JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU
Phân tích - Bình luậnTổng hợp tình hình Cộng đồng kinh tế ASEAN trong tháng 8/2016

Tổng hợp tình hình Cộng đồng kinh tế ASEAN trong tháng 8/2016

AEC và TPP

Trong tháng 8/2016, tin tức về Cộng đồng kinh tế ASEAN được thành lập cuối năm ngoái khá sôi động.

Nâng cao vị thế Việt Nam trong Cộng đồng Kinh tế ASEAN

Là nền kinh tế có quy mô đứng thứ 6 và kim ngạch ngoại thương đứng thứ 4 trong ASEAN, Việt Nam đang đóng vai trò ngày càng quan trọng trong tiến trình hợp tác khu vực. Thời gian tới, Việt Nam đặt mục tiêu ra khỏi nhóm các nước kém phát triển hơn trong ASEAN để gia nhập vào nhóm các thành viên dẫn đầu về năng lực cạnh tranh.

Tổng quan về Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC)                                                            

ASEAN là một thị trường rộng lớn với dân số hơn 600 triệu người, tổng thu nhập quốc nội (GDP) năm 2014 ước đạt 2.500 tỷ USD và tổng kim ngạch xuất khẩu hàng năm khoảng 1.000 tỷ USD.

Năm 1992, các nhà Lãnh đạo ASEAN đã quyết định thành lập Khu vực Thương mại tự do ASEAN (AFTA) với mục tiêu xóa bỏ các hàng rào thuế quan và phi thuế quan giữa các nước thành viên ASEAN. Sau khi trở thành thành viên ASEAN vào năm 1995, Việt Nam đã ký hiệp định tham gia AFTA từ 1998. Thực hiện các cam kết theo AFTA, tới ngày 01 tháng 01 năm 2010, 6 nước thành viên cũ ASEAN đã cơ bản hoàn thành lộ trình tự do hóa thương mại với việc xóa bỏ thuế quan đối với 99,65% số dòng thuế. 4 nước thành viên mới gồm Cam-pu-chia, Lào, Mi-an-ma và Việt Nam cũng đã đưa phần lớn số dòng thuế về mức 0-5%.Đây là kết quả nổi bật và là dấu mốc quan trọng trong hợp tác ASEAN.

Trên đà những thành tựu đã đạt được từ AFTA, tại Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 8 tại Phnôm Pênh vào tháng 11 năm 2002, Thủ tướng Singapore Goh Chok Tong đã đưa ra sáng kiến thành lập Cộng đồng Kinh tế ASEAN và được sự ủng hộ của các nước thành viên. Qua nhiều vòng thảo luận, tại Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 12 (tháng 01 năm 2007 tại Philippines), các Nhà Lãnh đạo ASEAN đã ký Tuyên bố Cebu về việc đẩy nhanh xây dựng Cộng đồng ASEAN vào năm 2015 trên ba trụ cột: kinh tế, chính trị - an ninh và văn hóa - xã hội, trong đó trụ cột kinh tế có vai trò trọng tâm với tiêu chí hình thành Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC). Về bản chất, AEC được hiểu như một khuôn khổ hội nhập kinh tế với mức độ sâu sắc hơn giữa các thành viên. Ranh giới các rào cản thương mại được dỡ bỏ, hàng hóa, dịch vụ, vốn và lao động được tạo điều kiện lưu chuyển tự do hơn giữa các nước thành viên. Các chính sách quản lý từng bước được hài hòa, chuẩn mực hóa để hình thành một khu vực kinh tế cạnh tranh. Khoảng cánh phát triển giữa các quốc gia thành viên từng bước được thu hẹp. ASEAN, với vị thế một trong những khu vực kinh tế năng động có tốc độ phát triển nhanh nhất thế giới sẽ tham gia đầy đủ và sâu sắc hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.

So với Khu vực Mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) vốn chỉ dựa trên hai hiệp định tự do về hàng hóa và dịch vụ, AEC sẽ có sự phát triển đáng kể về phạm vi và mức độ tự do hóa. Hàng hóa, dịch vụ, vốn, đầu tư và lao động kỹ năng sẽ được tạo điều kiện lưu chuyển tự do hơn giữa 10 nước thành viên. ASEAN tiếp tục khẳng định vai trò trung tâm trong các cấu trúc khu vực và hội nhập sâu hơn vào kinh tế thế giới. Tiến trình hội nhập của ASEAN sau 2015 sẽ tiếp tục được thúc đẩy trên cơ sở những định hướng từ viễn cảnh của AEC nhằm hướng tới các mục tiêu  cơ bản sau:

Thứ nhất, đưa ASEAN trở thành một cơ sở sản xuất và thị trường chung với sự lưu chuyển tự do của hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, vốn và lao động kỹ năng. Để đạt mục tiêu này, ASEAN sẽ  tiếp tục đàm phán các hiệp định tự do về hàng hóa, dịch vụ, đầu tư; hoàn thiện các khuôn khổ pháp lý về bảo hộ và thúc đẩy đầu tư; tạo thuận lợi cho sự di chuyển lao động kỹ năng thông qua các thỏa thuận công nhận lẫn nhau.

Thứ hai, phát triển cân bằng giữa các nước thành viên, thu hẹp khoảng cách phát triển và thúc đẩy tiến trình hội nhập của Cam-pu-chia, Lào, Mi-an-ma và Việt Nam thông qua Sáng kiến Hội nhập ASEAN và các sáng kiến khu vực khác;

Thứ ba, nâng cao năng lực cạnh tranh của kinh tế khu vực thông qua các giải pháp tạo thuận lợi phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME), thuận lợi hóa thương mại (Cơ chế một cửa ASEAN, cải cách quy tắc xuất xứ,…), hài hòa tiêu chuẩn, hàng rào kỹ thuật đối với thương mại...

Thứ tư, đưa kinh tế ASEAN hội nhập đầy đủ và sâu sắc hơn vào nền kinh tế toàn cầu trên cơ sở tham gia của ASEAN vào các cấu trúc kinh tế khu vực và chuỗi cung ứng toàn cầu.

AEC- trụ cột chính trong cấu trúc Cộng đồng ASEAN

Việc hình thành AEC đưa hợp tác và đoàn kết ASEAN lên một tầm cao mới, khẳng định ý chí và nguyện vọng của các quốc gia thành viên trong việc tăng cường sức mạnh của khu vực, nhằm đối phó với những thách thức an ninh, chính trị và kinh tế trong Thiên niên kỷ mới. Trong một khu vực kinh tế phát triển năng động, có mặt nhiều cường quốc, đang tồn tại những bất đồng và tranh chấp lãnh thổ,… việc củng cố liên kết giữa 10 nước thành viên là một nhân tố có ý nghĩa hàng đầu đối với duy trì hòa bình, an ninh và ổn định trong khu vực cũng như tăng cường vị thế của mỗi quốc gia.

