
Trong tháng 8/2016, quá trình đàm phán một số hiệp định thương mại tự do được thúc đẩy mạnh mẽ.
Thương lượng TTIP giữa Mỹ và EU thất bại
Ngày 28-8, Bộ trưởng Kinh tế Đức Sigmar Gabriel nhận định, các cuộc thương lượng về một Thỏa thuận thương mại tự do giữa Mỹ và Liên minh Châu Âu (EU) đã thất bại.
Ông Gabriel nêu rõ, trong 14 vòng đàm phán vừa qua, cả Mỹ và EU đều chưa thể thống nhất về một trong tổng số 27 vấn đề đang được thảo luận. Đồng thời đánh giá, các cuộc thương lượng về Hiệp định Đối tác thương mại và đầu tư xuyên Đại Tây Dương (TTIP) không có triển vọng như thỏa thuận thương mại tự do giữa Canada và EU mà ông cho là công bằng hơn cho cả hai phía.
Hồi tháng 4 vừa qua, ông Gabriel cũng đã cảnh báo các cuộc thương lượng về TTIP "sẽ thất bại" nếu Mỹ không chịu đưa ra những nhượng bộ. TTIP được kỳ vọng sẽ là thỏa thuận thương mại lớn nhất thế giới, tạo ra một thị trường khổng lồ với 850 triệu người tiêu dùng và chiếm hơn một nửa kim ngạch kinh tế toàn cầu. Nếu được hoàn tất, hiệp định này sẽ thúc đẩy thương mại giữa EU và Mỹ lên đến 1.000 tỷ USD/năm, đồng thời tạo thêm khoảng 13 triệu việc làm.
Nền tảng của các hiệp định thương mại
Trong khi Vương quốc Anh đang liệt kê danh sách “những việc cần làm” cho các thỏa thuận thương mại trong tương lai, Greg Spak – Trưởng nhóm Thương mại quốc tế hãng White&Case và Brendan McGivern – Trưởng văn phòng tại Geneva, cảnh báo rằng nếu Anh muốn đẩy nhanh các thỏa thuận thương mại, nước này phải đánh đổi để đạt được sự đồng thuận từ các đối tác.
Những nền tảng cơ bản khi đàm phán hiệp định thương mại?
Việc đàm phán các hiệp định thương mại tự do (FTA) luôn xuất phát chủ yếu từ lợi ích kinh tế quốc gia, động lực thị trường và là một biện pháp chính sách và chính trị trong nước. Nói cách khác:
Những lĩnh vực nào được ưu tiên đàm phán?
Đâu là những cơ hội thị trường?
Làm thế nào để cân bằng giữa các ưu tiên và khả năng phòng vệ?
Anh sẽ muốn có được FTA với các quốc gia mà nước này có thị phần đáng kể hoặc ở những lĩnh vực then chốt của các ngành công nghiệp Anh.FTA được xây dựng dựa trên các quy định hiện hành của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Nhưng trong một FTA, các nước tham gia đàm phán có thể tiến xa hơn và nhanh hơn so với WTO, bao gồm cả các quy định tiếp cận thị trường lẫn về phạm vi các quy tắc thương mại. Do vậy, những FTA như thế thường được gọi là thỏa thuận “WTO+” và là một động lực chính thúc đẩy hệ thống thương mại thế giới.
Một lưu ý quan trọng khi đàm phán thỏa thuận thương mại giữa các quốc gia là cam kết của các nước dựa trên một hệ thống các nguyên tắc cơ bản.Các nguyên tắc cơ bản áp đặt “kỷ luật” hoặc những giới hạn cho mỗi bên tham gia trong việc thực thi các quan hệ thương mại. Các bên đều phải đồng ý tuân thủ theo các nguyên tắc đã được thống nhất, mâu thuẫn nếu có phải được tiến hành thông qua cơ chế giải quyết tranh chấp. Các nhà xuất khẩu cần sự chắc chắn pháp lý càng nhiều càng tốt và các nền tảng đi kèm để đảm bảo điều đó.
Đàm phán thương mại cũng liên quan đến bảo vệ thị trường trong nước.Ví dụ như Vương quốc Anh, nước này cũng có một danh mục những điều họ muốn từ các thị trường nước ngoài và ngược lại. Sự cân bằng và đánh đổi giữa các bên về lợi ích sẽ trở thành động lực cho chính sách thương mại và khiến tiến trình đàm phán trở nên thú vị.
