JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU
Phân tích - Bình luậnTPP được phê chuẩn: Những ảnh hưởng đối với châu Á-Thái Bình Dương

TPP được phê chuẩn: Những ảnh hưởng đối với châu Á-Thái Bình Dương

 

trade-1

Những năm đầu tiên của thế kỷ 21, các quốc gia trên khắp thế giới đã bùng nổ làn sóng đàm phán hiệp định thương mại tự do (FTA) dựa trên nguyên tắc tiếp cận thị trường ưu đãi (đối nghịch với nghĩa vụ tối huệ quốc của WTO).

Điều này đã dẫn đến một tình trạng nở rộ các thỏa thuận thương mại, với gần 400 FTA đã thông báo cho WTO trong 20 năm qua. Nếu việc đàm phán các hiệp định thương mại ưu đãi hiện nay là xu hướng chủ đạo trong các cơ chế thương mại, và như hiệu ứng domimo, không một quốc gia nào thoát khỏi hội chứng FTA, tại sao thỏa thuận đặc biệt và TPP lại trở thành tâm điểm của các cuộc tranh luận về chính sách thương mại?

Biểu đồ 1. Hệ thống thương mại đa phương và số lượng FTA gia tăng.

P123

Trong các FTA thì TPP được chú ý nhiều nhất bởi vì nó là tiền lệ cho sự xuất hiện của các hiệp định thương mại khổng lồ hay còn gọi là siêu FTA (so với các thỏa thuận thương mại song phương nhỏ vốn đã là đặc trưng của làn sóng FTA), và thiết lập ra một nền tảng mới để thúc đẩy các chương trình thương mại đa phương như đàm phán Vòng Doha đang bịđình trệ vô thời hạn. TPP đã đi một chặng đường dài từ khởi đầu khiêm tốn như là một nhóm thương mại của bốn nền kinh tế mở nhỏ (Brunei, New Zealand, Chile và Singapore). Hiện nay, TPP đã bao gồm 12 quốc gia, chiếm 26% thương mại thế giới, và dự kiến sẽ tạo ra lợi nhuận thu nhập toàn cầu lên đến  429 nghìn tỷ USD vào năm 2030.

Biểu đồ 2: GDP của TPP
P124

Những nguyên tắc đặc biệt của TPP

Nhưng tầm quan trọng của TPP không phải chỉ được thể hiện bằng những con số. Hãy xem xét các nguyên tắc đặc biệt của Hiệp định thương mại này:

1. Tham vọng mức độ cao về tự do hóa thuế quan và không loại trừ bất cứ lĩnh vực nào. Trong khi trong thực tế là các lĩnh vực nhạy cảm đã thể hiện quyền lực chính trị của mình bằng cách trì hoãn hoặc hạn chế các cam kết loại bỏ thuế quan (ví dụ, ô tô đối với Mỹ và năm loại nông sản đối với Nhật Bản), cam kết của các nước TPP tiến tới loại bỏ 99-100% dòng thuế thực sự là rất ấn tượng. Mặc dù Nhật Bản là thành viên có mức dộ cam kết cắt giảm thuế quan thấp nhất và thấp hơn mục tiêu của TPP (95%), song kết quả cho thấy một sự tiến bộ thực sự vì đây là mức cam kết tự do hóa cao nhất của Nhật Bản trong tất cả các cuộc đàm phán thương mại từ trước đến nay.

2. Bộ quy tắc rộng lớn và toàn diện TPP nhắm mục tiêu các rào cản phi thuế quan bằng cách đưa ra các nguyên tắc về các vấn đề như sự gắn kết các quy định, doanh nghiệp nhà nước, năng lực cạnh tranh, chuỗi cung ứng …Với 30 chương và hơn 5.000 trang văn bản, thì việc nắm bắt được hết các quy tắc của TPP chắc chắn là sẽ mất nhiều thời gian. Tuy nhiên, đọc lướt qua thì chúng ta cũng thấy được những điều cần thiết và đáng giá đối với các ngành trong các lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế. Ví dụ, chương thương mại điện tử thiết lập một nghĩa vụ bắt buộc đối với các chính phủ phải cho phép dữ liệu di chuyển tự do, không cho phép các chính phủ đưa ta quy định buộc phải địa phương hóa các máy chủ dữ liệu (trừ lĩnh vực tài chính), và  nhiệm vụ của tất cả các nước là phải cung cấp một khuôn khổ pháp lý để bảo vệ thông tin cá nhân. Một sự đổi mới quan trọng là các điều khoản của TPP là không cho phép các chính phủ đưa ra đòi hỏi bắt buộc các công ty tư nhân hoạt động trong thị trường của mình cung cấp mã nguồn.

