JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU
Phân tích - Bình luậnChuẩn bị cho Brexit

Chuẩn bị cho Brexit

brexit 3

Có một sự mơ hồ mới về thương mại trong xã hội các nước phương Tây. Đáng nói hơn, những kẻ phá bĩnh toàn cầu hóa giai đoạn hậu chiến tranh lạnh không phải nước nghèo nhất, cũng chẳng phải quốc gia nghi ngờ bảo hộ thương mại nhiều nhất, mà chính từ những nước ủng hộ mở cửa thương mại lớn nhất, đó là Anh và Mỹ. Chúng ta vừa có một Tổng Thống Mỹ tuyên bố “bảo hộ sẽ dẫn tới sự thịnh vượng và sức mạnh”, trong khi Anh đang quay lưng lại với thị trường của Liên minh Châu Âu mà nó vốn dĩ là thành viên.

Đây quả là tình thế phức tạp khi mà nước Anh đang theo đuổi tầm nhìn toàn cầu. Trớ trêu thay, bước đi đầu tiên để hiện thực hóa tầm nhìn này là rời bỏ hệ thống quản lý và thương mại phức tạp nhất trên thế giới.

Hiện thực hóa tuyên bố Brexit đòi hỏi một chiến lược mới, cứng rắn và có cơ sở, nhằm đảm bảo cho tương lai của thương mại Anh trong tương lai. Trong nhiều vấn đề mà chiến lược mới này cần lưu ý, là tính thực tế của thị trường, tính chất thay đổi của thương mại, tính phức tạp của chuỗi cung ứng hàng hóa, sự phát triển của ngành dịch vụ và thương mại số, cùng với vị thế tương đối của nền kinh tế Anh. Brexit cũng đòi hỏi nước Anh hơn bao giờ hết phải bảo vệ hệ thống thương mại quốc tế của Tổ chức Thương mại Thế giới, với các nguyên tắc không phân biệt đối xử, cạnh tranh công bằng, và ràng buộc thực thi. Nước Anh sẽ ít được trang bị đầy đủ để thích ứng với môi trường thương mại bị chi phối bởi tính quyền lực và song phương giữa Mỹ và Trung Quốc, hay ít nhất, là sức nặng thương mại với EU trong tương lai.

Hành trình tìm đến quan hệ đối tác thương mại mới chỉ có thể bắt đầu từ nơi mà nước Anh đang đứng. Năm 2015, EU chiếm 44% kim ngạch xuất khẩu của Anh và 53% lượng hàng nhập khẩu của Anh. Thương mại của nước Anh với 50 quốc gia mà EU có ưu đãi thương mại tự do (FTA) chiếm khoảng 13%, điều đó có nghĩa là gần 60% thương mại của Anh sẽ bị ảnh hưởng trực tiếp khi rời EU.

Trong cùng năm đó, Mỹ chiếm khoảng 16% thương mại của Anh, các nước BRICS - Brazil, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc và Nam Phi - khoảng 8% và Khối thịnh vượng chung chiếm khoảng 9,5%. EU cung cấp 54% vốn đầu tư trực tiếp, trong khi 32% đến từ Mỹ và chỉ 1,6% từ BRICS.

Những tỷ lệ này đã thay đổi trong những năm gần đây và sẽ thay đổi một lần nữa sau khi Brexit, nhưng theo bất kỳ tính toán nào, chiến lược thương mại toàn cầu mới của Anh phải bắt đầu từ Châu Âu và Mỹ.

Bằng việc ưu tiên chính trị hơn kinh tế, chính phủ Anh đang tìm kiếm quan hệ thương mại mạnh mẽ với một EU khó tính hơn. Không có hình thức nào của Brexit có thể duy trì được sự tiếp cận và ảnh hưởng hiện tại của nước Anh vào thị trường EU. Một mối quan hệ dựa trên Hiệp định Thương mại Tự do, là giải pháp tốt nhất mà chúng ta đang mong đợi. Sự đổ vỡ, hoặc kết thúc cuộc đàm phán mà không sắp đặt các cuộc gặp gỡ tiếp theo, sẽ dẫn đến thiệt hại kinh tế lớn hơn nhiều.  

Chúng ta chẳng thể hoàn thành thỏa thuận thương mại bên ngoài châu Âu trước khi chúng ta rời khỏi EU. Chúng ta cũng không thể thương lượng một cách nghiêm túc cho đến khi chúng ta và những nước khác hiểu tường tận về mối quan hệ tương lai giữa Anh và EU, ví dụ như một thoả thuận hải quan hay quy định tương đương. Cần thiết phải hiểu rằng, các hiệp định thương mại mới của Anh với EU và với các nước khác không thể được nhìn thấy một cách độc lập; Chúng liên kết chặt chẽ, bởi vì những gì chúng ta đồng ý lựa chọn sẽ có ảnh hưởng đến các nước khác.