Nếu Anh tìm đến các thỏa thuận thương mại, đâu sẽ là những ưu tiên đàm phán của Anh (quy mô thị trường, sức ảnh hưởng, ngành)?
Lợi ích kinh tế và động lực thị trường sẽ quyết định tính ưu tiên của Anh trước các FTA.Anh sẽ có một danh sách dài những việc cần làm và tất nhiên cần thương lượng về một thỏa thuận tiếp cận thị trường với EU. Anh cũng sẽ muốn nhân rộng các FTA mà EU đã đàm phán với các đối tác quan trọng như Hàn Quốc hay Mexico. Nước này cũng muốn bao gồm các thị trường mới nổi nơi chứa đựng nhiều cơ hội mới cho mở rộng xuất khẩu.
Sau đó là FTA siêu khu vực, Hiệp định quan hệ đối tác xuyên Đại Tây Dương (TTIP) giữa Mỹ và EU.Tầm quan trọng của hiệp định này không thể bị phóng đại khi GDP cộng gộp chiếm gần ½ GDP toàn cầu và Mỹ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của EU. Bảo vệ được các nguyên tắc tiếp cận thị trường Mỹ đối với Anh rõ ràng sẽ là một trong những ưu tiên cao nhất.
Tiến trình đàm phán thỏa thuận thương mại kéo dài bao lâu?
Không thiết lập được thời gian cho tiến trình đàm phán, điều này phụ thuộc vào quy mô thị trường và những vấn đề khó khăn trong đàm phán.Nhưng đây không thể là một quá trình nhanh chóng. Ví dụ, Hiệp định đối tác kinh tế thương mại toàn diện EU-Canada (CETA) cần 5 năm đàm phán và hơn 2 năm để thương lượng về vấn đề bảo hộ và giải quyết tranh chấp và thêm 2 năm nữa để nghiên cứu trước khi công bố kết thúc đàm phán. Và hiện tại hiệp định này vẫn chưa có hiệu lực khi cần được Nghị viện châu Âu, Quốc hội Canada và Quốc hội các nước thành viên EU thông qua. Và do đó, CETA vẫn cần thêm thời gian.
Không có khả năng Anh có thể xây dựng được một hệ thống các hiệp định thương mại một cách nhanh chóng. Không có lý do rõ ràng cho điều này vì vấn đề lợi ích của các nước đối tác với Anh. Bất kỳ đàm phán nào đều liên quan đến điểm mạnh và bất lợi tương đối.Một bất lợi cho Anh là thời gian và thiếu một cơ chế thương mại chiến lược và các nước đối tác hiểu được tính cấp bách của Anh khi tiếp cận vào tiến trình này. Nếu Anh muốn tốc độ, rõ ràng nước này phải trả giá bằng sự nhượng bộ trong đàm phán.
Liệu có thỏa thuận thương mại nào có thể đạt được nhanh chóng hoặc khả năng đạt được một thỏa thuận tạm thời trước khi một hiệp định đầy đủ được hoàn tất?
Đây thực sự là 2 câu hỏi riêng biệt.Hãy bắt đầu với một thỏa thuận thương mại “tốc độ”.
Trong khi tồn tại một số FTA phức tạp hơn so với số còn lại nhưng thực sự là không có cái gọi là thỏa thuận thương mại “tốc độ”.Thậm chí, nếu không có những khác biệt về nguyên tắc được áp dụng, sự khác biệt về lợi ích giữa các bên tham gia đàm phán thường dẫn đến những cuộc đàm phán kéo dài.Mặt khác, tại các nền dân chủ hiện đại như Anh việc tham vấn sâu rộng với nhiều tổ chức dân sự xã hội hay nghiệp đoàn càng khiến tiến trình đàm phán có thể kéo dài hơn. Thật vậy, thách thức chủ yếu đối với bất kỳ chính phủ nào là dung hòa lợi ích trong nước để đạt được điểm cân bằng với phía đối tác. Vấn đề này có thể sẽ khó khăn hơn với Anh khi Anh phải tìm ra hướng đi của mình trong tiến trình mới mẻ này.Một khi đã đạt được thỏa thuận thông qua đàm phán, hiệp định còn cần được các Quốc hội tương ứng phê chuẩn. Do đó, không thể có một thỏa thuận “tốc độ”.
