
Sau gần 3 năm với 14 vòng đàm phán, ngày 02 tháng 12 năm 2015, Bộ trưởng Bộ Công Thương Việt Nam, ông Vũ Huy Hoàng và Cao ủy EU về thương mại, bà Cecilia Malmstrom đã ký Hiệp định thương mại Việt Nam-EU (EVFTA). Cả hai bên thống nhất sẽ nỗ lực hoàn tất quá trình phê chuẩn càng sớm càng tốt để EVFTA có hiệu lực từ đầu năm 2018.
EVFTA được coi là một trong những hiệp định thương mại và đầu tư toàn diện và đầy tham vọng nhất mà EU đã từng ký kết với một nước đang phát triển. Đây là thỏa thuận thứ hai trong khu vực ASEAN sau FTA của EU với Singapore và nó giúp nâng mối quan hệ song phương giữa Việt Nam và EU lên một tầm cao mới. Các doanh nghiệp Việt Nam sẽ có quyền tiếp cận vào một thị trường tiềm năng với 500 triệu người và GDP 15 nghìn tỷ USD (22% GDP toàn cầu). Ngược lại, các nhà xuất khẩu và đầu tư từ EU có nhiều cơ hội nhiều hơn để tiếp cận vào một trong những nước phát triển nhanh nhất khu vực với dân số hơn 90 triệu người.
EVFTA được hy vọng là sẽ giúp thu nhập thực tế của người lao động có tay nghề cao tăng 12% và 13% cho người lao động thông thường. Kinh tế vĩ mô sẽ ổn định và tỷ lệ lạm phát được kiểm soát. Hoạt động kinh doanh của Việt Nam sẽ bùng nổ trong vài năm tới khi EVFTA chính thức có hiệu lực và trong các chính sách của Chính phủ cũng như cải cách thể chế bắt đầu thể hiện các hiệu ứng tích cực từ hiệp định này.
GDP của Việt Nam dự kiến sẽ tăng 0,5% mỗi năm; tăng trưởng xuất khẩu là 4-6% mỗi năm. Nếu giữ được xu hướng này thì đến năm 2020, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang EU sẽ đạt16 tỷ USD. Đến năm 2025, EVFTA ước tính sẽ giúp GDP của Việt Nam tăng thêm 7-8% so với dự báo hiện nay.
Tiếp cận thị trường cho hàng hóa thông qua hiệp định EVFTA
Gần như tất cả các loại thuế quan của hơn 99% số dòng thuế sẽ được loại bỏ. Số nhỏ còn lại cũng được tự do hóa một phần mặc dù sẽ áp dụng hạn ngạch thuế quan. Do Việt Nam vẫn là một nước đang phát triển, nên nước này sẽ tự do hóa 65% dòng thuế nhập khẩu cho hàng hóa của EU và phần còn lại sẽ được loại bỏ trong vòng 10 năm. Đối với một số sản phẩm, thuế nhập khẩu đối với hàng hóa của EU sẽ được loại bỏ trong vòng 7 năm như xe gắn máy có động trên 150 cc, phụ tùng xe hơi và khoảng phân nửa sản phẩn dược của EU. Thị trường sẽ được mở ra đối với hầu hết các sản phẩm thực phẩm của EU, ví dụ như rượu vang, rượu mạnh và thịt heo đông lạnh sau 7 năm và các sản phẩm sữa sau tối đa là 5 năm. Đây là thỏa thuận loại bỏ thuế quan sâu rộng chưa từng có ở một quốc gia như Việt Nam, nó minh chứng cho mục tiêu của hội nhập và mối quan hệ sâu sắc hơn của nước này với EU.
