chân lý vững chắc của hoạt động thương mại quốc tế, nó luôn đúng với bất kỳ nhóm quốc gia, thời kỳ hay lĩnh vực nào (bất kể là về giao dịch hàng hóa, dịch vụ, thương mại điện tử hay đầu tư nước ngoài). Với việc EU chỉ cách Vương quốc Anh bởi một eo biển nhỏ (đã có người bơi qua được), với dân số hơn 500 triệu và GDP vào khoảng 20 nghìn tỷ USD (gấp đôi so với Trung Quốc), khả năng Anh có thể tìm ra một đối tác thương mại tương đương EU là gần như không có. Đồng thời, đối với người Anh, các tiêu chuẩn của EU về hàng hóa và nhân công vẫn đáng chấp nhận hơn so với của Mỹ, Trung Quốc và Ấn Độ, kể cả khi Jacob Rees-Mogg (Nghị sĩ đảng Bảo thủ Anh, người ủng hộ quá trình Brexit) phát biểu với Ủy ban Chuyên trách Ngân khố vào năm ngoái rằng: “Có thể nói, nếu nó (các tiêu chuẩn) phù hợp ở Ấn Độ, thì nó cũng phù hợp ở đây... Chúng ta có thể tiến xa với các tiêu chuẩn này”. Nhưng nếu chúng ta muốn đạt được những thỏa thuận thương mại làm giảm các rào cản phi thuế quan mà không làm ảnh hưởng đến các tiêu chuẩn nội địa, thì việc này sẽ khó đạt được hơn khi đàm phán với Mỹ, Trung Quốc, Ấn Độ v.v, hơn là với EU.
Quan hệ thương mại Vương Quốc Anh – Trung Quốc
Hiện tại, chỉ 3% giá trị xuất khẩu và 7% giá trị nhập khẩu của Vương quốc Anh là thực hiện với thị trường Trung Quốc. Vậy nên, giao dịch với Trung Quốc phải tăng gấp 10 lần nữa thì mới có thể sánh ngang với những gì mà Anh đang thực hiện với EU. Quốc gia có nền kinh tế đương đồng với Vương quốc Anh nhất và đã có một hiêp định thương mại với Trung Quốc là Thụy Sĩ. Hiệp định này đã mất bốn năm với chín vòng đàm phán mới có thể được ký kết. Thuế nhập khẩu của Thụy Sĩ đối với các sản phẩm công nghiệp, giày và dệt may từ Trung Quốc được loại bỏ ngay lập tức, trong khi thuế quan của Trung Quốc đối với hàng xuất khẩu Thụy Sĩ vẫn đang được loại bỏ dần dần, với một vài trường hợp đã kéo dài hơn 15 năm, và một số mặt hàng như máy móc, sản phẩm hóa học vẫn không được giảm thuế. Công ty Lalive, một công ty luật của Thụy Sĩ trong một báo cáo có nói rằng hiệp định thương mại này “có lợi nhiều hơn cho hàng xuất khẩu Trung Quốc”. Và một khảo sát được thực hiện bởi Phòng Thương mại Thụy Sĩ sau 2 năm từ khi Hiệp định có hiệu lực, đã kết luận rằng “FTA đó không thực sự hấp dẫn”. Trong kết quả khảo sát, 89% câu trả lời cho rằng hiệp định thương mại Thụy Sĩ – Trung Quốc đến nay vẫn chưa đạt được hiệu quả rõ ràng nào, vấn đề lớn nhất họ đang phải đối mặt là tác phong làm việc quan liêu của Trung Quốc, thời gian chậm trễ và sự thiếu kinh nghiệm của các nhân viên hải quan. Hiệp định thương mại có đề cập đến các thỏa thuận về dịch vụ, nhưng chúng thực sự chẳng mở rộng thêm nhiều so với cam kết trong WTO. Một báo cáo mới nhất từ đại sứ quan Thụy Sĩ ghi nhận rằng, giá trị xuất khẩu dịch vụ từ Thụy Sĩ đến Trung Quốc đã giảm 0,3% trong năm 2015, và giảm 1,3% trong năm trước đó.. Bởi vì, người Thụy Sĩ không phải là không có kinh nghiệm trong lĩnh vực đàm phán thỏa thuận thương mại, vậy nên, sẽ là không khôn ngoan nếu hi vọng rằng, hiệp định thương mại Anh Quốc-Trung Quốc sẽ mở ra một thị trường xuất khẩu mới có thể thay thế thị trường EU.