Đối với một thỏa thuận tạm thời, một số FTA có thể đưa vào “điều khoản áp dụng”.Nhưng trên thực tế, điều này có thể đối mặt với những khó khăn chính trị. Chính phủ các nước sẽ không muốn bị cáo buộc rằng họ đang thực thi một hiệp định thương mại quan trọng khi mà Nghị viện hay Quốc hội chưa đưa ra tiếng nói của mình.
Ví dụ, Cao ủy Thương mại của EU – bà Cecilia Malmstrom khuyến cáo với Nghị viện châu Âu tại thời điểm được bổ nhiệm rằng bà sẽ không đồng ý “áp dụng điều khoản tạm thời đối với các thỏa thuận thương mại quan trọng về mặt chính trị trước khi Nghị viện có cơ hội đưa ra quan điểm của mình” trừ trường hợp khẩn cấp hoặc các giải pháp rất kỹ thuật. Do đó, sẽ rất khó khăn nếu Anh muốn theo đuổi cơ chế đàm phán nhanh với EU thông qua việc sử dụng điều khoản linh hoạt.
Xu hướng FDI vào Việt Nam sau các FTA thế hệ mới
hướng đầu tư FDI mới nhằm đáp ứng những điều khoản của các FTA thế hệ mới đã đem lại cho nền kinh tế và doanh nghiệp nước ta những lợi ích khả quan. Tuy nhiên cơ hội trên không tự thân chuyển thành hiện thực nếu Việt Nam không xử lý 3 điểm nghẽn chính.
Từ 3 xu hướng chính...
Đến nay, Việt Nam đã tham gia và hoàn tất đàm phám 12 hiệp định thương mại tự do (FTA) song phương và đa phương. Trong đó, có 9 FTA đã có hiệu lực và đang thực thi, bao gồm: Hiệp định Thương mại tự do thương mại ASEAN; 5 FTA giữa ASEAN với các đối tác Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Australia - New Zealand; 3 FTA song phương (Việt Nam - Nhật Bản và Việt Nam - Chile, Việt Nam - Hàn Quốc).
Cùng với đó là 3 FTA mới ở giai đoạn ký kết, gồm Việt Nam - Liên minh kinh tế Á - Âu, Việt Nam - Liên minh châu Âu và Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương. Mặc dù chưa có hiệu lực thi hành, song những FTA này đang đặt nước ta trước một sân chơi kinh tế mới với những thay đổi mang tính chiến lược nhằm nâng cao khả năng hợp tác kinh tế, tháo dỡ những rào cản thuế quan trước đây từng cản trở quá trình giao thương giữa các quốc gia này.
Từ đó, các FTA đã tác động đến xu hướng kinh tế của các nước tham gia FTA.Một xu hướng được coi là quan trọng nhất mà các FTA này có thể ảnh hưởng chính là sự chuyển dịch luồng vốn đầu tư FDI giữa các nước thành viên, cũng như giữa phần còn lại của thế giới với các nước trong FTA.
Xu hướng thứ nhất, nổi bật nhất ở các FTA thế hệ mới (như giữa Việt Nam với Hàn Quốc, Liên minh Hải quan, EU và TPP) đều đưa ra các cam kết “đối xử công bằng” giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài trong việc thành lập, mua lại, mở rộng, điều hành, triển khai, vận hành, kinh doanh hoặc các hình thức chuyển nhượng dự án đầu tư khác trong lãnh thổ nước mình. Điều này cho phép nhà đầu tư FDI có thể tiếp cận thị trường nước ta nhanh hơn. Chẳng hạn, khi EVFTA và TPP có hiệu lực, các nhà đầu tư Nhật Bản, Hoa Kỳ, Đức… có thể xuất hiện ở thị trường bán lẻ, hay thị trường bất động sản nước ta ngay lập tức nếu họ nhận chuyển nhượng các dự án của nhà đầu tư trong nước đang vận hành.
Xu hướng thứ hai, do các yêu cầu nghiêm ngặt về quy tắc xuất xứ, các nhà đầu tư FDI sẽ chi mạnh tay hơn cho khâu "thượng nguồn" (sản xuất nguyên liệu đầu vào). Thí dụ như để hưởng thuế suất 0% vào EU theo EVFTA, hàng dệt may phải đầu tư sản xuất từ vải; với TPP phải đầu tư sản xuất từ sợi; với giày dép phải từ khâu thuộc da…
Xu hướng thứ ba, các điều khoản “phát triển bền vững” trong FTA thế hệ mới sẽ hạn chế những công nghệ lạc hậu, công nghệ có khá năng tác động tiêu cực đến môi trường, công nghệ khai thác cạn kiệt tài nguyên… Thay vào đó là các công nghệ sử dụng nguồn năng lượng tái tạo, sử dụng nguyên liệu thân thiện với môi trường.