Đổi lại, EU đồng ý loại bỏ ngay lập tức cho 85% dòng thuế đối với hàng hóa nhập khẩu từ Việt Nam và 99% dòng thuế được bãi bỏ sau 7 năm kể từ ngày EVFTA có hiệu lực. EU sẽ loại bỏ thuế quan đối với một số mặt hàng nhạy cảm trong lĩnh vực dệt may và da giày trong khoảng thời gian từ 5 đến 7 năm, với quy tắc xuất xứ từ vải (thay vì quy tắc xuất xứ từ sợi khắc nghiệt như trong TPP) và cho phép Việt Nam nhập khẩu các loại vải từ Hàn Quốc. EU cũng có thể nhập khẩu một số sản phẩm nông nghiệp Việt Nam nhạy cảm bằng hạn ngạch thuế quan (TRQ). Thêm vào đó là các loại hàng xuất khẩu chính của Việt Nam như điện thoại di động, phụ kiện máy tính, và giày thể thao. Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may, quần áo và giày dép của Việt Nam sang EU dự kiến sẽ tăng gấp đôi vào năm 2020 như là một kết quả của EVFTA.
Chúng tôi lưu ý rằng trong khu vực ASEAN, ngoài Việt Nam thì Singapore cũng đã có FTA với EU vào năm 2014. Tuy nhiên, điều này không ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của Việt Nam trong thương mại với EU. Lý do là trong thực tế Việt Nam chủ yếu xuất khẩu hàng dệt may, giày dép, nông sản,… vv trong khi xuất khẩu chính của Singapore là máy móc, sản phẩm hóa chất và thiết bị vận tải. Hơn nữa, trong khi EU đang đẩy nhanh các thủ tục đàm phán FTA với các nước khác trong khu vực ASEAN, Việt Nam nên tận dụng thời cơ vàng trước khi các FTA với các nước khu vực khác được ký kết và có hiệu lực.
Tiếp cận thị trường cho các nhà cung cấp dịch vụ của EU
Mặc dù các cam kết gia nhập WTO của Việt Nam được coi là cơ sở cho các Chương về thương mại dịch vụ và cam kết, nhưng Việt Nam không chỉ phải mở cửa thêm các ngành hoặc tiểu ngành cho các nhà cung cấp dịch vụ của EU mà còn có các cam kết sâu hơn so với cam kết WTO, tạo điều kiện tốt nhất cho các đối tác EU tiếp cận thị trường của Việt Nam. Các ngành hoặc tiểu ngành không có trong cam kết WTO nhưng Việt Nam cam kết thêm với EU bao gồm: Dịch vụ Nghiên cứu và Phát triển đa ngành (R&D); dịch vụ điều dưỡng, nhân viên vật lý trị liệu và và trợ giúp y tế; dịch vụ đóng gói; dịch vụ Hội chợ thương mại và triển lãm; dịch vụ xây dựng-vệ sinh công nghiệp. Hơn nữa, điều đáng nói là EVFTA có một điều khoản cho phép một bên cung cấp đối xử ưu đãi tốt nhất mà như đang đàm phán với các đối tác khác trong khuôn khổ khác (ví dụ, TPP, hiệp định đối tác kinh tế toàn diện khu vực, Hiệp hội Thương mại Tự do Việt Nam - châu Âu).
Dưới đây là một số cam kết của Việt Nam trong các lĩnh vực trọng điểm, có đối chiếu với các cam kết trong WTO.
Lĩnh vực phân phối
WTO đòi hỏi một bản Điều tra Nhu cầu Kinh tế (Economic Needs Test - ENT) trước khi cấp phép thành lập các điểm dịch vụ bán lẻ (ngoài điểm đầu tiên). EVFTA cũng đòi hỏi giống vậy song có bổ sung thêm các trường hợp được miễn ENT và thời hạn bãi bỏ yêu cầu ENT.