Tất nhiên, một hiệp định thương mại giữa Vương Quốc Anh và Trung Quốc vẫn sẽ giúp làm giảm chi phí hàng hóa cho người tiêu dùng Anh. Nhưng, hội nhập sâu hơn với một quốc gia như Trung Quốc - nơi có nguồn lao động dồi dào với chi phí rẻ và một hệ tiêu chuẩn về an toàn cũng như những quy định về môi trường rất khác biệt so với Anh - sẽ tác động mạnh đến tầng lớp lao động phổ thông ở Anh, những người đã bỏ phiếu cho Brexit. Để tránh xảy ra vấn đề này, Vương quốc Anh có thể yêu cầu đưa những chủ đề như bảo hộ lao động và quyền lợi người tiêu dùng vào nội dung của các hiệp định thương mại với các quốc gia đang phát triển. Họ có thể nhấn mạnh những chủ đề này trong các điều khoản xã hội của hiệp định thương mại, bao gồm việc giám sát thực thi các tiêu chuẩn an toàn, như những gì Mỹ đã thực hiện trong dự án “Vì những nhà máy tốt hơn ở Campuchia” (Better Factories Cambodia – BFC). Nhưng, buộc những quốc gia như Trung Quốc chấp thuận các điều khoản nêu trên có thể sẽ rất khó khăn.
Quan hệ thương mại Vương Quốc Anh - Ấn Độ
Tương tự, chất lượng của các quy định trong thỏa thuận thương mại tương lai giữa Vương Quốc Anh và Ấn Độ cũng đang làm dấy lên nhiều lo ngại. Ấn Độ là điểm đến đầu tiên của Thủ Tướng Theresa May trong chuyến công du với chủ đề “một nước Anh hướng tới toàn cầu” (Global Britain) vào năm ngoái. Có vẻ như, một hiệp định thương mại song phương Vương Quốc Anh -Ấn Độ sẽ được hoàn thành sớm hơn, bởi vì, có một trở ngại trong đàm phán giữa Ấn Độ với EU sẽ không xuất hiện khi họ đàm phán với Anh. Đó là, Vương quốc Anh, không như khối EU, sẽ sẵn lòng giảm thuế nhập khẩu đối với các sản phẩm nông nghiệp từ Ấn Độ. Một thỏa thuận thương mại với Ấn Độ sẽ được ưu ái hơn, một phần bởi vì giao dịch thương mại giữa Anh Quốc với tiểu lục địa này đang có chiều hướng giảm. Hiện tại, giá trị xuất khẩu của Anh Quốc thực hiện với Ấn Độ chỉ dưới 2%. Cũng vì vậy, kể cả khi xuất khẩu vào Ấn Độ có tăng lên đáng kể, thì nó cũng không gây ra tác động lớn đến tổng khối lượng xuất khẩu của Vương quốc Anh.
Các doanh nghiệp Anh Quốc đang mong muốn được thâm nhập vào thị trường Ấn Độ, trong các ngành dịch vụ như pháp luật, bảo hiểm và tài chính. Tháng 1/2016, Vương quốc Anh đã đạt được một thỏa thuận về việc mở cửa các dịch vụ pháp lý và đầu tư cơ sở hạ tầng ở Ấn Độ cho các doanh nghiệp nước này. Tuy nhiên, Ấn Độ không hứng thú với chủ trương tự do hóa sâu rộng trong nhiều ngành khác, như các dịch vụ tài chính, trừ khi, các ngành dịch vụ thế mạnh của Ấn Độ cũng được mở cửa ở chiều ngược lại, điển hình là ngành công nghệ thông tin. Đây từng là một điểm bất đồng lớn trong tiến trình thỏa thuận giữa EU và Ấn Độ, và Thủ tướng Theresa May, vào đầu năm 2010, khi còn là Bộ trưởng Nội vụ Anh, cũng đã từ chối các yêu cầu cải cách thủ tục cấp thị thực cho sinh viên và các chuyên gia giàu kinh nghiệm từ Ấn Độ. Kể từ sau cuộc trưng cầu ý dân về Brexit, chính quyền thủ tướng May đã chủ trương kiểm soát chặt sẽ hơn các vấn đề thị thực. Vì thế, một thỏa thuận thương mại mới sẽ không còn đơn giản như cách người ta nhận định khi Thủ tướng Anh viếng thăm Ấn Độ.