... đến xử lý 3 điểm nghẽn chính
Các xu hướng trên đã đem lại cho nền kinh tế và doanh nghiệp nước ta những lợi ích khả quan. Trước kia, mối liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước còn yếu, không hỗ trợ nhiều cho khu vực doanh nghiệp trong nước phát triển. Kết quả khảo sát của UNIDO năm 2015 cho thấy, tỷ lệ sản phẩm đầu vào được mua từ các nhà chế biến chế tạo trong nước ở tất cả loại hình doanh nghiệp FDI là tương đối thấp (khoảng 26,6%).
Một cuộc khảo sát khác của VCCI cũng cho thấy, các doanh nghiệp FDI đang hoạt động trên lãnh thổ nước ta chủ yếu sử dụng hàng hóa và dịch vụ trung gian của doanh nghiệp nước ngoài (38% từ các chi nhánh của doanh nghiệp ở nước ngoài, 18% từ doanh nghiệp khác ở nước ngoài), trong khi đó chỉ sử dụng có 34% từ các doanh nghiệp tư nhân trong nước.
Với các FTA thế hệ mới, sẽ thúc đẩy các nhà đầu tư FDI đầu tư chiều sâu vào thị trường Việt Nam (không đơn thuần gia công mà còn chú trọng vào công nghiệp phụ trợ).Đồng thời, chủ động mở rộng cánh cửa đón các nhà sản xuất linh, phụ kiện trong nước để được hưởng thuế suất ưu đãi của FTA. Việc mở rộng cánh cửa này, không chỉ là mời doanh nghiệp trong nước tham gia đơn hàng, mà bao gồm cả tư vấn về công nghệ, hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực, hay chia sẻ kinh nghiệm quản trị.
Tuy nhiên, cơ hội trên không tự thân chuyển hóa thành hiện thực nếu Việt Nam không quyết liệt thực hiện cải cách, gạt bỏ các trở ngại đối với đầu tư FDI. Đối với việc cải thiện những quy định thủ tục pháp lý, tạo ra tính minh bạch, ổn định, bình đẳng cao cho các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài, Việt Nam được các tổ chức độc lập đánh giá cao khi chủ động đưa ra các thay đổi trong thể chế, quy định, bãi bỏ các quy định chồng chéo trong thủ tục đầu tư FDI, bãi bỏ các chính sách bảo hộ doanh nghiệp trong nước… Điều này đã góp phần nâng cao môi trường đầu tư trong nước và kêu gọi khoản đầu tư của các doanh nghiệp nước ngoài.Những trở ngại trong việc đón những làn sóng đầu tư mới chủ yếu thuộc về vấn đề kỹ thuật.Trong đó, cốt lõi là phải xử lý được 3 điểm nghẽn chính là hạ tầng giao thông, dịch vụ vận tải và chất lượng nguồn nhân lực.
Khối Trung Mỹ và Hàn Quốc tiến gần tới đàm phán FTA chung
Nhóm đàm phán của các quốc gia Trung Mỹ - gồm Honduras, Panama, Costa Rica, El Salvador và Nicaragua - và Hàn Quốc vừa kết thúc vòng đàm phán thứ 5 về Hiệp định Thương mại tự do (FTA) song phương, mới diễn ra tại Seoul.
Trong thời gian 5 ngày, hai bên đã thống nhất bốn chương liên quan đến các quy định về vệ sinh và kiểm dịch thực vật, các rào cản kỹ thuật trong thương mại, quy tắc xuất xứ sản phẩm và cạnh tranh.
Ngoài ra, các chuyên gia đàm phán cũng đã thảo luận và đạt được những bước tiến quan trọng trong các chương trình cắt giảm thuế quan và trao đổi sản phẩm. Theo lộ trình, hai bên sẽ tiến hành hai vòng đàm phán tiếp theo tại Nicaragua và Hàn Quốc để đi đến ký FTA chung.
