JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU
Phân tích - Bình luậnLiệu Trung Quốc có tôn trọng các cam kết gia nhập WTO?

Liệu Trung Quốc có tôn trọng các cam kết gia nhập WTO?

tàu khựa

Khi gia nhập WTO vào năm 2001, Trung Quốc đã cam kết thực hiện một loạt thay đổi luật pháp trong nhiều vấn đề. Những cam kết này là một phần trong đàm phán gia nhập WTO của Trung Quốc và được quy định trong Nghị định thư gia nhập WTO của nước này.

Câu hỏi đặt ra là liệu Trung Quốc có tuân thủ các cam kết của mình? Bài viết này sẽ nêu bật 10 trong số những cam kết gia nhập WTO của Trung Quốc và mức độ tôn trọng các cam kết từ phía Bắc Kinh.

Tất cả các điều khoản trong Nghị định thư gia nhập WTO của Trung Quốc được soạn thảo, mở đường để Trung Quốc trở thành thành viên của WTO với kỳ vọng rằng quốc gia này sẽ trở thành một nền kinh tế thị trường đầy đủ.

Cam kết số 1: Giá cả hàng hóa trong mọi ngành phải được xác định bởi thị trường

-          Phần 9, Nghị định thư gia nhập WTO của Trung Quốc quy định Bắc Kinh sẽ để giá cả hàng hóa và dịch vụ trong mọi lĩnh vực do thị trường xác định và các nguyên tắc định giá đa cấp đối với hàng hóa, dịch vụ sẽ bị loại bỏ.

-          Điều khoản ngoại trừ trong trường hợp này được nêu tại Phụ lục 4 của Nghị định thư  áp dụng đối với một số sản phẩm nông nghiệp, dược phẩm, khí thiên nhiên và các loại dầu chế biến.

-          Ngoại trừ các ngoại lệ này, Trung Quốc cũng đã cam kết sẽ bắt đầu để thị trường quyết định giá ngay lập tức từ năm 2001 và “nỗ lực hết mình để giảm và loại bỏ” cơ chế định giá đa cấp.

Tuy nhiên, Trung Quốc đã không cho phép một thị trường cạnh tranh thực sự phát triển và thực tế sự can thiệp của chính phủ vẫn tiếp tục cho đến năm 2015 đặc biệt trong các lĩnh vực then chốt, ở đó giá cả hàng hóa không được quyết định bởi thị trường.

Cam kết số 2: Tất cả các khoản trợ cấp phải được thông báo cho WTO và loại bỏ các loại trợ cấp bị cấm

-          Phần 15, Nghị định thư gia nhập WTO, Trung Quốc đồng ý thông báo cho WTO bất kỳ trợ cấp nào được quy định tại Điều 1, Hiệp định SCM - đã được thực hiện hoặc đang duy trì trên lãnh thổ của mình kể cả những khoản trợ cấp quy định tại Điều 3 của Hiệp định SCM. Thông tin cung cấp càng cụ thể càng tốt căn cứ trên những yêu cầu trong bảng hỏi về trợ cấp.

-          Bên cạnh đó, Trung Quốc cũng cam kết loại bỏ tất cả các chương trình trợ cấp thuộc phạm vi của Điều 3 của Hiệp định SCM khi gia nhập.

Tuy nhiên, các cam kết này đã không được tôn trọng. Danh mục trợ cấp không được công bố công khai bất chấp cam kết báo cáo đầy đủ cho WTO (theo yêu cầu của tất cả các thành viên WTO) ngoài một thông báo không đầy đủ cung cấp bởi một vài cơ quan thuộc chính phủ.

Xa hơn thế, Trung Quốc lại tiếp tục áp dụng các khoản trợ cấp xuất khẩu bị cấm và trợ cấp ưu đãi sử dụng đầu vào tại chỗ trong một số ngành công nghiệp nội địa.

Trung Quốc cũng cam kết sẽ công khai theo yêu cầu của các thành viên WTO tất cả các luật, quy định và biện pháp có ảnh hưởng đến thương mại hàng hóa, dịch vụ, quyền thương mại sở hữu trí tuệ (TRIPS) hoặc biện pháp kiểm soát tỷ giá hối đoái trước khi đưa vào thực thi. Trong các tình huống khẩn cấp, các luật, quy định và biện pháp của nước này sẽ phải được thông báo cho WTO ít nhất trước thời điểm thực thi.