3.Tầm nhìn mở rộng của TPPsẽ đóng vai trò như là một nền tảng của châu Á-Thái Bình Dương đối với tham vọng thiết lập các tiêu chuẩn toàn cầu. Kiến trúc mở của nó cùng với cơ chế dễ dàng mở rộng đã khuyến khíchviệckết nạp thêmcác thành viên mới và mục tiêu rõ ràng là nhằm thiết lập một nền tảng xuyên khu vực mà hai đầu cầu châu Á và Bắc và Nam Mỹchính là trụ cột của TPP. TPP xóa tan nỗi lo lắng nghi ngờ là việc sử dụng các hiệp định thương mại ưu đãi sẽ tạo ra một khu vực khép kín, ngược lại,các quy tắc và tiêu chuẩn của nó được trao cơ hội để phổ biến xa hơn và rộng hơn.

4. Cuối cùng, TPP đã nổi lên như là một chính sách ưu tiên cho cả của Mỹ và Nhật Bản để tăng cường khả năng cạnh tranh của mình và trong đó bao hàm mục tiêu đối ngoại chung. Trong lĩnh vực chính sách kinh tế đối ngoại, TPP là một trong những khuôn khổ hấp dẫn nhất để khuyến khích Trung Quốc tăng cường cải cách thị trường và ký vào bản cam kết tự do hóa tham vọng hơn. TPP, do đó, đã nổi lên như một trung tâm cho sự tương tác giữa ba gã khổng lồ trong nền kinh tế thế giới.

Hiệu ứng của TPP đối với Mỹ và Nhật Bản

Mỹ kỳ vọng sẽ gặt hái được lợi ích kinh tế quan trọng từ TPP. Đây là một thỏa thuận thương mại mà sẽ tiếp sức cho các lĩnh vực có thế mạnh cạnh tranh của nền kinh tế Mỹ: Xuất khẩu nông nghiệp, thương mại dịch vụ, kinh tế kỹ thuật số. Các nghiên cứu kinh tế lượng cho thấy lợi ích của TPP mang lại cho nền kinh tế Mỹ ước tính 131 tỷ USD mỗi năm, và khi TPP trở thành một tiêu chuẩn toàn cầu, những lợi ích này sẽ lớn hơn rất nhiều. Thật vậy, TPP đã trở thành trọng tâm trong chương trình nghị sự thương mại của Mỹ. Thành công của nó là cần thiết để tiếp tục tạo đà cho cuộc đàm phán thương mại xuyên Đại Tây Dương đang diễn ra, nhưng nó cũng có thể ảnh hưởng đến các sáng kiến ​​thương mại quan trọng khác. Ví dụ, các nguyên tắc của TPP về các ngành dịch vụ và doanh nghiệp nhà nước ​​sẽ gây ảnh hưởng đến các cuộc thảo luận về Hiệp định thương mại dịch vụ, một cuộc đàm phán thương mại đa phương được thực hiện dưới sự bảo trợ của WTO.

Dưới quan điểm quản trị toàn cầu, TPP là một phép thử về khả năng lãnh đạo của Mỹ trong bối cảnh trật tự kinh tế thế giới rất phức tạp: khi mà các chuỗi cung ứng đã nổi lên đóng vai trò như là một trình điều khiển cho sản xuất và thương mại, nơi các nền kinh tế mới nổi đang ngày càng cao giọng trong việc quản trị nền kinh tế toàn cầu, và nơi các định chế tài chính toàn cầu do Mỹ dựng lên đang bị lu mờ. Thông qua TPP, Mỹ muốn thể hiện quyền lực trong các cuộc đàm phán về quy tắc thương mại mới, thiết lập ra các hình thức tổ chức bổ sung mới và thúc đẩy hệ thống thương mại đa phương, và chủ động ứng phó trước các sáng kiến ​​từ các cường quốc kinh tế đang lên khác.

