
Trong những tuần gần đây, như một phần của cuộc chiến tranh chống lại Nga, nhiều chính trị gia Mỹ đã đưa ra đề xuất rằng ông Vladimir Putin và chiến dịch “thông tin sai lệch” của chính phủ Nga làm gia tăng bất mãn xã hội ở Mỹ và một số nền kinh tế lớn khác.
Trong phiên tòa tại Thượng viện Mỹ vào cuối tháng trước, Thượng Nghị sĩ của bang Florida – ông Marco Rubio cáo buộc ông Putin liên quan đến “cuộc chiến thông tin”, tìm cách khai thác các cuộc biểu tình trong xã hội để mô tả nước Mỹ như một thảm hoạ.
Thượng nghị sĩ Mark Warner, đảng Dân chủ tại Uỷ ban Tình báo, cho rằng Nga sử dụng thông tin sai lệch” để làm suy yếu sức mạnh và sự lãnh đạo của Mỹ.Trong khi đó, Thượng nghị sĩ của đảng Cộng hòa tại bang Maine, bà Susan Collins nói rằng Nga “cố phá vỡ xã hội” và làm gia tăng “sự hoài nghi về các nền dân chủ phương Tây”.
Thượng nghị sĩ Chris Coons, một đảng viên Dân chủ, đã tuyên bố rằng chế độ Vladimir Putin đã làm cho người dân phương Tây xa lánh các chính phủ của họ. Nói cách khác, gây gia tăng bất mãn xã hội gia tăng ở Mỹ, Châu Âu và các nền kinh tế lớn là mục đích của Nga.
Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) đãcông bố một báo cáo vào tuần này, Chương 3 - Triển vọng Kinh tế Thế giới củabáo cáo đã chuẩn bị cho cuộc họp vào cuối tháng này, cho thấy những nỗ lực thông qua các tầng lớp luật lệ gia tăng mạnh mẽ ở Mỹ và một số nơi khác nhằm tái khởi động Chiến tranh Lạnh.
Báo cáo dưới tiêu đề “Tìm hiểu về xu hướng suy giảm mức thu nhập lao động”, cho biết chi tiết sự chuyển đổi mức độ giàu có từ lao động sang vốn trong vòng40 năm qua, một trong những nguyên nhân chính làm gia tăng sự bất mãn xã hội.
Theo phân tích của IMF: “Trong các nền kinh tế phát triển, mức thu nhập lao động đã có xu hướng giảm trong những năm 1980,mức thấp nhất trong vòng nửa thế kỷ vừa qua trước khi diễn ra cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 và đã không thể phục hồi được kể từ đó. Mức thu nhập của lao động hiện nay đã giảm gần 4% so với năm 1970.
Các nền kinh tế phát triển chiếm một nửa tổng thu nhập toàn cầu, từ 75.000 tỷ USD đến 80.000 tỷ USD mỗi năm, thu nhập tiền lương hàng năm của các công nhân là 1,5 nghìn tỷ USD, thấp hơn so với mức thu nhập năm 1970.
Nghiên cứu cũng cho thấy, mặc dù dữ liệu còn hạn chế, số lượng lao động ở các nền kinh tế mới nổi và các nền kinh tế đang phát triển cũng suy giảm kể từ đầu những năm 1990, đặc biệt đối với các nền kinh tế lớn trong nhóm.Trung Quốc là một ví dụ, trong vòng 20 năm qua, số lượng lao động đã giảmgần 3%.
Phân tích cho thấy rằng sự sụt giảm tỷ trọng lao động đã góp phần trực tiếp vào việc gia tăng bất bình đẳng xã hội. Bên cạnh đó, lực lượng lao động có kỹ năng thấp là đối tượng trực tiếp gánh chịu hậu quả nghiêm trọng, “các nghề nghiệp đòi hỏi các công nhân có trình độ tay nghề trung bình giảm liên tục ở các quốc gia phát triển là một bằng chứng”. Trong giai đoạn 1995 - 2009, thu nhập của nhóm lực lượng lao động có tay nghề thấp đã giảm hơn 7%.
Mặt khác, lao động giảm sẽ dẫn đến sự gia tăng về vốn. Quyền sở hữu vốn tập trung ở các nhóm lực lượng lao động có thu nhập cao, điều này đã dẫn đến gia tăng bất bình đẳng.
Báo cáo của IMF cho thấy giai đoạn 1991 - 2014, 29 nền kinh tế trong số 50 nền kinh tế lớn nhất thế giới có tỷ lệ lao động suy giảm, mức suy giảm này chiếm khoảng 2/3 GDP toàn cầu. Thu nhập của lao động giảm tại 7 trong số 10 ngành công nghiệp lớn, với mức giảm mạnh nhất trong các ngành có yếu tố thương mại như sản xuất, vận tải và viễn thông.