Là các quốc gia láng giềng, chia xẻ sự gần gũi về địa lý, những yếu tố tương đồng nhất định về lịch sử, văn hóa, truyền thống… nhưng 10 nước ASEAN cũng hết sức đa dạng và khác biệt về thể chế chính trị, tôn giáo, quy mô thị trường, trình độ phát triển… Đa phần là các nền kinh tế đang phát triển với quy mô nhỏ và trung bình, lại tồn tại trong một khu vực giao thoa ảnh hưởng của nhiều nước lớn, trong một chừng mực nhất định, chính sách đối ngoại, thương mại của các thành viên bị tác động bởi các yếu tố địa chính trị. Trong nhiều vấn đề kinh tế, chính trị quan trọng của khu vực, việc tìm tiếng nói đồng thuận trong ASEAN không đơn giản.Bởi mỗi thành viên có những định hướng riêng trong quan hệ với các cường quốc phù hợp với mục tiêu chiến lược của mình, xuất phát từ các quan hệ truyền thống, lợi ích kinh tế. Tuy nhiên, mỗi quốc gia thành viên ASEAN đều ý thức rõ vai trò của liên kết ASEAN đối với việc tăng cường vị thế quốc tế của mình, cũng như tầm quan trọng của việc thiết lập một thị trường chung đối với việc cải thiện tiềm lực kinh tế khu vực. AEC là sợi dây gắn kết 10 quốc gia ASEAN bắt nguồn những lợi ích kinh tế hội nhập khu vực đem lại cho mỗi thành viên. Trên con đường tiến tới các mô hình hội nhập cấp độ cao hơn về tài chính, an ninh, chính trị, hợp tác kinh tế được coi là trụ cột bởi đó là tiền đề tạo nền tảng mở rộng quan hệ hợp tác sang các lĩnh vực an ninh, chính trị, văn hóa và xã hội.

Những tác động của AEC tới khu vực và Việt Nam  

AEC được hình thành sẽ mang lại những cơ hội to lớn cho các nước thành viên ASEAN nhờ khai thác hiệu quả hơn các nguồn lực khu vực, tăng cường khả năng thu hút đầu tư và tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu. Hàng rào thuế quan giữa các quốc gia được loại bỏ, các hàng rào phi thuế ngày càng hạn chế, hạ tầng giữa các nước được kết nối thuận tiện, thủ tục xuất nhập khẩu được điện tử hóa và hài hòa qua chương trình Một cửa ASEAN… sẽ tạo ra một thị trường chung với những cơ hội thương mại tiềm tàng cho các doanh nghiệp. Thị trường khu vực liên kết tạo điều kiện để các doanh nghiệp phát triển sản xuất quy mô và mở rộng thị trường ra các nước lân cận. Các doanh nghiệp sản xuất cũng sẽ có thêm cơ hội cắt giảm chi phí đầu vào để hạ giá thành sản phẩm và thuận lợi hơn trong đầu tư đổi mới công nghệ… Hội nhập khu vực tạo tiền đề và đồng thời sức ép cải cách lên các doanh nghiệp.Bởi để tận dụng các cơ hội này, các doanh nghiệp phải hình thành tư duy kinh doanh khu vực với các biện pháp quản trị phù hợp chuẩn mực quốc tế.

Trong lĩnh vực đầu tư, thị trường quy mô lớn hơn cùng với những cải thiện môi trường đầu tư thông qua Hiệp định Đầu tư toàn diện ASEAN (ACIA) sẽ làm tăng tính hấp dẫn của thị trường ASEAN đối với các nhà đầu tư trong khối cũng như từ các nước đối tác. Khu vực đầu tư ASEAN sẽ có sức cạnh tranh hơn so với các nền kinh tế đang phát triển trong thu hút đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, cạnh tranh nội khối trong thu hút FDI sẽ có xu hướng tăng lên. Bởi trong thị trường nhất thể hóa, quyết định đầu tư của nhà đầu tư sẽ không phụ thuộc vào các chính sách bảo hộ của nước tiếp nhận mà sẽ phụ thuộc vào nơi nào có hệ thống chính sách minh bạch, lao động cạnh tranh, hạ tầng thuận tiện. Không loại trừ xu hướng các tập đoàn đa quốc gia sẽ tái cơ cấu lại các khoản đầu tư trong khu vực ASEAN để tập trung về một cơ sở có hiệu quả nhất tại một quốc gia nhằm khai thác lợi thế từ sản xuất quy mô.

Từng bước tự do hóa thị trường lao động chuyên môn cho phép các quốc gia ASEAN tận dụng hiệu quả hơn các nguồn lực khu vực. Hiện các bên đã ký kết 9 gói cam kết về mở cửa thị trường dịch vụ và 8 hiệp định về công nhận chứng chỉ hành nghề của nhau trong các lĩnh vực: kế toán, kiến trúc sư, nha sĩ, bác sĩ, kỹ sư, y tá, vận chuyển và nhân viên ngành du lịch. Các thỏa thuận này sẽ tạo cơ hội thuận lợi hơn cho lao động có tay nghề lưu chuyển trong khu vực. Trong bối cảnh lao động không có chuyên môn kỹ thuật của nước ta chiếm tới 85% lực lượng lao động cả nước, nguồn lực từ các nước láng giềng ASEAN sẽ giúp chúng ta khắc phục phần nào nhu cầu trước mắt về lao động chất lượng cao trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Về lâu dài, cần cải cách mạnh mẽ hệ thống giáo dục và sắp xếp lại hệ thống đào tạo nghề để đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn lực có năng lực, kỹ năng.

Việc tăng cường sự tham gia của ASEAN, với tư cách một khối, vào tiến trình toàn cầu hóa sẽ tăng cường vị thế đàm phán của từng thành viên, tạo cơ hội cho các quốc gia tham gia hiệu quả hơn vào phân công lao động toàn cầu. Các doanh nghiệp sẽ có cơ hội tiếp cận các thị trường lớn, nhiều tiềm năng như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Ô-xtơ-rây-li-a, Niu Di-lân và Ấn Độ thông qua các FTA giữa ASEAN và đối tác với vai trò trung tâm của ASEAN.

Tuy nhiên, với những gì đã đạt được qua 20 năm xây dựng khu vực mậu dịch tự do, các nước thành viên còn phải nỗ lực rất nhiều để có thể đạt tới những mục tiêu như kỳ vọng. Đây là thách thức không nhỏ xét tới sự đa dạng của các quốc gia thành viên. Bên cạnh sự đa dạng về văn hóa, thể chế chính trị, tôn giáo,... sự khác biệt về trình độ phát triển, chính sách thương mại… là những trở ngại chính để ASEAN hài hòa thể chế kinh tế, thiết lập một chính sách thương mại chung đối với các đối tác ngoài khối như mô hình Liên minh Thuế quan.

Viễn cảnh                                 

AEC là một bước phát triển trong tiến trình liên kết khu vực của ASEAN. AEC kế thừa những thành tựu tự do hóa thương mại trong khuôn khổ AFTA và tiếp tục hướng tới các cấp độ liên kết cao hơn giữa các thành viên trong tương lai. Điều này có nghĩa những giá trị cũng như các thách thức đối với hợp tác khu vực Đông Nam Á vẫn có ý nghĩa và mang tính thời sự. Những thành tựu từ phát triển hợp tác ASEAN trong những năm qua là kinh nghiệm quý báu cho các nước thành viên nói chung và Việt Nam nói riêng triển khai các chính sách phù hợp để tận dụng cơ hội và vượt qua thách thức.