Ưu tiên của Anh dành cho các đối tác thương mại ngoài châu Âu

Theo các tín hiệu chính trị tích cực gần đây, ưu tiên cao thứ hai trong chính sách thương mại là với Mỹ, đồng minh thân thiết của chúng ta, nơi mà một phần nhỏ trong chính sách thương mại có thể đem lại lợi ích kinh tế to lớn. Điều quan trọng không phải là đạt được thỏa thuận nhanh chóng, mà là đạt được thỏa thuận với nhiều tính toán. Câu trả lời dành cho Vương quốc Anh không phải là cắt giảm thuế quan đối với hàng hoá, mà là các thoả thuận thương mại tốt hơn về dịch vụ và đầu tư, thừa nhận lẫn nhau trong lĩnh vực tiêu chuẩn, chất lượng và quy định, thống nhất dữ liệu.

Đây là những vấn đề mang tính nhạy cảm về chính trị ở cả hai bên, như chúng ta đã biết từ đàm phán TTIP giữa EU và Mỹ. Mỹ sẽ đưa sản phẩm vào  thị trường của chúng ta, ví dụ thịt bò tiêm hooc môn và các loại thực phẩm biến đổi gen, điều mà công chúng Anh có thể mong muốn. Tuy nhiên Anh vẫn ở vị thế yếu hơn do khả năng tiếp cận thị trường nhỏ hơn.

Một ưu tiên khác là đàm phán mới với các nước mà EU có FTA hoặc các hình thức ưu đãi thương mại khác, đặc biệt là Na Uy, Thụy Sĩ, Hàn Quốc và Thổ Nhĩ Kỳ.Khi nước Anh rời EU, Anh sẽ mất quyền tiếp cận đặc quyền vào các thị trường này trừ khi nước Anh có thể tiếp tục các thỏa thuận của EU hoặc thương lượng các thỏa thuận mới.

Thương mại sẽ không dừng lại, nhưng sẽ tốn kém hơn, vì đặt các doanh nghiệp ở Anh vào thế bất lợi khi cạnh tranh với các đối thủ ở châu Âu. Ví dụ, FTA của EU ở Hàn Quốc đã loại bỏ 97 phần trăm thuế quan và phá vỡ nền tảng mới về dịch vụ. Trong năm năm đầu tiên, xuất khẩu của EU sang Hàn Quốc tăng 55% và nước Anh hưởng lợi lớn. Anh cần phải ở lại hiệp định này, hoặc đàm phán một hiệp định mới tốt hơn. Điều này cũng đúng đối với Canada hoặc Thụy Sĩ.

Một số người cho rằng tổn thất từ thị trường EU do Brexit sẽ mau chóng được bù đắp bởi các thị trường năng động hơn như Trung Quốc, Ấn Độ, Nga hoặc Brazil. Chúng ta quả thực sẽ có những cơ hội quan trọng ở đó, nhưng cần hiểu rằng, nếu chúng ta mất 5% thương mại với EU, chúng ta sẽ cần tăng tới 25% với BRICS chỉ để bù đắp lượng tổn thất đó.

‘Vươn tới những vùng đất có ánh sáng mặt trời phải mất thời gian’. Australia đã mất 10 năm để kết thúc FTA với Trung Quốc, và Ấn Độ dành 6 năm với ASEAN. Những người phàn nàn về tệ quan liêu cũng có thể bỏ qua rào cản quan liêu hoặc chính trị ở những thị trường này, bao gồm các yêu cầu hải quan nặng nề, rào cản ngôn ngữ, sự không chắc chắn về luật pháp và thuế phân biệt đối xử. Hiện tại Anh đang có hoạt động thương mại hỗn hợp tại các thị trường này. Anh đã mất thị phần ở Ấn Độ vào tay Đức và Pháp. Tại Trung Quốc, thương mại Đức lớn hơn bốn hay năm lần so với Anh.

Những bước đi phù hợp của Anh hậu Brexit

Các bộ trưởng thương mại khối thịnh vượng chung đã gặp nhau gần đây tại London, và nước Anh nhất định phải tìm kiếm cơ hội mới với họ. Australia và New Zealand quan tâm đến các hiệp định thương mại song phương, nhưng hai nước chỉ chiếm ít hơn 2% kim ngạch xuất khẩu của Anh. Các thoả thuận được cân nhắc đầu tiên là mong muốn về mặt chính trị, sau đó mới về mặt kinh tế. Liệu chúng có phải là ưu tiên khi mà nguồn lực đàm phán của nước Anh còn hạn chế không?