Nhưng TPP cũng là một trụ cột trong chính sách châu Á của Mỹ, một trong những lý do là nó giúp củng cố các cam kết duy trì quyền lực ở Thái Bình Dương của Mỹ. Hiệp định thương mại này sẽ khẳng định thêm chính sách tái cân bằng với định nghĩa nó không chỉ là một sự tái bố trí các nguồn lực quân sự hướng đến một khu vực để thể hiện sự thay đổi về sức mạnh quân sự; mà còn là sự theo đuổi một nỗ lực chung: thúc đẩy hơn nữa phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế với các quy định phù hợp với thực tế của nền kinh tế thế giới thế kỷ 21, và có khả năng Trung Quốc có triển vọng trở thành một thành viên TPP.

Nhật Bản là một đối tác quan trọng của Mỹ để đạt được những mục tiêu quan trọng. Mặc dù là người tham gia muộn hơn trong các cuộc đàm phán TPP (từ mùa hè năm 2013), nhưng Nhật Bản đã là nhân tố làm thay đổi ý nghĩa kinh tế và chính trị của thỏa thuận này. Sự tham gia của Nhật Bản cho phép TPP hội đủ điều kiện được coi là một thỏa thuận thương mại lớn. Chỉ tính riêng Mỹ, lợi ích kinh tế đến từ thị trường Nhật Bản được ước tính tăng gấp ba lần. Điều này không gây ngạc nhiên vì quy mô của thị trường Nhật Bản và thực tế rằng Mỹ và Nhật Bản chưa có thỏa thuận thương mại song phương; và Nhật Bản cũng chưa bao giờ chấp nhận mức độ tự do hóa cao như vậy. Hơn nữa, trước khi Nhật Bản tham gia TPP đã có những nghi ngờ về việc liệu TPP có thể trở thành một nền tảng hội nhập kinh tế châu Á-Thái Bình Dương thực sự hay không nếu không có sự tham gia của Nhật Bản, nền kinh tế lớn của châu Á. Sự tham gia của Nhật Bản đã làm tắt tiếng của những người phản đối trước đó.

Đối với Nhật Bản, các cuộc đàm phán TPP đã có những tác dụng quan trọng trong chính sách ngoại giao thương mại và theo đuổi các chính sách ưu tiên trong và ngoài nước của mình. Trước khi tham gia TPP, chiến lược thương mại của Nhật Bản chỉ đạt được kết quả khiêm tốn: Nhật đã bị tụt lại phía sau các đối thủ cạnh tranh trong đàm phán một mạng lưới FTA bao phủ một phần đáng kể thương mại của mình, và phải đối mặt với nhiều khó khăn trong việc thuyết phục các nước Đông Nam Á chấp nhận nhiều quy định của WTO+, chỉ nhận được sự hờ hững từ Mỹ và châu Âu khi đề xuất đàm phán các hiệp định thương mại, và vẫn bế tắc với Trung Quốc trong việc hình thành nhóm thương mại Đông Á. TPP đã làm thay đổi cơ bản chính sách thương mại của Nhật Bản. Nó cho phép nước này đàm phán tiếp cận ưu đãi vào thị trường trọng điểm, cho phép khuyếch trương quy tắc thương mại xuyên biên giới, và đồng thời thực hiện các thỏa thuận thương mại lớn. Như một phản ứng trước các thành viên TPP, Trung Quốc tái điều chỉnh chính sách thương mại của mình để tăng tốc độ các cuộc đàm phán thương mại tay 3 ở Đông Bắc Á trong đó bao gồm một nhóm thương mại có 16 thành viên với ASEAN là trung tâm (Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện khu vực - RCEP), và các cuộc đàm phán với châu Âu.