Tuy nhiên, để đạt tới những mục tiêu đã đề ra, AEC cần rất nhiều nỗ lực từ các quốc gia thành viên.Về lý thuyết, Cộng đồng kinh tế là mô hình liên kết khu vực ở cấp độ cao hơn nhiều so với Khu vực mậu dịch tự do. Trong đó, các quốc gia đạt đến mức độ tự do hóa gần như hoàn toàn thị trường hàng hóa, dịch vụ, đầu tư. Chính sách thương mại được hài hòa và nhất thể hóa. Các quốc gia thực hiện một chính sách thương mại chung với các quốc gia ngoài khối. Tiêu biểu là Cộng đồng Châu Âu của các nước Tây Âu, Cộng đồng Kinh tế Á – Âu của 3 nước Liên – xô cũ gồm Nga, Be-la-ru-xia và Ka-zac-tan,… Trên thực tế, AEC hiện nay mới chỉ là một khu vực mậu dịch tự do chứ chưa phải là một cộng đồng kinh tế theo đúng nghĩa của thuật ngữ này. AEC sẽ đạt được mục tiêu hình thành thị trường tự do về hàng hóa vào 2018 sau khi bốn nước thành viên mới hoàn thành loại bỏ hoàn toàn thuế quan. Nhưng mục tiêu tự do hóa hoàn toàn thị trường dịch vụ và đầu tư còn nhiều thách thức với ASEAN. Đặc biệt, mục tiêu hài hòa và nhất thể hóa chính sách thương mại còn rất xa bắt nguồn từ sự đa dạng về cơ cấu kinh tế và trình độ phát triển.Các nước trình độ phát triển cao hơn trong ASEAN như Singapore, Malaysia có chính sách thương mại khá cởi mở, thông thoáng.Trong khi các nước trình độ phát triển thấp bao gồm Việt Nam, hiện còn phải duy trì nhiều công cụ bảo hộ để hỗ trợ các ngành sản xuất còn hạn chế năng lực cạnh tranh. Trong tương lai gần, ASEAN ít có khả năng hài hòa chính sách để thực thi một chính sách thương mại chung đối với các đối tác ngoài khối. 

Việc chưa thống nhất được một chính sách thương mại chung của khối khiến mỗi quốc gia thực hiện một chính sách thương mại riêng với các đối tác thương mại ngoài khối. Một số thành viên theo quan điểm tự do thương mại đã tích cực tìm kiếm các cơ hội phát triển thị trường thông qua các khuôn khổ hợp tác với các đối tác ngoài khối. Trong chừng mực nhất định, sự đa dạng các định hướng hợp tác khiến các thành viên phân tán nguồn lực cũng như sự tập trung cho tiến trình hội nhập kinh tế nội khối.Đó là một trong những yếu tố khiến nhiều biện pháp trong lộ trình AEC bị chậm so với tiến độ.

Tích cực, chủ động tham gia AEC

Bên cạnh tăng trưởng về giá trị, cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam sang ASEAN có sự chuyển biến tích cực. Bên cạnh các mặt hàng nông sản truyền thống, nguyên nhiên liệu như gạo, cà phê, cao su, dầu thô… các mặt hàng công nghiệp như linh kiện máy tính, dệt may, nông sản chế biến, mỹ phẩm chiếm tỷ trọng ngày càng tăng. Việt Nam và một số nước ASEAN khác là thành viên các câu lạc bộ các nước xuất khẩu lớn về gạo, cao su, cà phê, hạt điều, hàng dệt may. ASEAN đồng thời là nhà đầu tư lớn vào thì trường Việt Nam. Các dự án từ ASEAN nắm giữ sấp xỉ 20% tổng nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam. Những thành viên ASEAN đầu tư nhiều nhất vào Việt Nam là Singapore, Malaysia, Thái Lan và Brunei.

Ngay từ những năm đầu thực hiện đường lối đối ngoại đổi mới của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, Việt Nam đã nhận thức tầm quan trọng của phát triển quan hệ hợp tác với các nước láng giềng trong khu vực.Việc trở thành thành viên ASEAN năm 1995 là bước đi cụ thể hóa chủ trương này. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, trên cơ sở đánh giá tình hình khu vực “ASEAN tiếp tục đẩy mạnh liên kết khu vực, xây dựng cộng đồng, có vai trò ngày càng quan trọng trong khu vực, song còn nhiều khó khăn, thách thức” đã chủ trương “chủ động, tích cực và có trách nhiệm cùng các nước xây dựng Cộng đồng ASEAN vững mạnh”. 

Để thực hiện chủ trương tham gia tích cực xây dựng AEC như đã được Đại hội Đảng XI thông qua, bên cạnh các giải pháp chung, nhằm nâng cao năng lực của nền kinh tế, cần tập trung triển khai một số công tác cụ thể sau:

Trước hết, cần đẩy mạnh và đổi mới công tác thông tin tuyên truyền để xã hội và người dân nắm bắt được những nội dung cơ bản của AEC cũng như ý nghĩa quan trọng của tiến trình này đối với khu vực nói chung và Việt Nam nói riêng. Tình trạng thiếu thông tin và hạn chế nhận thức về AEC là thực tế đang tồn tại ở hầu hết các nước ASEAN.Công tác thông tin, tuyên truyền trong thời gian tới cần phải được cải thiện về chất để nâng cao hiệu quả, đáp ứng được nhu cầu thông tin của xã hội. Hình thức tuyên truyền phải đổi mới trên cơ sở tăng cường sử dụng các công cụ truyền thông đại chúng. Bên cạnh các kênh thông tin chính thống cần khuyến khích sự tham gia nghiên cứu, phản biện... của các nhà khoa học, các hiệp hội doanh nghiệp để tạo sự nhìn nhận khách quan, đa chiều đối với các cơ hội và thách thức AEC.

Thứ hai, nghiêm túc thực hiện các cam kết trong lộ trình đã đề ra để cùng các nước thành viên hoàn thành mục tiêu AEC vào cuối năm.Đồng thời thể hiện vai trò thành viên có trách nhiệm của ASEAN.Tới thời điểm này, Việt Nam là một trong 3 quốc gia đã đạt tỷ lệ thực thi cao nhất các biện pháp trong lộ trình với tỷ lệ trung bình xấp xỉ 90%. Tuy nhiên, những biện pháp còn lại là những vấn đề khó khăn với nhiều nước ASEAN trong đó có Việt Nam, liên quan các lĩnh vực giao thông vận tải, dịch vụ, đầu tư… Việc thực thi các biện pháp trong các lĩnh vực này đòi hỏi việc phê chuẩn các văn kiện đã ký kết, xây dựng hành lang pháp lý cho việc thực thi, hài hòa các điều kiện về kỹ thuật, hạ tầng và giải quyết các vấn đề trong nước. Bởi vậy, cần tăng cường vai trò điều phối Chính phủ nhằm triển khai hài hòa, đồng bộ các biện pháp trong nước và quốc tế.

Thứ ba, tích cực chuẩn bị các điều kiện kỹ thuật và nguồn lực để tham gia các chương trình, dự án tăng cường kết nối ASEAN về cả hạ tầng cứng (đường, cảng, năng lượng,…) và hạ tầng mềm (pháp luật, tiêu chuẩn kỹ thuật, quy định hải quan...). Mục tiêu của các chương trình kết nối ASEAN nhằm tạo thuận lợi cho việc lưu chuyển hàng hoá, dịch vụ, con người… và tăng cường sự gắn kết giữa các nền kinh tế. Tiêu biểu là các dự án trọng điểm kết nối ASEAN bao gồm các dự án trong khuôn khổ Hành lang kinh tế Đông – Tây kết nối miền Trung Việt Nam với Lào, Bắc Thái Lan và Myanmar, các đề án hợp tác Tiểu vùng Mê Kông, các thỏa thuận đối với phương tiện vận chuyển và hàng quá cảnh, sáng kiến Một cửa ASEAN… Việc triển khai các dự án kết nối khu vực sẽ cho phép Việt Nam phát huy yếu tố vị trí địa lý thuận lợi của mình, khai thác hiệu quả hơn các cơ hội từ thị trường chung ASEAN. Bởi vậy, các cơ quan hữu quan của Việt Nam, tuỳ theo lĩnh vực thuộc chức năng quản lý cần tiếp tục chủ động tham gia các dự án trong các lĩnh vực hạ tầng giao thông, hợp tác năng lượng, viễn thông, hài hoà tiêu chuẩn kỹ thuật, thủ tục hải quan,...