Tất cả các luật, quy định và biện pháp liên quan đến thương mại của Trung Quốc phải được dịch ra một hoặc nhiều ngôn ngữ của WTO bao gồm tiếng Anh, tiếng Pháp và tiếng Tây Ban Nha.

Tuy nhiên, Trung Quốc đã không tôn trọng các nghĩa vụ của mình, không hề có sự minh bạch trong việc xây dựng, ban hành và thực thi các quy định pháp luật từ các cơ quan luật, tư pháp và hành chính. Cũng như không có cơ quan nào lãnh trách nhiệm phiên dịch các quy định của Trung Quốc sang ngôn ngữ mà WTO đã quy định.

Cam kết số 3: Doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) hoạt động độc lập khỏi ảnh hưởng của chính phủ

Chính phủ Trung Quốc đã đồng ý không gây ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến các quyết định thương mại của DNNN hoặc doanh nghiệp có một phần vốn đầu tư nhà nước. Đặc biệt, theo Phần 6 Nghị định thư gia nhập và Điều XVII của Hiệp định GATT 1994, Trung Quốc đã đồng ý rằng các DNNN sẽ thực hiện việc mua bán xuất nhập khẩu dựa trên các tính chất thương mại thông thường như giá cả, chất lượng, khả năng thâm nhập thị trường và mức độ sẵn có của hàng hóa.

Tuy nhiên, những quyết định của các DNNN Trung Quốc đã không cân nhắc đến các yếu tố cơ bản này. Kế hoạch 5 năm lần thứ 12 của Trung Quốc cho thấy Chính phủ Trung Quốc kiểm soát nhiều ngành công nghiệp lẫn các DNNN trên nhiều khía cạnh như nền tảng, địa điểm, khả năng tiếp cận nguồn nguyên liệu, đầu tư ra nước ngoài, khả năng quản lý và sản xuất cũng như thị phần của các sản phẩm chủ chốt.

Ngoài ra, DNNN không cần phải có lợi nhuận vì sự can thiệp của chính phủ đã đủ để duy trì sự tồn tại. DNNN Trung Quốc hướng đến xây dựng những dự án khổng lồ mà không quan tâm đến yếu tố lợi nhuận. Điều này gây ra những hậu quả trực tiếp trên thị trường thế giới, đặc biệt là khủng hoảng thừa nguồn cung.

Cam kết số 4: Không phân biệt đối xử trong mua sắm chính phủ

Ngoại trừ một số trường hợp được loại trừ, Nghị định thư gia nhập WTO của Trung Quốc cam kết các cá nhân, doanh nghiệp nước ngoài sẽ được đối xử không kém thuận lợi hơn so với các cá nhân và doanh nghiệp Trung Quốc, cụ thể:

-          Mua sắm chính phủ với các yếu tố đầu vào và hàng hóa và dịch vụ cần thiết cho sản xuất, các điều kiện theo đó hàng hóa được sản xuất, tiếp thị, bán ra thị trường trong nước và xuất khẩu;

-          Giá và mức độ sẵn có của hàng hóa và dịch vụ được cung cấp bởi chính quyền trung ương và địa phương hay các DNNN trong trong các lĩnh vực bao gồm giao thông, năng lượng, viễn thông cơ bản, các tiện ích và các yếu tố đầu vào sản xuất khác.

Trung Quốc cũng đã đồng ý tham gia Hiệp định Mua sắm Chính phủ (GPA) sau khi gia nhập. Tuy nhiên, đến nay Trung Quốc vẫn chưa ký GPA và chưa đưa ra các hành động đáng tin cậy rằng nước này sẽ thực thi các cam kết theo GPA.

Có sự tiếp tục phân biệt đối xử giữa hàng nhập khẩu và các công ty nước ngoài (FIEs) được thành lập tại Trung Quốc. Các công ty FIEs bị phân biệt đối xử trong mua sắm công theo nhiều cách khác nhau. DNNN và các tổ chức công thường dành chiến thắng trong các hợp đồng đấu thầu trong lĩnh vực mua sắm công ví dụ như trên thị trường đường sắt. Các quy định cũng Trung Quốc đặt ra nhằm loại bỏ nhóm doanh nghiệp FDI tham gia đấu thầu bởi không đáp ứng được “yêu cầu về giấy phép” trong các lĩnh vực như xây dựng, kỹ thuật và thiết kế. Doanh nghiệp FIEs còn bị phân biệt đối xử trên vấn đền xuất xứ hàng hóa liên quan đến nhà cung cấp.