Nhật Bản có thể đặt mục tiêu cao để theo đuổi các tham vọng về thương mại

Là một người tham gia đầy đủ các lớn FTA, Nhật Bản có thể đặt mục tiêu cao để theo đuổi các tham vọng như:

  • Đàm phán các FTA hội nhập sâu nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh quốc tế cho các chuỗi cung ứng toàn cầu của Nhật Bản. Đánh giá về năng lực cốt lõi của Nhật Bản trong thế kỷ 21 nên bắt đầu với sự nhận thức rằng, một phần đáng kể trong năng lực sản xuất công nghiệp của nước này đã được chuyển ra nước ngoài. Chuyển các hoạt động sản xuất ra bên ngoài các thành phố lớn nhằm tận dụng chi phí nhân công thấp không phải là một mục tiêu khả thi trongtình trạng nhân khẩu học của Nhật Bản hiện nay. Thay vào đó, mục tiêu nên là tìm cách duy trì và tăng cường vai trò của Nhật Bản trong chuỗi cung ứng toàn cầu (lực lượng chính trong sản xuất quốc tế và thương mại hiện đại). Chính sách ngoại giao của Nhật Bản có một vai trò quan trọng trong cách đàm phán FTA sâu hơn nhằm xóa bỏ sự phân mảnh trong các chuỗi sản xuất. Ngoài ra, các cam kết FTA sâu cũng sẽ giúp Nhật Bản giải quyết được ức ì, sự thiếu hiệu quả của chính mình như việc tự do hóa ít ỏi của ngành dịch vụ.
  • Mở cánh cửa cải cách cơ cấu. Một trong những lợi ích chính của việc kết nối các chương trình cải cách cơ cấu trong nước vớicác cam kết thương mại quốc tế là sẽ không thể dừng tiến trình cải cách nếu và cả khi tình hình chính trị thay đổi (điều này thực sự là một bài học lớn sau sự thất bại chương trình cải cách thể chế của Thủ tướng Junichiro Koizumi ). Quan trọng hơn, các cuộc đàm phán TPP không phù hợp với mô hình tập đoàn kinh doanh tài chính và công nghiệp tài phiệt kiểu cũ của Nhật Bản (Gaiatsu), cách mà Nhật Bản làm chệch hướng các áp lực thay đổi của Mỹ. Lần này Nhật Bản đã háo hức tìm cách để được tham gia TPP và tự mình đưa ra các cam kết thương mại mới và nỗ lực để cải cách nền kinh tế trong nước.
  • Quản lý quá trình chuyển đổi từ "chế độ taker" sang "chế độ maker". Với sự trì trệ của WTO, chúng ta đã chuyển sang một hệ thống được phân cấp theo nhóm các quốc gia khác nhau đang tìm cách xác định các tiêu chuẩn để hội nhập kinh tế. Chi phí của chính sách thương mại thụ động ngày nay cao hơn nhiều ở các nước hưởng tối huệ quốc (MFN), nơi mà các hiệp định thương mại ưu đãi chỉ là những ngoại lệ, sự ban phát và không phải là quy tắc áp dụng chung. Những kỳ vọng về lợi ích ổn định từ tự do hóa thông qua sự thành công của các vòng đàm phán đa phương đã gần như đổ vỡ. Do đó, những nước muốn tránh những tác động phân biệt đối xử trong giao dịch thương mại ưu đãi và cải thiện tiếp cận thị trường quan trọng thông qua việc loại bỏ thêm thuế quan và áp dụng các quy tắc để giải quyết các rào cản phía sau biên giới đã phải dùng đến chính sách ngoại giao FTA chủ động. Nói rộng hơn, Nhật Bản có nhiều cơ hội để thể hiệnnhư một nhà lãnh đạo dẫn dắt quản trị kinh tế quốc tế, theo cách tạo ra tiếng vang với các mục tiêu của chính quyền Abe đóng một vai trò chủ động trong các vấn đề của trật tự kinh tế thế giới.