Thứ tư, thúc đẩy cải cách hành chính tập trong lĩnh vực thuận lợi hoá thương mại, cụ thể là thực thi cơ chế Một cửa ASEAN.Cải cách hành chính để tạo thuận lợi cho hoạt động của các doanh nghiệp là giải pháp phù hợp quy định của pháp luật thương mại quốc tế và mang tính bền vững.Trong bối cảnh các rào cản thương mại đã được dỡ bỏ, quốc gia nào có các cơ chế quản lý minh bạch, thuận lợi hơn cho doanh nghiệp sẽ có lợi thế hơn các đối thủ trong khai thác các cơ hội AEC.Chúng ta nhận thức rõ ý nghĩa và sự cấp bách của cải cách hành chính đối với nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và quốc gia.Tuy nhiên, thực tế cải cách trong lĩnh vực quản lý xuất nhập khẩu thời gian qua vẫn chưa đáp ứng được kỳ vọng của doanh nghiệp cũng như sự phát triển của thương mại quốc tế. Đề án “Cơ chế một cửa quốc gia” cho phép điện tử hoá các thủ tục cấp phép ở các Bộ, ngành và tập trung về một đầu mối quốc gia. Quy trình này sẽ giúp rút ngắn thời gian, giảm chi phí hành chính và tình trạng quan liêu. Do đó, cần nhìn nhận việc thực hiện “Cơ chế một cửa quốc gia” không chỉ là một nghĩa vụ trong lộ trình thực thi AEC mà còn xuất phát từ nhu cầu nội tại tạo thuận lợi cho hoạt động của doanh nghiệp. Các cơ quan liên quan cần tập trung khắc phục các khó khăn về kỹ thuật, quản lý… để hoàn thành thiết lập hệ thống một cửa quốc gia và kết nối với các hệ thống của các quốc gia thành viên để hình thành cơ chế một cửa ASEAN.

Thứ năm, cần đổi mới nhận thức, hình thành tư duy và tầm nhìn quy mô khu vực của các nhà quản lý và cộng đồng doanh nghiệp. Trên cơ sở đó sẽ dần hình thành những phương pháp tiếp cận đối với các cơ hội và thách thức khi thị trường chung AEC vận hành. Để khai thác một thị trường lớn hơn, cơ hội kinh doanh nhiều hơn cần có chiến lược và phương thức kinh doanh dài hạn và bài bản hơn.Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay, hầu hết là vừa, nhỏ và rất nhỏ.Đặc biệt cần chú trọng xây dựng thương hiệu và công tác nghiên cứu, dự báo thị trường.

Cộng đồng Kinh tế ASEAN 2025: Cơ hội và thách thức mới đối với Việt Nam

Nhân dịp Tuần ASEAN và kỷ niệm 21 năm ngày Việt Nam tham gia ASEAN, Cổng thông tin điện tử Bộ Công Thương xin giới thiệu bài viết của Thứ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Cẩm Tú "Cộng đồng Kinh tế ASEAN 2025: Cơ hội và thách thức mới đối với Việt Nam"

Gia nhập ASEAN năm 1995 là bước đi quan trọng trong tiến trình mở cửa, hội nhập của Việt Nam thực hiện chủ trương của Đại hội Đảng thứ VII về "đa dạng hóa và đa phương hóa quan hệ kinh tế với mọi quốc gia", "tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho người nước ngoài vào nước ta đầu tư, hợp tác kinh doanh" và "gia nhập các tổ chức và hiệp hội kinh tế quốc tế khác khi cần thiết và có điều kiện". Trong 21 năm qua, Việt Nam đã tham gia hội nhập kinh tế ASEAN một cách tích cực, chủ động và cùng các nước thành viên ASEAN xây dựng nền móng quan trọng để Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) chính thức được hình thành vào ngày 31 tháng 12 năm 2015.

Đến nay, ASEAN đã trở thành một trong các đối tác thương mại quan trọng hàng đầu và là động lực quan trọng giúp Việt Nam duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế trong nhiều năm qua.

Về thương mại, số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan cho thấy kim ngạch thương mại hai chiều của Việt Nam với ASEAN tăng trưởng bình quân 14,5%/năm trong thời gian qua, từ khoảng 3,3 tỷ USD năm 1995 lên 42,1 tỷ USD năm 2015 (tăng gần 13 lần). ASEAN đã trở thành đối tác thương mại đứng thứ hai của Việt Nam (sau Trung Quốc).

Về xuất khẩu của Việt Nam sang ASEAN, tốc độ tăng trưởng bình quân thời gian qua đạt 17,1%, đưa kim ngạch xuất khẩu từ gần 1 tỷ USD năm 1995 lên 18,3 tỷ USD năm 2015 (tăng hơn 18 lần). Hiện ASEAN là thị trường xuất khẩu lớn thứ ba của Việt Nam (sau Hoa Kỳ và EU). Trước năm 2010, doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu chủ yếu sang ASEAN 2 nhóm mặt hàng chính là dầu thô và gạo (chiếm trên 50% tổng kim ngạch). Hiện nay, cơ cấu mặt hàng xuất khẩu sang ASEAN đã đa dạng hơn nhiều, ngoài dầu thô và gạo, các doanh nghiệp Việt Nam đã xuất khẩu sang ASEAN nhiều mặt hàng khác như điện thoại các loại và linh kiện; máy vi tính sản phẩm điện tử và linh kiện; sắt thép các loại; máy móc thiết bị dụng cụ và phụ tùng; dệt may, giày dép, thủy sản, cà phê, cao su, v.v…

Ở chiều ngược lại, tốc độ tăng trưởng bình quân của kim ngạch nhập khẩu từ ASEAN thời gian qua đạt 13,4%, đưa kim ngạch nhập khẩu từ 2,3 tỷ USD năm 1995 lên 23,8 tỷ USD năm 2015 (tăng hơn 10 lần). Hiện ASEAN là đối tác thương mại cung cấp nguồn hàng hoá lớn thứ 3 cho Việt Nam, chỉ đứng sau Trung Quốc và Hàn Quốc. Trong nhiều năm qua, chiếm tỷ trọng trên 60% kim ngạch nhập khẩu từ ASEAN, chủ yếu là những mặt hàng nhập khẩu thiết yếu, nguyên phụ liệu đầu vào phục vụ sản xuất trong nước như: xăng dầu các loại; máy móc, thiết bị, dụng cụ & phụ tùng; máy vi tính, sản phẩm điện tử & linh kiện; chất dẻo nguyên liệu; giấy; gỗ & sản phẩm gỗ; hàng điện gia dụng & linh kiện; linh kiện & phụ tùng ô tô; hóa chất & sản phẩm hóa chất, v.v…

Nhìn chung, trong quan hệ thương mại với ASEAN, Việt Nam đang là nước nhập siêu.

Trong quan hệ về đầu tư, ASEAN là nguồn cung FDI quan trọng của Việt Nam, đồng thời cũng là cầu nối cho nhiều khoản đầu tư của các công ty đa quốc gia có trụ sở tại ASEAN. Những thành viên ASEAN có vốn đầu tư lớn vào Việt Nam là Xinh-ga-po, Ma-lai-xi-a và Thái Lan. Trong khi đó, ASEAN cũng là thị trường truyền thống của các nhà đầu tư Việt Nam, đứng đầu là Lào và Cam-pu-chia.