Quan hệ thương mại Vương Quốc Anh – Hoa Kỳ
Trong khi sự tăng trưởng giao dịch thương mại với Trung Quốc và Ấn Độ không thể tiến đủ xa để bù đắp cho những mất mát từ giao dịch với EU, tăng cường hoạt động thương mại với Mỹ được cho là sẽ đưa Vương quốc Anh đến gần hơn khả năng lấp đầy khoảng trống của EU. Nhưng câu chuyện này cũng có nhiều vấn đề. Thứ nhất, bởi vì thuế nhập khẩu của Anh Quốc dành cho EU và Mỹ vốn dĩ đã thấp (trung bình vào khoảng 1,6%) , bất kỳ sự mở rộng nào trong quan hệ thương mại Anh-Mỹ cũng đòi hỏi nhiều hơn sự hài hòa trong các vấn đề pháp lý. Có một vài giải pháp đơn giản để cắt giảm các rào cản phi thuế quan mà Vương quốc Anh và Mỹ có thể cùng theo đuổi, đó là: mở rộng sự công nhận lẫn nhau về các tiêu chuẩn kỹ thuật và mở rộng các quy định ghi nhãn thực phẩm. Nhưng, có nhiều rào cản phi thuế quan được dùng để phản ánh sự khác biệt rõ ràng trong các ưu tiên của hai quốc gia. Các quy định được đặt ra là nhằm bảo đảm các tiểu chuẩn chất lượng, bất kể về vấn đề việc làm, môi trường hay sản phẩm. Việc loại bỏ những quy định ngăn chặn thịt bò bị tiêm hoóc-môn hay thịt gà tây rửa bằng clo nhập khẩu từ Mỹ có thể là những điều mà Anh Quốc không muốn làm. Một cản trở khác đối với khả năng hài hòa quy định giữa Anh và Mỹ là sự khác biệt trong chính sách quy định đối với các loại sản phẩm mới. “Đề phòng” là một nguyên tắc cơ bản trong pháp luật EU, nhưng pháp luật Mỹ thì không tồn tại một nguyên tắc tương đồng. Chính quyền Mỹ cho rằng, nếu không có cơ sở khoa học thống nhất, thì trách nhiệm chứng minh tính an toàn của sản phẩm thuộc về phía công ty sản xuất, nếu họ muốn giới thiệu sản phẩm mới đó. Tuy nhiên, pháp luật Mỹ vẫn yêu cầu các cơ quan chính phủ phải tìm cách chứng minh một sản phẩm là không an toàn, thay vì yêu cầu các nhà sản xuất chứng minh sự an toàn của sản phẩm, trước khi nó được đi vào thị trường. Rất khó để chính phủ Anh có thể thuyết phục Mỹ thay đổi theo chính sách đề phòng của Anh. Và vì thế, một hiệp định thương mại mới nhằm cắt giảm các rào cản phi thuế quan cũng đồng nghĩa với việc từ bỏ các nguyên tắc của mình và ngã theo phương pháp tiếp cận của Mỹ.