Theo đánh giá của Thứ trưởng Kinh tế Guatemala Enrique Lacs, FTA mới sẽ giúp người tiêu dùng tiếp cận các mặt hàng tốt với giá cả hợp lý, tạo thêm các nguồn việc làm mới và thúc đẩy xuất khẩu của khu vực Trung Mỹ sang Hàn Quốc, nền kinh tế đứng thứ 4 châu Á.
Số liệu thống kê cho hay kim ngạch trao đổi thương mại song phương tăng trung bình 16%/năm trong vòng 2 thập niên qua.
Năm 2014, kim ngạch thương mại giữa các nước Trung Mỹ và Hàn Quốc đạt 1,742 tỷ USD, với thặng dư 1,058 tỷ USD nghiêng về phía Seoul. Hàn Quốc hiện là thị trường xuất khẩu đứng thứ 10 thế giới của Trung Mỹ và xếp 5 về cung cấp hàng hóa và dịch vụ cho khu vực.
Khối các nước Trung Mỹ và Hàn Quốc đã bắt đầu đàm phán về một FTA chung kể từ tháng 9/2015 và dự kiến kết thúc vào cuối năm 2016.
Cơ hội gia tăng thương mại Việt – Lào từ các hiệp định thương mại
Ngày 5/8, tại Hà Nội, Bộ Công Thương Việt Nam phối hợp với Đại sứ quán Lào tại Hà Nội, Bộ Công Thương Lào tổ chức Hội nghị phổ biến Hiệp định Thương mại, Hiệp định Thương mại biên giới Việt Nam - Lào với mục đích tuyên truyền, phổ biến các chính sách ưu đãi đặc thù đến cộng đồng doanh nghiệp hai nước.
Sau đó, vào ngày 27/6/2015, lãnh đạo hai nước lại tiếp tục ký Hiệp định Thương mại biên giới Việt Nam – Lào. Theo đó, hai nước giành cho nhau các ưu đãi riêng mà không áp dụng cho bất kỳ nước nào khác như: mở rộng giảm thuế nhập khẩu 0% đối với hàng hóa xuất xứ hai nước; miễn thuế giá trị gia tăng và miễn giảm các biện pháp hàng rào kỹ thuật đối với hàng hóa do các nhà đầu tư Việt Nam sản xuất, nuôi trồng tại các tỉnh biên giới của Lào khi nhập khẩu về Việt Nam; tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa cho hoạt động thương mại của doanh nghiệp hai nước tại khu vực biên giới... Đồng thời, Hiệp định cũng sẽ thúc đẩy việc xây dựng và phát triển các cửa khẩu biên giới Việt – Lào, trở thành những cửa ngõ và cầu nối trung chuyển hàng hóa giữa các nước trong khu vực và thế giới; phục vụ thuận lợi hóa thương mại trong khu vực.
Sau khi hai Hiệp định được ký kết, các Bộ ngành và cơ quan liên quan của hai nước đã rất tích cực trong việc hoàn thiện các thủ tục phê chuẩn trong nước để sớm đưa nội dung hai Hiệp định này đi vào thực thi.Bộ Chính trị hai nước đã có chỉ đạo trực tiếp việc tuyên truyền, phổ biến nội dung và các điểm mới của 2 Hiệp định tới cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam và Lào.
Phát biểu tại hội nghị, ông Thongsavanh Phomvihan - Đại sứ Lào tại Việt Nam - cho biết, tháng 7 vừa qua, Bộ Công Thương hai nước đã phối hợp tổ chức các Hội nghị phổ biến Hiệp định Thương mại, Hiệp định Thương mại biên giới Việt – Lào tại các tỉnh Savannakhet, Vientiane và Luang Prabang của Lào. Hội nghị phổ biến lần này cũng nằm trong chuỗi sự kiện phổ biến Hiệp định nói trên, theo tinh thần triển khai thực hiện Hiệp định hợp tác song phương giữa hai nước Việt Nam – Lào giai đoạn 2016-2020 và Thỏa thuận hợp tác song phương hai nước năm 2016, Biên bản cuộc họp UBLCP Việt – Lào lần thứ 38 của Phân ban hợp tác hai nước.
Đại sứ bày tỏ hi vọng, các Hiệp định này sẽ là động lực thúc đẩy doanh nghiệp hai nước mở ra nhiều cơ hội kết hợp làm ăn, kinh doanh cùng có lợi, góp phần tăng cường, nâng cao quan hệ hợp tác hữu nghị, thúc đẩy trao đổi mua bán thương mại giữa DN hai nước.