Kết luận của các cuộc đàm phán TPP: Ý nghĩa và tác động

Đối với những lợi ích chung giữa Mỹ và Nhật Bản trong dự án TPP, các điều khoản liên quan đến tiếp cận thị trường gây chia rẽ và gặp khó khăn lâu nhất. Tất nhiên, một loạt các vấn đề khác cũng có những vướng mắc giữa thành viên lớn của TPP. Sinh học là chủ đề cuối cùng đạt được thỏa thuận trong phiên cuối cùng của TPP được tổ chức tại Atlanta vào tháng 10 năm 2015, và cuộc đàm phán đã đến đích. Bất chấp những khó khăn, một thỏa thuận TPP đã thành công vào mùa thu năm ngoái thể hiện cho một sự chiến thắng vang dội về sự tiến bộ thương mại chưa từng có trong suốt hai thập kỷ qua. Kể từ khi thành lập, WTO chưa bao giờ bổ sung, cập nhật các quy tắc thương mại và đầu tư quốc tế, và các vòng đàm phán Doha đang trong tình trạng hấp hối. Nhiều người tỏ ra nghi ngờ rằng các thỏa thuận thương mại lớn có thể giải quyết được sự phức tạp phía sau biên giới và khó có thể áp dụng thành công. Và đây là thông điệp mạnh mẽ nhất đến từ Atlanta: nó có thể được thực hiện.

Với thỏa thuận TPP sắp thành hiện thực, có nhiều hy vọng rằng, chúng ta có thể quản lý những thay đổi mang tính kiến ​​tạo trong quản trị thương mại quốc tế. Sự biến đổi của chương trình nghị sự về thương mại (tăng cường các vấn đề pháp lý) và những hạn chế của WTO như là một diễn đàn đàm phán, đã dấy lên câu hỏi về một hệ thống đa phương lý tưởng – phải chăng là có một bộ quy tắc ràng buộc duy nhất cho 150 quốc gia. Thay vào đó, trung tâm của hành động bây giờ chính là những gì chúng ta gọi là "biến hình" của các nhóm nước đàm phán các quy tắc mới: các nhóm quốc gia trong WTO và ưu đãi thương mại thông qua các siêu hiệp định tự do thương mại. Tuy nhiên, hệ thống quản trị thương mại mới nổi không phải là không có rủi ro, và sẽ phảicần có nhiều nỗ lực để ngăn chặn các nguy cơ tiềm ẩn, đó là sự phân mảnh (nếu tiêu chuẩn TPP không được phổ biến rộng rãi) và loại trừ (nếu các quốc gia kém phát triển đứng ngoài làn sóng FTA).

Hơn thế nữa, TPP sẽ mở ra một chương mới đầy hứa hẹn trong quan hệ Mỹ -Nhật Bản. Đó chắc chắn là xa hơn một thoả thuận thương mại Mỹ-Nhật Bản. Nó đại diện cho năng lực của 12 nước có trình độ phát triển khác nhau và với chế độ, luật lệ rất khác nhau để đi đến thoả thuận về tự do hóa thương mại đáng kể nhất từ trước đến nay. Nhưng Mỹ và Nhật Bản thật sự là cốt lõi của TPP, đây là hai nền kinh tế lớn nhất và phát triển nhất đã đóng vai trò như trái tim trong các cuộc đàm phán. TPP đánh dấu một mốc quan trọng trong quan hệ Mỹ - Nhật Bản, và thể hiện sự hiệu quả của tiến trình hợp tác nâng cấp các kiến trúc kinh tế quốc tế. Trong TPP, Mỹ và Nhật Bản phối hợp chặt chẽ trong việc thiết lập ra các quy tắc mới cho tất cả các lĩnh vực trong các cuộc đàm phán và đã đạt được một thỏa thuận về vấn đề tiếp cận thị trường mà được coi là không tưởng trong quá khứ.

Phê chuẩn, cải cách, tiếp cận – Ba bước để đạt được lợi ích đầy đủ tiềm năng của TPP

Không có những tác động lâu dài cũng như không đạt được lợi ích đầy đủ tiềm năng của TPP, nếu các quốc gia thành viên (và Mỹ và Nhật Bản nói riêng) không tăng tốc các bước quan trọng tiếp theo. Để đơn giản, chúng có thể được gọi là ba "R" : Chuẩn, Cải cách, và Mở rộng.