Một trở ngại khác có lẽ là lớn nhất, đó là vấn đề quyền lợi nhà đầu tư mà Mỹ đòi hỏi trong thỏa thuận với các đối tác thương mại. Thông thường, Mỹ yếu cầu áp dụng Cơ chế giải quyết tranh chấp giữa chính phủ và nhà đầu tư (ISDS) để giải quyết những bất đồng giữa các công ty Mỹ và chính quyền nước sở tại. Cơ chế ISDS cho phép doanh nghiệp nước ngoài được quyền đưa ra các cáo buộc đối với chính phủ quốc gia hay khu vực, nếu họ cảm thấy bị đối xử thiếu công bằng hay bình đẳng. Ví dụ, công ty Tài Nguyên Lone Pine, đăng ký thành lập tại tiểu bang Delaware và có trụ sở ở thành phố Calgary (Canada), đã cáo buộc chính quyền tỉnh Quebec (Canada) gây ra những tổn thất tiềm năng cho doanh nghiệp thông qua lệnh cấm hoạt động. Mặc dù một quyết định cuối cùng đang được xem xét, vụ kiện này đã trở thành một hình mẫu về quyền hạn “vượt trội” của ISDS dành cho các công ty nước ngoài, cho phép họ làm suy yếu quyền lực của chính phủ quốc gia hay của địa phương, nhất là trong những chính sách xã hội nhạy cảm trên các lĩnh vực như môi trường, tài nguyên thiên nhiên và sức khỏe cộng đồng.
Hiện tại, giá trị đầu tư từ Mỹ vào thị trường Anh Quốc đạt khoảng 250 tỷ bảng. Vì thế, bất kỳ điều khoản thỏa thuận liên quan đến đầu tư nào cũng sẽ ảnh hưởng sâu rộng đến hoạt động của các doanh nghiệp, lực lượng lao động và người tiêu dùng. Có ít chứng cứ cho thấy các điều khoản ISDS giúp tăng cường hoạt động của nền kinh tế. Một nghiên cứu của Trường Kinh tế và Khoa học Chính trị Luân Đôn (LSE) kết luận rằng, ISDS chỉ làm các chính phủ mất thêm phí tổn chính trị, nhưng không đem lại nhiều lợi ích kinh tế. Tuy nhiên, trong hiệp định thương mại với Úc, Mỹ đã chấp nhận một thỏa thuận cho phép giải quyết các loại tranh chấp nói trên dựa vào hệ thống tòa án trong nước. Học tập theo ví dụ của Úc, chính phủ Anh Quốc có thể thử nâng cấp hiệp định mà EU đã từng thỏa thuận với Mỹ, yêu cầu áp dụng những giải pháp ít minh bạch hơn trong vấn đề giải quyết tranh chấp với các công ty nước ngoài.
Đặt hy vọng vào những hiệp định thương mại trong tương lai với các quốc gia như Trung Quốc, Ấn Độ và Mỹ, nhằm thay thế cho quan hệ hợp tác kinh tế hiện có với EU là một suy nghĩ viễn vong. Vương quốc Anh tốt hơn là nên theo đuổi những thỏa thuận thương mại phù hợp với các chiến lược dài hạn. Nếu Vương quốc Anh chọn cách đàm phán thỏa thuận tạm thời với EU như cách mà Na-Uy đã thực hiện, tách khỏi liên minh thuế quan nhưng vẫn nằm trong thị trường chung, Vương quốc Anh sẽ có thể tạo thêm thời gian cho mình, để đàm phán những hiệp định thương mại tốt hơn với các quốc gia bên ngoài EU. Nhưng thực tế là, tất cả những thỏa thuận trên cũng sẽ không đóng góp được gì nhiều cho khả năng hồi phục thu nhập của những người đã bỏ phiếu ủng hộ Brexit.
Tác giả: Swati Dhingra và Nikhil Datta
Hoài Nam (Theo London Review of Books)
Nguồn: https://www.lrb.co.uk/
Từ khóa: những cơ hội, thỏa thuận thương mại, Vương Quốc Anh, hậu Brexit
Các tin khác
- Trung Quốc không phải là lý do duy nhất để suy nghĩ lại về thương mại tự do - 19/09/2017
- Các nền kinh tế Châu Á đang trên đà tăng trưởng - 19/09/2017
- Việt Nam luôn là một quốc gia có trách nhiệm đối với cộng đồng quốc tế - 19/09/2017
- Việt Nam tham gia FTA thế hệ mới: Hai điểm trọng tâm - 19/09/2017
- Hiệp định EVFTA: Vận hội cho nông nghiệp Việt Nam - 19/09/2017






