Yếu tố quan trong của nền kinh tế phát triển
Yếu tố quan trọng nhất trong các nền kinh tế phát triển là sự cải tiến về công nghệ, phân tích thực tiễn cho thấy “lao động bị sụt giảm khoảng một nửa là do tác động của công nghệ”. Nhóm lực lượng lao động có kỹ năng và trình độ trung bình chịu tác động lớn nhất, công nghệ sẽ đảm nhận hàng loạt các công việc của người lao động.
Một trong những hiện tượng nổi bật nhất trong vòng 20 năm qua là việc xây dựng chuỗi giá trị toàn cầu, trong đó các phân đoạn của quy trình sản xuất đặt tại các nước khác nhau trên thế giới nhằm tận dụng nguồn nhân công giá rẻ.
Phân tích của IMF cho thấy, theo các lý thuyết truyền thống, số lượng lao động đang gia tăng tại các nền kinh tế mới nổi do hội nhập kinh tế quốc tế. Tuy nhiên, sự gia tăng thực sự của tỷ lệ lao động đang chất chứa nhiều mâu thuẫn. Điều này dẫn đến gia tăng sự bất bình trong xã hội và tổn hại đến tăng trưởng kinh tế, năng suất tăng trưởng thấp, đánh mất sự kỳ vọng về mức lương sẽ tăng trưởng trong tương lai.
Sự phát triển của kinh tế toàn cầu cùng với lợi ích nhận được từ sự tăng trưởng thường không được chia sẻ rộng rãi. Điều này đã dẫn tới “phản ứng chống lại hội nhập kinh tế và ủng hộ các chính sách hướng nội”. Hiện tượng mà các chính trị gia của Mỹ nhận định là do “sự can thiệp của Nga” và “thông tin sai lệch”.
Các tác giả hoàn toàn bối rối trong việc giải thích “tác động của sự suy giảm mức thu nhập lao động”, và thừa nhận rằng những kinh nghiệm của các quốc gia khác nhau “không được hiểu rõ”.
Trên thực tế, vấn đề này đã được biết đến từ khi tác phẩm Tư bản của Marx được xuất bản năm 1867.
Phân tích của Marx đã cho thấy phương thức sản xuất dưới chế độ chủ nghĩa tư bản, dựa trên lao động tiền lương, nguồn lực sản xuất vật chất có hình thức vốn, tức là giá trị tự phát triển. Cơ bản của lý thuyết tự phát triển này là giá trị thặng dư được tích lũy từ lao động trong quá trình sản xuất.
Do đó, mọi sự phát triển trong khoa học và công nghệ, dẫn đến sự gia tăng nguồn lực sản xuất vật chất và từ đó gia tăng sự giàu có cho xã hội, nhấn mạnh vào dịch vụ vốn và trở thành phương tiện để tích lũy thêm giá trị thặng dư từ tầng lớp lao động.
Do đó, Marx đã giải thích, tính logic hiện có của vốn là sự tích lũy giàu có tại một phía và sự nghèo đói ở phía còn lại.
Trong thời kỳ bùng nổ kinh tế sau chiến tranh, các nhà kinh tế học tư sản và một số người theo chủ nghĩa Marx đã cho rằng phân tích của Marx đã bị bác bỏ trong một số trường hợp.
Tuy nhiên, lịch sử kinh tế kể từ khi kết thúc sự bùng nổ phù hợp với tính logic mà Marx đã nhận định. Lịch sử này được đặc trưng bởi sự bất bình đẳng xã hội và sự giàu có tích tụ ở các tầng lớp cao của xã hội, đến mức mà 8 tỷ phú trên thế giới sở hữu tài sản gần bằng một nửa tài sản của dân số thế giới.
Phân tích của các nhà kinh tế ở IMF không phải là không có giá trị vì dữ liệu của họ cho thấy xu hướng thiết yếu ở các nền kinh tế phát triển cũng như các nền kinh tế mới nổi.
Phân tích này nhằm bác bỏ sự khẳng định của người theo chủ nghĩa dân túy và dân tộc cánh hữu rằng các công nhân ở Trung Quốc và ở các nơi khác đang “đánh cắp” công ăn việc làm và tiền lương của công nhân ở các nước phát triển, chứng minh rằng tất cả công nhân phải đối mặt với tình hình chung, đấu tranh chống lại những mất mát về vốn.
Nguồn: wsws.org – TTWTO/XM
Từ khóa: IMF, Mức thu nhập, toàn cầu,suy giảm






