Phê chuẩn

Quy tắc phê chuẩn TPP là yêu cầu phải có ít nhất sáu quốc gia đại diện cho 85% GDP của cả khối phê chuẩn thỏa thuận trước khi nó có hiệu lực. Vì vậy, để đáp ứng yêu cầu này, cả Mỹ và Nhật Bản đều phải phê chuẩn. Tuy nhiên, đối với Mỹ, việc phê chuẩn TPP đang là đề tài nóng trong trận chiến chính trị về bầu cử tổng thống. Mặc dù các cuộc thăm dò dư luận cho thấy rằng hầu hết người Mỹ nhìn thấy hội nhập thương mại quốc tế là một cơ hội, nhưng lại khá cứng rắn với vấn đề chính trị trong các hiệp định thương mại. Phản đối kéo dài của các nhóm môi trường và các nghiệp đoàn với các thỏa thuận thương mại đã dẫn đến các hoạt động chống lại TPP. Và cuộc tranh luận về giá trị của hiệp định thương mại này đã trở nên nóng hơn khi các nhà phê bình cho rằng toàn cầu hóa thương mại chínhlà tội đồ tạo nên tình cảnh bất bình đẳng thu nhập và làm xói mòn quyền hạn của nhà nước.

Với cả hai đảng của Mỹ, TPP đang là một vấn đề gây chia rẽ. Trong khi Tổng thống Barack Obama tiến hành đàm phán TPP và là ưu tiên hàng đầu của chính quyền, nhưng phần lớn thành viên đảng Dân chủ trong Quốc hội đã không ủng hộ sáng kiến ​​thương mại này của ông, một phần là do sự phản đối của nghiệp đoàn lao động, một trong những thế lực truyền thống của đảng Dân chủ. Trong khi đó nội bộ của đảng Cộng hòa đã những thay đổi đáng kể, làm phức tạp thêm quá trình phê chuẩn TPP. Đảng Cộng hòa đã trở nên ít gắn kết hơn với sự xuất hiện của phe Tea Party, nhóm không ủng hộ sáng kiến thương mại này của Obama. Sự ủng hộ của các nhân vật đảng Cộng hòa tại Thượng viện cũng đã suy yếu do sự bất mãn trong vụ việc tranh chấp thuộc lá bắt nguồn từ cơ chế giải quyết tranh chấp đầu tư nhà nước và tăng thời hạn độc quyền cho sản phẩm sinh học. Cộng đồng doanh nghiệp cũng đã chỉ trích các quy định này, và chỉ ủng hộ thỏa thuận TPP có điều kiện.

Mặc dù vậy, Mỹ vẫn chưa thất bại trong việc phê chuẩn một hiệp định thương mại nào. Và nếu TPP không được phê chuẩn sẽ gây tổn hại đến uy tín của chính sách đối ngoại của Mỹ và sự tiến bộ của các thể chế thương mại quốc tế.

Cải cách

Một trong những lợi ích mạnh mẽ nhất của hiệp định thương mại là việc chính phủ có thể sử dụng các cam kết này như là cái cớ để thực hiện những thay đổi kinh tế cần thiết. Cải cách là đòi hỏi thực tế và mang quyết định đối với Nhật Bản khi nó đang cố gắng vượt qua sự trì trệ trong tăng trưởng. Tái thiết kinh tế chắc chắn phải vượt xa chương trình cải cách nông nghiệp hiện tại, chúng sẽ là các biện pháp tăng năng suất trên tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế, quốc tế hóa các dịch vụ, khuyến khích đầu tư trực tiếp, và nâng cấp mạng lưới sản xuất khu vực và xuyên khu vực.