Có một sự thật rằng, 32 quốc gia thuộc khối thịnh vượng chung, chủ yếu ở Châu Phi và Caribê, nằm trong trong các hiệp định thương mại của EU và có thể tiếp cận thị trường của nước Anh miễn thuế. Chỉ đến khi chúng ta đàm phán các hiệp định mới với họ, chúng ta mới nhận ra rằng, nước Anh ở vị thế yếu hơn hẳn so với EU. Vương quốc Anh cũng sẽ không còn khả năng tiếp cận thị trường EU nữa như đã từng có trong quá khứ.

Đây sẽ là cơ hội, ưu tiên lẫn thách thức đối với mối quan hệ thương mại trong tương lai của Anh. Cơ hội có thể đến từ việc mở cửa các thị trường quan trọng khác, ví như các nước ở vùng Vịnh. Dù ai trong chúng ta lựa chọn rời khỏi EU đi chăng nữa, và cả cách Chính phủ thực hiện nó, chúng ta nên hướng về phía trước và chuẩn bị để theo đuổi các cơ hội mới với tính nghiêm túc và khả thi.

Chúng ta sẽ chẳng thể thành công nếu chúng ta thiếu quan điểm rõ ràng, chính sách hợp lý và năng lực phù hợp ở trong nước. Trong bối cảnh quốc tế ngày càng xấu đi, nước Anh cần phải duy trì lực lượng tích cực để tăng trưởng bền vững, hợp tác, khoan dung và tôn trọng lẫn nhau. Thương mại công bằng, được tiến hành trong một hệ thống dựa trên luật lệ, là trụ cột thiết yếu của an ninh quốc tế và sự thịnh vượng. Việc chuyển sang chủ nghĩa quốc gia và bảo hộ là con đường dẫn tới tổn thất kinh tế và mất an ninh.

Điều này đòi hỏi sự lãnh đạo chính trị mạnh mẽ. Xây dựng lại niềm tin vào thương mại mở chỉ thành công nếu mọi người tin rằng nó phục vụ lợi ích người dân. Công việc này quá đỗi phức tạp và mất thời gian, nhưng vẫn hơn hẳn khối câu trả lời sáo rỗng và tích lũy dần sự thất vọng trong tương lai.

Chính phủ cũng cần phải hiểu được thái độ của doanh nghiệp. Các công ty lớn sẽ điều chỉnh để tìm cách thức hoạt động mới trên thị trường quốc tế. Nhưng những quyết định của họ sẽ dựa trên cân nhắc về lợi nhuận và lợi ích của cổ đông, chứ không phải chủ nghĩa yêu nước hoặc bản sắc dân tộc. Và họ không thể đợi chờ quá lâu: họ cần phải thực hiện các kế hoạch dự phòng trước. Các doanh nghiệp nhỏ có ít lựa chọn hơn và có thể cần thêm sự trợ giúp để hoạt động trên thị trường quốc tế hậu Brexit.

Dự thảo gần đây của Chính phủ Anh về Chiến lược Công nghiệp mới đã nhận được nhiều hoan nghênh. Chúng ta cần tìm cách để mọi người được giáo dục, có kỹ năng, cơ hội và sự tự tin để có thể cạnh tranh trong nền kinh tế tri thức có chất lượng cao. Đây là một thách thức dài hạn, đòi hỏi phải có chính sách và đầu tư nhất quán. Điều này sẽ không đạt được bởi một nền kinh tế có mức thuế thấp, điều tiết thấp hoặc thông qua sự can thiệp hoặc bảo hộ nặng nề của nhà nước. Một trong hai cách tiếp cận này đều gây tổn hại vị thế quốc tế.

Con đường phía trước thật sự rất phức tạp. Cơ hội mới vẫn đến, nhưng việc dành các ưu tiên cao nhất cho nhóm các vấn đề quan trọng là một công việc quá sức dành cho Quốc hội, Bộ trưởng và các công chức, thử thách giới hạn của cả hệ thống chúng ta. Chúng ta cần có quyết tâm, tư duy rõ ràng và có đủ hiểu biết cả trong và ngoài nước để đối phó với thách thức.

Sir Simon Fraser là Phó Chủ tịch của Chatham House; đồng thời là nhà tư vấn độc lập.

Nguồn: Sir Simon Fraser, “Bracing ourselves for Brexit”, The Chatham House, 10/04/2017

Biên dịch: HT

Từ khóa: chuẩn bị, Brexit

Chuyên mục RCEP

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Phân tích - Bình luận

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Thư viện hội nhập

thu vien

Xem nhiều nhất


phong ve thuong mai

Video

Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field

Liên kết

 

Lượt truy cập

008746045
Go to top