Đằng sau những con số trên là nỗ lực không ngừng của Việt Nam để hội nhập kinh tế ASEAN trong suốt thời gian qua với cột mốc quan trọng là sự hình thành chính thức của AEC. Tại thời điểm AEC được thành lập, nhiều cam kết quan trọng đã có hiệu lực đối với ta:

Về thương mại hàng hoá, theo Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN (ATIGA), ta đã đưa thuế suất về 0% đối với khoảng 90% số dòng thuế và sẽ phải xóa bỏ khoảng 97% số dòng thuế và xóa bỏ hạn ngạch thuế quan trước năm 2018. Ở chiều ngược lại, khoảng 99% hàng xuất khẩu của ta sang các nước ASEAN-6 đã được miễn thuế nhập khẩu từ năm 2010. Ngoài ra, ASEAN đang đẩy mạnh việc thực hiện các cơ chế giải quyết hàng rào phi thuế quan như tham vấn, đối thoại. Các hoạt động thuận lợi hóa thương mại cũng được thúc đẩy với nhiều sáng kiến quan trọng như Cơ chế hải quan một cửa ASEAN, Tự chứng nhận xuất xứ, Cơ sở dữ liệu thương mại ASEAN... đang được vận hành từng bước. Hiện nay Việt Nam cùng 6 nước ASEAN gồm Bru-nây, In-đô-nê-xia, Ma-lay-xia, Phi-lip-pin, Xinh-ga-po, Thái Lan đã triển khai toàn bộ hoặc một phần xây dựng cơ chế một cửa quốc gia của mình và đang là một trong số các nước ASEAN đi đầu trong việc kết nối với cơ chế một cửa ASEAN. Việt Nam cũng đã tham gia và đang triển khai dự án thí điểm về tự chứng nhận xuất xứ trong ASEAN. Nhờ đó, thương mại hàng hóa trong ASEAN trở nên thuận lợi hơn, từng bước hướng tới hiện thực hóa mục tiêu thành lập cơ sở sản xuất chung và thị trường chung ASEAN trong khuôn khổ AEC.

Về thương mại dịch vụ, trong khuôn khổ Hiệp định khung ASEAN về dịch vụ (AFAS), ta đã cùng các nước ASEAN đưa ra cam kết theo 9 Gói cam kết về thương mại dịch vụ chung, 6 Gói cam kết về dịch vụ tài chính, 9 Gói cam kết về dịch vụ vận tải hàng không, phù hợp với chiến lược phát triển các ngành dịch vụ của ta và pháp luật hiện hành. ASEAN cũng đang nỗ lực hoàn thành các Gói cam kết tiếp theo và đàm phán nâng cấp Hiệp định AFAS thành Hiệp định Thương mại dịch vụ ASEAN trong tương lai. Cam kết của Việt Nam cũng như các nước ASEAN về dịch vụ để thực hiện AEC là cao hơn cam kết gia nhập WTO của ta (WTO+) nên sẽ tác động gia tăng luồng thương mại dịch vụ nội khối, đặc biệt là trong các lĩnh vực ưu tiên hội nhập như vận tải hàng không, công nghệ thông tin, y tế, du lịch và logistics.

Nhằm tạo thuận lợi cho sự di chuyển của lao động có kỹ năng trong khu vực, ta cùng ASEAN đã ký kết Hiệp định di chuyển thể nhân ASEAN năm 2012 và 8 thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau (MRA) trong khuôn khổ ASEAN về các dịch vụ chuyên môn như dịch vụ kỹ thuật (2005), dịch vụ điều dưỡng (2006), dịch vụ kiến trúc (2007), chứng chỉ giám sát khảo sát (2007), người hành nghề y (2009), người hành nghề nha khoa (2009), thoả thuận khung về kế toán (2009) và sau đó được kế thừa bởi MRA về kế toán (2014), nghề du lịch (2012). Các cam kết này chỉ nhằm tạo thuận lợi cho di chuyển lao động có tay nghề trong ASEAN, không áp ụng với lao động phổ thông.

Về đầu tư, ta và ASEAN đã ký kết Hiệp định đầu tư toàn diện ASEAN (ACIA) năm 2009 và đang tiếp tục rà soát, loại bỏ các hạn chế về đầu tư. Nỗ lực này sẽ giúp gia tăng đầu tư nội khối, tác động trực tiếp đến tăng trưởng kinh tế và việc làm của các nước ASEAN, trong đó có Việt Nam, đồng thời tác động gián tiếp đến sức thu hút đầu tư nước ngoài từ ngoài khối vào ASEAN, tác động gián tiếp đến việc gia tăng luồng thương mại giữa các nước ASEAN và nhu cầu cải thiện môi trường đầu tư của mỗi nước. Việc Quốc hội thông qua Luật đầu tư sửa đổi và Luật doanh nghiệp sửa đổi 2014 là một bước đi quan trọng của Việt Nam trong việc chuẩn bị tăng cường cho hội nhập trong lĩnh vực đầu tư và đón xu hướng tăng cường đầu tư trong khuôn khổ AEC. Trong lĩnh vực xúc tiến và tự do hóa đầu tư, Việt Nam đã cùng các nước ASEAN đạt được những kết quả nhất định như xuất bản sách hướng dẫn đầu tư cho doanh nghiệp, báo cáo đầu tư ASEAN hàng năm; tổ chức các hội thảo, diễn đàn về xúc tiến đầu tư; xây dựng trang thông tin ASEAN về đầu tư, v.v...

Nhìn chung, việc thực hiện các cam kết xây dựng AEC đã mang lại nhiều lợi ích cho chính phủ, các doanh nghiệp và người tiêu dùng ASEAN. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng hội nhập kinh tế khu vực sẽ không kết thúc vào năm 2015. Nhằm hướng tới mục tiêu hội nhập sâu rộng hơn, các Nhà Lãnh đạo ASEAN đã thông qua Kế hoạch Tổng thể xây dựng AEC đến năm 2025 với 5 đặc trưng: (i) Một nền kinh tế hội nhập cao và gắn kết; (ii) Một ASEAN cạnh tranh, đổi mới và năng động; (iii) Nâng cao kết nối và hợp tác chuyên ngành; (iv) Một ASEAN có sức bật, phát triển toàn diện, hướng tới con người và lấy con người làm trung tâm; (v) Một ASEAN toàn cầu.

Nghị quyết Đại hội Đảng XII mới đây cũng đã khẳng định chủ trương “thực hiện đầy đủ các cam kết trong cộng đồng ASEAN và WTO, tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, hội nhập quốc tế với tầm mức sâu rộng hơn nhiều so với giai đoạn trước”, “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế để phát triển đất nước”, “mở rộng và đưa vào chiều sâu các quan hệ đối ngoại; tận dụng thời cơ, vượt qua thách thức, thực hiện hiệu quả hội nhập quốc tế trong điều kiện mới, tiếp tục nâng cao vị thế và uy tín của đất nước trên trường quốc tế”.

Việc hội nhập sâu hơn vào AEC trong giai đoạn tới sẽ mở ra nhiều cơ hội và thách thức mới cho Việt Nam.