Một ví dụ khác là sự phân biệt đối xử giữa thiết bị và công nghệ nhập khẩu trong ngành thép ngay trong Chính sách phát triển Công nghiệp gang thép của nước này. Theo đó, Trung Quốc khuyến khích sử dụng các thành phần nội địa thông qua hỗ trợ tài chính cho các dự án thép sử dụng thiết bị mới được phát triển trong nước và được cung cấp bởi chính phủ.  

Cam kết 5: Không phân biệt nói chung

Trung Quốc đồng ý bãi bỏ hoặc sửa đổi tất cả các luật, quy định và biện pháp không phù hợp với nguyên tắc tối huệ quốc (MFN) của Hiệp định GATT và nguyên tắc đối xử quốc gia. Trung Quốc cũng khẳng định sẽ tuân theo các nguyên tắc MFN đối với tất cả các quốc gia thành viên WTO.

Tuy nhiên, Trung Quốc đã thông qua kế hoạch thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực công nghệ cao được gọi là Chiến lược cho các ngành công nghiệp mới nổi. Kế hoạch này là phân biệt đối xử với các công ty nước ngoài và sản phẩm của họ, khuyến khích sự tham gia quá nhiều của chính phủ trên thị trường công nghệ và hoạt động chuyển giao công nghệ.

Ngoài ra, thuế giá trị gia tăng cũng phân biệt đối xử giữa hàng hóa trong nước với hàng hóa được nhập khẩu.

Cam kết 6: Hàng rào kỹ thuật trong thương mại (TBT)

Theo điều khoản gia nhập, Trung Quốc sẽ đưa tất cả các quy định kỹ thuật, tiêu chuẩn và quy trình để đánh giá mức độ tương thích với Hiệp định TBT của WTO.

Thực tế, Trung Quốc đã không tuân thủ Hiệp định TBT và gây ra những trở ngại đối với các công ty nước ngoài trong việc tiếp cận thị trường. Một số tiêu chuẩn ngành bắt buộc hay các quy trình đánh giá đã không được thông báo cho WTO trong khi các tiêu chuẩn kỹ thuật khác cũng không phù hợp với các mục tiêu theo định của Hiệp định TBT.

Trung Quốc hiện ra như một quốc gia với hàng loạt các sản phẩm không tuân thủ theo các tiêu chuẩn quốc tế hay sự kiểm định và chứng nhận từ các tổ chức quốc tế. Trung Quốc đã và đang tiếp tục phát triển các tiêu chuẩn quốc gia của riêng mình như một công cụ để bảo vệ các công ty trong nước trước sự cạnh tranh về tiêu chuẩn và công nghệ của các công ty nước ngoài.

Cam kết số 7: Sở hữu trí tuệ

Bằng việc chấp nhận Hiệp định thương mại về quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS), Trung Quốc đã đồng ý tuân thủ các tiêu chuẩn quốc tế được lập ra để bảo vệ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ của các tổ chức và cá nhân nước ngoài.

Quyền sở hữu trí tuệ không được đăng ký và bảo vệ mọt cách hợp lý tại Trung Quốc. Các vấn đề liên quan tới bí mật thương mại, tác quyền, bản quyền phần mềm, hàng giả và môi trường thực thi phức tạp do sự thiếu minh bạch, trở ngại về thủ tục, chủ nghĩa bảo hộ địa phương hay tham nhũng là những gì đang diễn ra.

Cam kết số 8: Tiếp cận thị trường

Trung Quốc cam kết loại bỏ các rào cản thương mại và mở cửa thị trường trong nước cho các công ty nước ngoài trong mọi lĩnh vực kể từ ngày đầu tiên của gia nhập WTO.

Nhưng, rào cản tiếp cận thị trường vẫn còn. Nhiều rào cản đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài thông qua việc cấm hoặc hạn chế đầu tư vào một số lĩnh vực, gánh nặng trong quy trình phê duyệt cho nhà đầu tư. Đối xử quốc gia không được mở rộng cho doanh nghiệp đầu tư nước ngoài. Ví dụ, một lệnh cấm khả năng kiểm soát của nhà đầu tư nước ngoài trong các công ty thép có hiệu lực kể từ năm 2005 đến nay hay ngành khai khoáng cũng bị đóng cửa trước nhà đầu tư nước ngoài.