Theo số liệu thống kê, tính đến hết tháng 5/2016, kim ngạch thương mại hai nước đạt 375 triệu USD. Trong đó, xuất khẩu của Việt Nam sang Lào đạt 195 triệu USD, còn nhập khẩu của Việt Nam từ Lào đạt 180 triệu USD. Hai bên đang phấn đấu để đưa kim ngạch xuất nhập khẩu giữa hai nước tăng trưởng khoảng 20% trong năm nay.
Thời gian tới, Chính phủ hai nước sẽ phối hợp chặt chẽ hơn nữa để tạo điều kiện thuận lợi cho việc triển khai các hiệp định đã ký; phát triển hệ thống kênh phân phối hàng Việt Nam tại Lào; xây dựng các trung tâm xúc tiến thương mại và hỗ trợ các hoạt động của các DN Việt Nam tại Lào. Đồng thời quán triệt sâu sắc chỉ đạo của lãnh đạo hai nước trong việc triển khai các chiến lược hợp tác giữa hai nước trong tất cả các lĩnh vực kinh tế, thương mại và đầu tư, trong đó xây dựng các cơ chế chính sách phù hợp, thông thoáng và có lợi cho hoạt động kinh doanh của cộng đồng doanh nghiệp hai nước.
Séc tăng cường xuất khẩu sang Ukraine nhờ FTA Ukraine-EU
Thỏa thuận thương mại tự do giữa Ukraine và Liên minh châu Âu (EU) có hiệu lực một phần từ đầu năm 2016, đã giúp Séc tăng cường xuất khẩu sang Ukraine, bất chấp điều kiện kinh tế và chính trị phức tạp tại nước này.
Nguồn tin từ Vụ các nước SNG thuộc Bộ Công Thương Séc khẳng định Ukraine chiếm vị trí quan trọng trong nền kinh tế Séc, khi từ đầu những năm 90 của thế kỷ trước, nước này thường xuyên thuộc tốp 20 đối tác thương mại hàng đầu của Séc.
Kim ngạch xuất khẩu từ Séc sang Ukraine tăng khoảng 9 lần, đạt 33,3 tỷ koruna (1,2 tỷ euro) vào năm 2012; và nhập khẩu tăng 6 lần trong cùng kỳ. Tuy nhiên, từ năm 2014, cuộc khủng hoảng chính trị tại Ukraine và xung đột vũ trang tại miền Đông Ukraine khiến xuất khẩu từ Séc sang Ukraine sụt giảm 25% mỗi năm.
Tuy nhiên, theo các chuyên gia tại Séc, tình hình vẫn chưa phải là lý tưởng song trong 5 tháng đầu năm nay xuất khẩu từ Séc sang Ukraine đã tăng 35,5%, đạt 7,5 tỷ koruna (278 triệu euro) so với cùng kỳ năm ngoái; tổng kim ngạch ngoại thương giữa hai nước tăng gần 5%, đạt trên 15 tỷ koruna (555 triệu euro); thâm hụt ngoại thương ở mức thấp nhất kể từ năm 2014 và cán cân ngoại thương có xu hướng trở lại cân bằng.
Những mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Séc sang Ukraine là các sản phẩm chế tạo máy, cáp điện và các loại dây dẫn điện khác, thiết bị điện thoại, các sản phẩm của ngành công nghiệp chế tạo xe hơi, xuất khẩu xe máy, xe đạp và xe lăn cho người khuyết tật, đồ uống, rượu vang và thuốc lá, trong đó xuất khẩu rượu vang có sự tăng trưởng ngoạn mục nhất (300%).
Nguồn: Asem/WTO/Bloomberg…
Từ khóa : Tổng hợp, tin tức, một số hiệp định thương mại tự do, trong tháng 8/2016.
Các tin khác
- Tổng hợp, phân tích hiệp định TPP trong tháng 8/2016 - 06/09/2016
- Logistics Việt Nam có cơ hội… bùng nổ khi vào TPP? - 30/08/2016
- Việt Nam nên sẵn sàng với 'tương lai' của TPP - 30/08/2016
- Vì sao Việt Nam không có lợi ích rõ rệt từ việc tham gia cộng đồng kinh tế ASEAN và ASEAN +? - 29/08/2016
- Quan điểm tiêu cực về TPP của Mỹ làm dấy lên sự lo ngại về chủ nghĩa bảo hộ - 24/08/2016






