Về cơ hội, hàng rào thuế quan được loại bỏ, các hàng rào phi thuế được cắt giảm tạo điều kiện cho hàng hóa, dịch vụ, vốn, lao động kỹ năng của Việt Nam được lưu chuyển dễ dàng hơn trong khu vực ASEAN. Không chỉ mở ra cơ hội tiếp cận và mở rộng thị trường trong nội khối với khoảng 625 triệu dân và GDP hàng năm đạt gần 3000 tỷ USD, ASEAN là khu vực giao thoa của nhiều hiệp định thương mại song phương giữa ASEAN với các đối tác ngoại khối và với các khu vực khác trên thế giới. Do đó, các doanh nghiệp có thể tiếp cận các thị trường ngoài khối có quy mô kinh tế lớn như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Ôt-xtrây-lia, Niu Di-lân, Ấn Độ, Hồng Công thông qua các FTA ASEAN+ 1 đã có và Hiệp định ASEAN-Hồng Công, Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP) trong tương lai.

Việc hội nhập sâu hơn về dịch vụ sẽ giúp thúc đẩy phát triển thị trường dịch vụ trong nước, nâng cao sức cạnh tranh của các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ trong nước, nhất là các ngành dịch vụ có lợi thế tiềm năng của nước ta như dịch vụ du lịch, vận tải hàng không, logistics. Điều này sẽ góp phần tích cực cho quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế của ta.

Việt Nam cũng sẽ có thêm cơ hội thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài từ ASEAN và các đối tác ngoài ASEAN thông qua cải thiện và tăng sức hấp dẫn của thị trường. Đồng thời, các doanh nghiệp trong nước có năng lực cũng có cơ hội đẩy mạnh đầu tư ra các nước ASEAN.

Củng cố AEC đồng nghĩa với việc củng cố vị thế của Việt Nam trong quan hệ với các nước ở khu vực Đông Nam Á và trên thế giới, giúp chuyển đổi nền kinh tế và từng bước tham gia chuỗi cung ứng khu vực và toàn cầu, góp phần thực hiện mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế và công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Thông qua AEC, Việt Nam sẽ tận dụng được các cơ hội khai thác các dự án về phát triển cơ sở hạ tầng, phục vụ phát triển kinh tế và tăng cường kết nối với các nước ASEAN và đối tác.

Về thách thức, thách thức lớn nhất là sức ép cạnh tranh đến từ việc tự do hóa, mở cửa thị trường, nhất là trong điều kiện các nước ASEAN có các lợi thế so sánh khá tương đồng với Việt Nam. Nếu sức cạnh tranh yếu, doanh nghiệp Việt Nam sẽ gặp khó trên thị trường nội địa và khó có khả năng vươn ra, chiếm lĩnh trên thị trường các nước thành viên ASEAN khác.Doanh nghiệp năng lực kém sẽ không được chọn để tham gia các khâu có lợi nhuận cao của chuỗi cung ứng, do đó sẽ chủ yếu tham gia các công đoạn gia công. Người lao động trình độ thấp sẽ khó vươn lên các vị trí quản lý hay trở thành các chuyên gia có mức lương cao, khó di chuyển tự do và tận dụng tốt các cơ hội mở ra theo các cam kết hội nhập kinh tế khu vực. Tuy nhiên, nhìn ở góc độ tích cực, sức ép này sẽ tạo động lực để các doanh nghiệp trong nước buộc phải cải thiện năng lực cạnh tranh, lao động trong nước phải nâng cao trình độ để có thể tham gia các thị trường ASEAN và các thị trường khác trong khu vực.

Việc thực thi các cam kết trong ASEAN cũng đòi hỏi Việt Nam rà soát, hoàn thiện hệ thống pháp luật nhưng đồng thời, cũng có tác động tích cực là tăng cường tính minh bạch, cải thiện môi trường kinh doanh, đầu tư, giúp nền kinh tế vận hành hiệu quả hơn.

Để tận dụng các cơ hội và vượt qua các thách thức, quá trình hội nhập AEC cần đi đôi với việc phát huy nội lực, tăng cường sức cạnh tranh quốc gia. Giải pháp quan trọng nhất là xây dựng năng lực dài hạn của doanh nghiệp, người lao động Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn diện.

Để thực hiện giải pháp này, Chính phủ cần thúc đẩy cải cách hành chính tập trung vào tạo thuận lợi thương mại như vận hành thông suốt Cơ chế một cửa quốc gia và tiếp tục kết nối với các nước để hình thành Cơ chế một cửa ASEAN và khắc phục các bất cập trong các lĩnh vực mà Việt Nam đang bị đánh giá thấp so với các nước: minh bạch hóa chính sách, thủ tục thuế, hải quan. Chính phủ cần đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền, nâng cao nhận thức và đồng thuận xã hội đối với mục tiêu xây dựng AEC; nghiên cứu đổi mới nội dung, đa dạng hóa hình thức thông tin tuyên truyền để nâng cao hiệu quả hoạt động này với xã hội, đặc biệt các doanh nghiệp; tăng cường sự tham gia của các cơ quan thông tấn, truyền thông trong việc quảng bá thông tin về hội nhập kinh tế quốc tế tới mọi đối tượng.

Đồng thời, Chính phủ cần nghiên cứu, tổ chức sắp xếp lại các cơ sở đào tạo nghề, xây dựng chương trình giáo dục theo hướng đáp ứng tốt hơn các yêu cầu hội nhập khu vực và quốc tế để cải thiện về năng lực chuyên môn, ngoại ngữ, các kỹ năng sống, thể lực… của lao động trong nước nhằm tham gia hiệu quả vào phân công lao động trong khu vực ASEAN. Ngoài ra, Việt Nam cũng cần chú trọng thu hút sự hỗ trợ, đầu tư về cả vốn, kỹ thuật và chuyên gia từ các nước phát triển hơn trong nội khối để đẩy nhanh quá trình dịch chuyển công nghệ, nâng cao chất lượng hàng hóa và dịch vụ của Việt Nam, tạo đà cho Việt Nam phát triển cân bằng hơn so với các quốc gia trong khu vực.

Về phía doanh nghiệp và người dân, mỗi doanh nghiệp và mỗi người dân cần chủ động trong việc tìm hiểu thông tin, chuẩn bị cho mình một tâm thế cạnh tranh khu vực và quốc tế, có tư duy sáng tạo, đổi mới và sự nhạy bén trong kinh doanh, có kế hoạch xây dựng năng lực, đặc biệt về thương hiệu hay uy tín và chất lượng để kinh doanh quy mô và dài hạn trong tương lai.

Nga đánh giá cao sự ra đời của Cộng đồng Kinh tế ASEAN

Ngày 5/8, tại thủ đô Vientiane, trong khuôn khổ Hội nghị Bộ trưởng Kinh tế ASEAN (AEM) lần thứ 48 và các Hội nghị liên quan, Hội nghị tham vấn Bộ trưởng Kinh tế ASEAN-Nga lần thứ 5 đã diễn ra dưới sự đồng chủ trì của Bộ trưởng Công Thương Lào Khemmany Pholsena và Bộ trưởng Phát triển Kinh tế Nga, ông Alexey V. Uliukaev.

Tham dự Hội nghị có các Bộ trưởng và Thứ trưởng Kinh tế đến từ 10 nước ASEAN và Tổng Thư ký ASEAN Lê Lương Minh.

Đoàn Việt Nam do Thứ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Cẩm Tú làm Trưởng đoàn đã tham dự Hội nghị.

Bộ trưởng Phát triển Kinh tế Nga, ông Alexey V. Uliukaev đã hoan nghênh sự ra đời của Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) vào cuối năm 2015; cho rằng điều này sẽ đưa tiến trình hội nhập của khu vực lên một tầm cao mới, giúp ASEAN trở thành một khu vực năng động và có tính cạnh tranh cao hơn.