Cam kết số 9: Các biện pháp phi thuế quan

Trung Quốc cam kết sẽ loại bỏ và chấm dứt các biện pháp củng cố thương mại, yêu cầu cân bằng ngoại hối, hàm lượng nội địa, xuất khẩu và thực hiện hiệu quả các yêu cầu trong vấn đề này thông qua hệ thống luật, quy định và các biện pháp khác.

Trung Quốc đảm bảo rằng việc phân phối các giấy phép nhập khẩu, hạn ngạch, TRQs, quyền nhập khẩu, quyền đầu tư hoặc bất kỳ công cụ nào được thực thi bởi chính quyền trung ương hay địa phương là không có điều kiện: bất chấp sự hiện hữu của hàng hóa từ các nhà cung cấp trong nước; không cần cầu báo cáo năng lực ví dụ hàm lượng nội địa, đền bù, chuyển giao công nghệ, thành tích xuất khẩu hay thành tựu thực hiện nghiên cứu và phát triển (R&D).

Thực tế, nhà đầu tư nước ngoài phải chuyển giao công nghệ như một điều kiện tiên quyết để tiếp cận thị trường. Điều này xảy ra khi tham gia đấu thầu, các đối tác Trung Quốc yêu cầu các doanh nghiệp nước ngoài thực hiện chuyển giao công nghệ trước khi đồng ý thiết lập một liên doanh.

Cam kết số 10: rà soát tư pháp

Trung Quốc cam kết thiết lập và duy trì các tòa án, các điểm tiếp xúc để xem xét kịp thời tất cả các quyết định hành chính liên quan đến việc thực thi pháp luật, phán quyết tư pháp được đưa ra trên cơ sở áp dụng Điều X:1 Hiệp định GATT 1994 liên quan đến các điều khoản thuộc Hiệp định TRIPS. Các tòa án này sẽ độc lập với cơ quan đã ban hành phán quyết hành chính và không có lợi ích liên quan đến phán quyết cuối cùng.

Tuy nhiên, hệ thống tư pháp ở Trung Quốc là không công bằng và thiếu khách quan. Về vấn đề này, Trung Quốc đã không hành động phù hợp với các cam kết WTO.

Một số cam kết của Trung Quốc trong từng lĩnh vực cụ thể:

1. Công nghiệp ô tô

Các yêu cầu về hàm lượng nội địa, chuyển giao công nghệ và xuất khẩu được Trung Quốc cam kết sẽ được loại bỏ khi gia nhập. Quyền của nhà đầu tư sẽ không bị đặt điều kiện khi tiến hành R&D.

Kế hoạch công nghiệp Trung Quốc lại yêu cầu các dự án trong lĩnh vực ô tô phải có những khoản đầu tư đáng kể vào hoạt động nghiên cứu ngay tại Trung Quốc.

2. Khu vực ngân hàng

Trung Quốc cam kết thực hiện đối xử quốc gia với các ngân hàng nước ngoài trong vòng 5 năm sau khi gia nhập. Cam kết cụ thể liên quan đến dịch vụ thanh toán điện tử cũng được nước này đưa ra.

Nhưng các cam kết này đã không được thực hiện đối với các ngân hàng lẫn chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Trung Quốc. Thẻ tín dụng nước ngoài và các vấn đề kinh doanh liên quan đến thẻ ghi nợ lẫn ghi có đều bị giới hạn. Trong một vụ kiện cụ thể tại WTO, Mỹ đã thắng vì chứng minh được sự phân biệt đối xử trong dịch vụ thanh toán điện tử tại Trung Quốc.

3. Viễn thông

Trung Quốc cam kết mở cửa thị trường viễn thông cho các nhà đầu tư và sản xuất nước ngoài.

Nhưng tồn tại các biện pháp hạn chế về dịch vụ viễn thông cơ bản bao gồm cả lệnh cấm không chính thức về việc thành lập mới, yêu cầu thành lập liên doanh với một doanh nghiệp nhà nước hay đặt ra yêu cầu về vốn rất cao đã ngăn cản các nhà cung cấp nước ngoài thâm nhập vào thị trường viễn thông.