Lưu ý: Lĩnh vực lọc dầu và dầu thô của vẫn cấm đối với các nhà đầu tư nước ngoài.
| WTO | EVFTA |
|
Việc thành lập các điểm dịch vụ bán lẻ (ngoài điểm đầu tiên) sẽ được xem xét trên cơ sở có một ENT |
Trong trường hợp thiết lập một cửa hàng nhỏ bán lẻ có quy mô nhỏ hơn 500m2 trong khu vực quy hoạch phù hợp và đã hoàn thành xây dựng cơ sở hạ tầng, thì không cần phải có ENT. Yêu cầu về ENT sẽ được bãi bỏ sau 5 năm kể từ ngày Hiệp địnhcó hiệu lực. |
Năng lượng
| WTO | EVFTA |
|
N/A Không áp dụng |
Cam kết thêm 3 tiểu ngành: (i) Sản xuất điện; truyền tải và phân phối điện trên mạng riêng; (ii) Sản xuất khí đốt; phân phối nhiên liệu khí bằng đường ống riêng; và (iii) Sản xuất hơi nước và nước nóng; phân phối hơi nước và nước nóng trên mạng riêng. |
Vận tải biển
| Tiểu ngành | WTO | EVFTA |
| Dịch vụ vận tải biển | Tiếp cận thị trường Mode 3 (MA): thành lập liên doanh với tỷ lệ cổ phần tối đa cho doanh nghiệp nước ngoài là 49% | Mode 3 MA: thành lập liên doanh với tỷ lệ cổ phần tối đa cho doanh nghiệp nước ngoài là 70% |
|
Vận tải đường thủy nội địa + Hành khách + Hàng hóa |
Mode 1: Không cam kết Mode 3: thành lập liên doanh với tỷ lệ cổ phần tối đa cho doanh nghiệp nước ngoài là 49% |
Mode 1: Không hạn chế Mode 3: thành lập liên doanh với tỷ lệ cổ phần tối đa cho doanh nghiệp nước ngoài là 51% |
Dịch vụ chứng khoán
| WTO | EVFTA |
|
Cam kết đối với 6 tiểu ngành Mode 3: Nhà cung cấp dịch vụ chứng khoán nước ngoài được phép thành lập văn phòng đại diện và liên doanh với sở hữu tối đa 49%. Sau 5 năm kể từ ngày gia nhập, các nhà cung cấp dịch vụ chứng khoán có thể thành lập công ty sở hữu 100% vốn |
Cam kết đối với 6 tiểu ngành Cam kết thêm 2 dịch vụ: Cung cấp và chuyển giao dịch vụ xử lý dữ liệu tài chính; Phân tích và ứng dụng tín dụng Mode 3: giống như cam kết WTO |
Dịch vụ viễn thông
• Dịch vụ không có hạ tầng mạng: WTO / AFAS: tối đa 65% sở hữu nước ngoài nhưng EVFTA sau 5 năm có thể sở hữu đến 75%.
• Các dịch vụ khác – Mạng ảo (Virtual Private Network - VPN): tối đa 70% sở hữu nước ngoài nhưng trong EVFTA là sau 5 năm, có thể tối đa 75%.
Kết luận
Việt Nam là một đất nước đang thay đổi và cung cấp ngày càng nhiều cơ hội cho các doanh nghiệp nước ngoài. Sức mạnh tiềm ẩn của nền kinh tế được phản ánh trong các thành tích về các chỉ số kinh tế vĩ mô, năng suất tăng mạnh mẽ và hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế khu vực và toàn cầu. Đây chính là thời điểm cho các nhà đầu tư nước ngoài để bắt đầu kế hoạch kinh doanh của mình và nắm bắt những cơ hội rõ ràng sắp tới.
Nguồn: https://www.linkedin.com – Thuy Van
Từ khóa: Hiệp định tự do thương mại, EU, Việt Nam, cơ hội, tiếp cận thị trường.
Các tin khác
- Cơ hội để Trung Quốc thay thế Mỹ trở thành đối tác thương mại lớn nhất của ASEAN - 11/10/2016
- Tham gia các FTA: Biến cơ hội thành lợi ích - 10/10/2016
- Brexit: êm ả hay đau đớn? - 10/10/2016
- Thênh thang cơ hội xuất khẩu gỗ sang Hoa Kỳ, Nhật Bản - 10/10/2016
- TPP và những tác động đến tăng trưởng kinh tế của Việt Nam - 10/10/2016






