Với kim ngạch trao đổi thương mại song phương ASEAN-Nga đạt 13,4 tỷ USD trong năm 2015, chiếm 0,6% tổng kim ngạch trao đổi thương mại của ASEAN, Nga hiện đang là đối tác thương mại lớn thứ 8 của ASEAN.

Tại hội nghị, các Bộ trưởng đã bày tỏ sự hài lòng về việc tổ chức thành công Hội nghị cấp cao ASEAN-Nga ở Sochi, Nga hồi tháng Năm nhằm kỷ niệm 20 năm Đối tác Đối thoại ASEAN-Nga; Ghi nhận rằng để đưa quan hệ ASEAN-Nga hướng tới đối tác chiến lược vì lợi ích chung, các nhà lãnh đạo của hai bên đã đưa ra các định hướng tương lai về hợp tác kinh tế giữa ASEAN-Nga trong lĩnh vực thương mại và đầu tư, tài chính, thương mại điện tử, vận tải, năng lượng, nông nghiệp, kinh tế biển, bao gồm việc giải quyết tình trạng đánh bắt cá bất hợp pháp, không thông báo và thiếu kiểm soát…

Các Bộ trưởng chỉ thị các quan chức kinh tế cấp cao ASEAN và Nga tiếp tục thảo luận về đề xuất của Nga nhằm thiết lập Đối tác Kinh tế ASEAN-Nga về Kết nối; Ghi nhận đề xuất của Nga về việc hai bên cùng tiến hành nghiên cứu khả thi về khả năng thiết lập một khu vực tự do thương mại giữa ASEAN và Liên minh Kinh tế Á - Âu (EAEU).

Các Bộ trưởng hài lòng với việc triển khai các hoạt động khác nhau trong Chương trình Hợp tác Đầu tư và Thương mại ASEAN-Nga sau năm 2015, bao gồm các cuộc tham vấn thường niên Bộ trưởng Kinh tế ASEAN-Nga; các cuộc tham vấn các quan chức kinh tế cấp cao ASEAN-Nga…; đồng thời bày tỏ hài lòng rằng Chương trình hợp tác An ninh Lương thực và Nông nghiệp ASEAN-Nga (2016-2020), Kế hoạch Hành động ASEAN-Nga về Khoa học, Công nghệ và Đổi mới (2016-2020) và Kế hoạch Hợp tác Năng lượng ASEAN-Nga (2016- 2020) đã được hai bên nhất trí.

Các Bộ trưởng hy vọng rằng việc triển khai các Kế hoạch làm việc và Chương trình làm việc nói trên sẽ giúp tăng cường hơn nữa quan hệ kinh tế giữa hai khu vực.

Các Bộ trưởng hoan nghênh việc tăng cường hợp tác giữa ASEAN-Nga trên các lĩnh vực thương mại điện tử và Chương trình Hợp tác Đầu tư, Thương mại ASEAN-Nga sau năm 2015; nhất trí rằng việc cùng nhau triển khai các hoạt động khác nhau ở lĩnh vực trên sẽ đóng góp vào sự phát triển bền vững của ASEAN-Nga và tăng cường mối quan hệ kinh tế giữa hai bên; đồng thời giao cho các quan chức kinh tế cấp cao tiếp tục thảo luận và tìm kiếm các hoạt động hợp tác khả thi vì lợi ích chung.

Việt Nam đẩy mạnh hội nhập cùng Cộng đồng kinh tế ASEAN

Hội nghị Bộ trưởng kinh tế ASEAN lần thứ 48 hôm nay khai mạc tại thủ đô Vientian, Lào. Diễn ra lần đầu tiên sau khi Cộng đồng kinh tế ASEAN được thành lập, Hội nghị lần này tiếp tục hướng trọng tâm vào các nội dung ưu tiên của trụ cột kinh tế, thúc đẩy thực hiện Kế hoạch cộng đồng kinh tế ASEAN đến năm 2025. Việt Nam, với tư cách 1 nước thành viên, tiếp tục có những đóng góp thực chất cho tiến trình này.

Ngày 31/12/2015 đánh dấu một bước ngoặt lịch sử trong chặng đường 48 năm hình thành và phát triển của ASEAN khi Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) ra đời với mục tiêu hướng tới một khu vực ASEAN ổn định, thịnh vượng và cạnh tranh cao. Các quốc gia đặt ra mục tiêu là hài hòa chiến lược kinh tế, tham vấn chặt chẽ hơn về các chính sách kinh tế vĩ mô và tài chính, tăng cường kết nối hạ tầng...

AEC tạo động lực phát triển

Trong ba trụ cột, AEC được coi là quan trọng nhất.Sự phát triển của AEC là tiền đề thúc đẩy việc thực hiện hai trụ cột còn lại.Mục tiêu của AEC bao gồm xây dựng một thị trường và cơ sở sản xuất thống nhất, một khu vực kinh tế cạnh tranh, một khu vực phát triển đồng đều và hội nhập với nền kinh tế toàn cầu. 7 tháng qua kể từ khi AEC ra đời, các nước ASEAN chú trọng thực hiện tự do hóa 3 lĩnh vực lớn đó là tự do hoá thương mại hàng hoá, tự do hoá thương mại dịch vụ, tự do hoá đầu tư, tài chính và lao động. Cụ thể, các nước thành viên ASEAN đẩy nhanh lộ trình thực hiện cắt giảm thuế, cải cách thủ tục hải quan và các biện pháp tạo thuận lợi thương mại khác.

Để đạt mục tiêu xây dựng một khu vực kinh tế cạnh tranh, AEC thời gian qua hướng vào 4 hoạt động chính gồm chính sách cạnh tranh, bảo vệ người tiêu dùng, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và phát triển cơ sở hạ tầng. Bên cạnh đó, để tạo lập một khu vực ASEAN phát triển đồng đều, ASEAN đã xem xét xây dựng một chiến lược phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, thiết lập một khung chương trình chung cho các doanh nhân ASEAN và triển khai Sáng kiến Hội nhập ASEAN. ASEAN cũng nhất trí thúc đẩy đàm phán các Hiệp định thương mại tự do song phương và Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện, tham gia mạnh mẽ hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu nhằm hội nhâp mạnh mẽ hơn vào nền kinh tế toàn cầu.

AEC mang lại những cơ hội lớn cho Việt Nam

Việc AEC hình thành đánh dấu một dấu mốc trong tiến trình hội nhập của ASEAN.Sự trưởng thành của hiệp hội mang lại lợi ích cho cả khu vực trong đó có Việt Nam.AEC tạo cho Việt Nam cơ hội tiếp cận thị trường rộng lớn hơn. Không chỉ thị trường trong ASEAN mà còn mở rộng ra các nước ngoài khu vực ASEAN, bởi các nước ASEAN hiện nay đều có những hiệp định hợp tác, nhất là các hiệp định về tự do thương mại với các đối tác thương mại lớn trên thế giới. Và cũng thông qua AEC, tạo điều kiện tăng thêm sự hấp dẫn cho môi trường đầu tư kinh doanh của Việt Nam. PGS,TS Trịnh Thị Thu Hương, Phó chủ nhiệm khoa kinh tế và kinh doanh quốc tế, đại học Ngoại thương Hà Nội, cho rằng: “Cơ hội thị trường quá rõ ràng với doanh nghiệp Việt Nam. Thị trường ở đây là thị trường hơn 600 triệu dân, lớn thứ 3 trên thế giới. Và thị trường này lại ở ngay bên cạnh chúng ta, tức là khoảng cách địa lý giữa Việt Nam với các nước trong khu vực không quá xa như Việt Nam với EU, Mỹ hay Nhật. Cho nên doanh nghiệp phải nhìn thấy ngay cái lợi bên cạnh mình.”