4. Công nghiệp phim ảnh

Trung Quốc đồng ý tự do hóa hoạt động phát hành phim nước ngoài và cho phép một số lượng nhất định phim nước ngoài được nhập khẩu.

Nhưng sau khi Trung Quốc gia nhập WTO, các nhà sản xuất nước ngoài được phép nhập khẩu ít hơn số lượng phim mà chính phủ nước này cam kết.  

5. Nông nghiệp

Khi gia nhập Trung Quốc cam kết đăng ký quản lý hạn ngạch thuế quan đối với phần lớn sản phẩm nông nghiệp một cách minh bạch. Trung Quốc cũng đồng ý ràng buộc bởi Hiệp định của WTO về Nông nghiệp, đưa ra các cam kết gỡ bỏ rào cản tiếp cận thị trường, hỗ trợ xuất khẩu hay trợ giá trong nước. Trung Quốc cũng cam kết một mức trợ cấp có khả năng bóp méo thương mại thấp hơn so với mức trần cho phép của WTO dành cho các thành viên đang phát triển.

Tuy nhiên, việc quản lý hạn ngạch thuế quan là yếu kém và thiếu minh bạch. Trung Quốc đã tăng trợ cấp trong nước và các biện pháp hỗ trợ khác trong lĩnh vực nông nghiệp. Các biện pháp kiểm soát vệ sinh và kiểm dịch thực vật (SPS) không dựa trên những bằng chứng khoa học tiếp tục cản trở thương mại nông nghiệp. Hoạt động kiểm tra tùy ý trên các lô hàng nhập khẩu tạo thành trở ngại lớn. Tất cả các biện pháp SPS đưa ra đã không được thông báo trước hết cho các thành viên WTO theo quy định của tổ chức này.

6. Công nghiệp bán lẻ

Trung Quốc duy trì lệnh hạn chế bán lẻ dầu đã qua xử lý là vi phạm cam kết với WTO.

7. Dịch vụ pháp lý

Áp dụng các biện pháp để thực hiện cam kết trong dịch vụ pháp lý, Trung Quốc đã làm ảnh hưởng đến vấn đề tuân thủ của WTO khi nước này áp đặt yêu cầu kiểm tra về nhu cầu kinh tế và giới hạn các loại dịch vụ pháp lý được cung cấp. Việc mở văn phòng pháp luật cũng có đặc điểm nổi bật là cần thời gian rất dài.

8. Công nghiệp phân bón

Trung Quốc đã đồng ý thực thi một hệ thống hạn ngạch thuế quan mang lại cơ hội tiếp cận thị trường quan trọng đối với 3 sản phẩm công nghiệp, trong đó có phân bón.

Nhưng hệ thống hạn ngạch này hoạt động không hiệu quả do tính minh bạch và nặng về thủ tục hành chính. Hơn nữa, các biện pháp phân biệt đối xử về thuế và nhập khẩu lại được ban hành. Thực tế, xuất khẩu phân bón từ Mỹ vào Trung Quốc đã giảm đáng kể.

9. Quy định xuất nhập khẩu

Trung Quốc chấp nhận thực hiện một khuôn khổ bảo vệ thương mại phù hợp với quy định của WTO. Trung Quốc đồng ý sẽ giảm hoặc loại bỏ phần lớn các lệnh hạn chế xuất khẩu.

Tuy nhiên, tính minh bạch và công bằng khi tiến hành các thủ tục điều tra liên quan đến chống bán phá giá chưa được thực hiện. Phòng vệ thương mại thường được tiến hành như một công cụ trả đũa. Nhiều hạn chế xuất khẩu vẫn được Trung Quốc duy trì và dẫn đến 2 vụ tranh chấp tại WTO liên quan đến nguyên liệu khoáng sản thô và đất hiếm.

Nguồn : http://www.lexology.com/ - HP

Từ khóa : Liệu Trung Quốc, có tôn trọng, cam kết, gia nhập WTO.

Chuyên mục RCEP

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Phân tích - Bình luận

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Thư viện hội nhập

thu vien

Xem nhiều nhất


phong ve thuong mai

Video

Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field

Liên kết

 

Lượt truy cập

008747830
Go to top