Nỗ lực hội nhập toàn diện trong ASEAN

Nhận thức được những cơ hội từ AEC mang lại, Việt Nam ngay từ trước khi AEC ra đời đã có sự chuẩn bị kỹ lưỡng cho quá trình hội nhập.Bên cạnh hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao nhận thức, Việt Nam còn kịp thời đưa ra những chính sách cải thiện môi trường cạnh tranh và nâng cao năng lực của nền kinh tế. Ông Nguyễn Quang Vinh, Giám đốc văn phòng doanh nghiệp vì sự phát triển bền vững Phòng thương mại công nghiệp Việt Nam, nhấn mạnh: “Ví dụ vừa qua Việt Nam đã ban hành nghị quyết 19 về cải thiện môi trường cạnh tranh và nâng cao năng lực chính phủ. Đây có thể coi là cú hích quan trọng để các bộ, ngành cải cách thủ tục hành chính, giảm giờ nộp thuế, thời gian lưu hải quan.Tất cả những cái đó đi cùng đồng bộ với việc có chính sách hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam nâng cao năng lực của mình thì rất tốt cho việc hội nhập thành công vào AEC.”

Cùng với ASEAN, Việt Nam đang nỗ lực hội nhập, điều chỉnh, hoàn thiện thể chế kinh tế cho thông thoáng, phù hợp với thông lệ quốc tế.Một AEC hội nhập toàn diện sẽ đem lại những lợi ích không nhỏ cho Việt Nam, tuy nhiên đi kèm là nhiều thách thức. Vì vậy tham gia Hội nghị lần này, Việt Nam tiếp tục chủ động đề xuất, đóng góp sáng kiến cùng ASEAN thúc đẩy thực hiện Kế hoạch cộng đồng kinh tế ASEAN.

Hàn Quốc: Thành lập Cộng đồng kinh tế ASEAN là bước ngoặt lớn

Trong khuôn khổ Hội nghị Bộ trưởng Kinh tế ASEAN lần thứ 48 và các hội nghị liên quan, Hội nghị Tham vấn Bộ trưởng kinh tế ASEAN-Hàn Quốc lần thứ 13 đã diễn ra sáng 4/8 tại thủ đô Vientiane dưới sự đồng chủ trì của Bộ trưởng Công Thương Lào, bà Khemmany Pholsena và ông Joo Hyungwan, Bộ trưởng Thương mại, Công nghiệp và Năng lượng Hàn Quốc.

Tham dự Hội nghị có các Bộ trưởng/Thứ trưởng Kinh tế đến từ 10 nước ASEAN và Tổng thư ký ASEAN Lê Lương Minh.

Đoàn Việt Nam do Bộ trưởng Công Thương Trần Tuấn Anh làm trưởng đoàn đã tham dự hội nghị.
Tại hội nghị, Bộ trưởng Joo Hyungwan ca ngợi việc thành lập Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) trong năm 2015 là một bước ngoặt lớn trong việc hội nhập kinh tế của khu vực. Hàn Quốc cũng hoan nghênh Lộ trình Tổng thể mới của AEC 2015, cho rằng lộ trình này sẽ giúp cho AEC đến năm 2025 trở thành một khu vực có sự cạnh tranh cao, gắn kết; cạnh tranh, năng động và sáng tạo thông qua việc tăng cường kết nối cũng như lĩnh vực hợp tác; một khu vực kinh tế sôi động hơn, theo định hướng của nhân dân và lấy nhân dân làm trung tâm; hội nhập với kinh tế toàn cầu.
Các Bộ trưởng bày tỏ hài lòng với kết quả hoạt động thương mại và đầu tư song phương giữa ASEAN-Hàn Quốc trong năm 2015. Hiện tổng kim ngạch trao đổi thương mại giữa Hàn Quốc và ASEAN đã tăng lên 122,9 tỷ USD, chiếm 5,4% tổng kim ngạch thương mại của ASEAN, đưa Hàn Quốc trở thành đối tác lớn thứ 5 của ASEAN.

Năm 2015, đầu tư trực tiếp của Hàn Quốc vào ASEAN đạt 5,7 tỷ USD, là nguồn đầu tư FDI lớn thứ 5 của ASEAN.

Các Bộ trưởng hoan nghênh việc Nghị định thư thứ 3 sửa đổi đối với Hiệp định thương mại hàng hóa tự do ASEAN-Hàn Quốc (AKTIGA) đã đi vào hiệu lực từ tháng 1/1/2016 đối với Thái Lan và Hàn Quốc; từ ngày 11/2/2016 đối với Myanmar; từ 6/4/2016 đối với Singapore; từ 10/6/2016 đối với Lào; từ 14/7/2016 đối với Philippines và từ 26/7/2016 đối với Malaysia.
Thông qua việc đưa ra các cam kết mới về thủ tục hải quan và tạo thuận lợi cho giao dịch thương mại, cũng như các kế hoạch giảm thuế từng bước của các bên, các Bộ trưởng bày tỏ hy vọng rằng Nghị định thư nói trên có thể tạo thêm thuận lợi cho trao đổi thương mại giữa ASEAN và Hàn Quốc, giúp hai bên đạt mục tiêu mà các lãnh đạo đã đề ra đó là tăng trao đổi kim ngạch hai chiều lên 200 tỷ USD vào năm 2020.

Các Bộ trưởng cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc khuyến khích sự tham gia của các cộng đồng doanh nghiệp và tái khẳng định Tầm nhìn của các lãnh đạo hai bên rằng Hội đồng Kinh doanh ASEAN-Hàn Quốc nên tăng cường hợp tác ở góc độ Doanh nghiệp vừa, nhỏ và siêu nhỏ (MSMEs); cho rằng sự hợp tác giữa các bên có thể bao gồm lĩnh vực phát triển nguồn nhân lực, chia sẻ những kinh nghiệm hay cũng như tham gia vào chuỗi giá trị của khu vực.

Các Bộ trưởng cũng hài lòng ghi nhận những tiến triển tốt đẹp đạt được trong hợp tác kinh tế giữa ASEAN và Hàn Quốc, bao gồm các dự án được tài trợ theo khuôn khổ Quỹ hợp tác Kinh tế ASEAN-Hàn Quốc (AKEC).

Sau Hội nghị tham vấn ASEAN-Hàn Quốc lần thứ 12 vào tháng 8/2015, đã có 8 dự án trong khuôn khổ AKEC được ASEAN và Hàn Quốc thông qua nhằm hỗ trợ cho việc thực thi Hiệp định Thương mại Tự do ASEAN-Hàn Quốc, đồng thời cải thiện năng lực của các thành viên ASEAN ở các lĩnh vực khác nhau như tạo thuận lợi cho trao đổi thương mại, nguồn nhân lực và phát triển bền vững.

Nguồn: Asem/WTO/Bloomberg…

Từ khóa : Tổng hợp, tình hình, Cộng đồng kinh tế ASEAN, trong tháng 8/2016.

Chuyên mục RCEP

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Phân tích - Bình luận

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Thư viện hội nhập

thu vien

Xem nhiều nhất


phong ve thuong mai

Video

Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field

Liên kết

 

Lượt truy cập

008750293
Go to top