Tuy nhiên, các biện pháp đối phó của ngành nông nghiệp của Nhật trong việc thông qua thỏa thuận TPP đã làm dấy lên nghi ngờ về quyết tâm cải cách ngành nông nghiệp của chính phủ. Cam kết tiếp cận thị trường theo TPP của Nhật Bản chỉ đơn giản là đưa ra hạn ngạch gạo nhập khẩu 56.000 tấn (nhiều nhất là 78.400 tấn). Nhưng chính phủ đã kịp thời công bố tăng mua sắm dự trữ công nhằm đối phó với hạn ngạch TPP, hành động này giúp ngăn chặn một cách có hiệu quả sự giảm giá của gạo và làm mất đi sự điều chỉnh của thị trường. Trợ cấp trá hình cản trở việc hiện đại hóa ngành nông nghiệp vì nó cho phép nông dân bán thời gian tiếp tục canh tác ở những mảnh đất nhỏ lẻ, cản trở sự xuất hiện của ngành nông nghiệp thương mại. Chính phủ cũng đã đệ trình một ngân sách hào phóng năm 2016 bổ sung 312 tỷ yên để thực hiện các biện pháp đối phó với TPP nông nghiệp. Nhưng các chuyên gia còn cho rằng sự ảnh hưởngkhả năng cạnh tranh nông nghiệp còn đến từ chính sách chi ngân sách nhiều cho các dự án cải tạo đất.

Cũng như ảnh hưởng của bầu cử đã không tạo điều kiện thuận lợi cho phê chuẩn TPP tại Mỹ, các cuộc bầu cử Thượng viện Nhật Bản vào tháng 7 tới cũng được coi là nhân tố không có lợi cho quá trình phê chuẩn TPP.

Mở rộng TPP sẽ rất quan trọng để tránh những rủi ro đến từ việc phân mảnh

Việc công bố văn bản TPP đã làm rõ một điểm rất quan trọng: TPP có khả năng kết nạp thêm không chỉ các quốc gia thuộc nhóm APEC mà còn với các quốc gia khác nếu họ sẵn sàng đáp ứng được các tiêu chuẩn của TPP. Sự mở rộng sẽ rất quan trọng để tránh những rủi ro đến từ việc phân mảnh và loại trừ bằng cách giúp phổ biến các tiêu chuẩn TPP. Trong ngắn và trung hạn, kết luận của các cuộc đàm phán TPP dự kiến ​​sẽ có hai tác dụng chính: tăng danh sách các ứng viên tiềm năng, và khuyến khích một mức độ tham vọng cao hơn của các cuộc đàm phán thương mại đang diễn ra.

Các nền kinh tế bày tỏ sự quan tâm đến việc gia nhập TPP bao gồm Hàn Quốc, Đài Loan, Indonesia, Thái Lan, Philippines, Colombia và Costa Rica, và một số nước khác. Làn sóng thứ hai về tiếp cận các vấn đề quan trọng của WTO sẽ sẵn sàng để thực hiện các cam kết tự do hóa đầy tham vọng của TPP, và danh sách các thành viên tiềm năng cho thấy có sự thay đổi về quan điểm. Kết luận của các cuộc đàm phán TPP cũng tạo động lực cho việc cập nhật, bổ sung các FTA hiện có và / hoặc mở rộng quy mô mức độ tham vọng trong các cuộc đàm phán thương mại đang diễn ra, xuất phát từviệc các nước ngoài TPP muốn đảm bảo thị trường xuất khẩu, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, và các công ty của họ có chân trong chuỗi cung ứng toàn cầu.

Về lâu dài, thách thức chính sẽ là việc phải cómột chiến lược hiệu quả đối với các nền kinh tế mới nổi như Trung Quốc, Ấn Độ và Brazil. Đây vẫn là lỗ hổng của Mỹ trong kế hoạch phát triển khối thương mại xuyênThái Bình Dương và xuyên Đại Tây Dương. Chắc chắn, thực hiện TPP và Hiệp định đối tác Thương mại và Đầu tư xuyên Đại Tây Dương là bước đầu tiên trong chiến lược đó vì nó làm thay đổi cơ cấukhuyến khích các nước tự do hóa thị trường hơn nữa. Vàcuối cùng, những nền kinh tế mới nổi sẽnhận thức được rằng lợi ích quốc gia của họ là tuân theo các tiêu chuẩn kinh tế mới này, và có được ý chí chính trị để giải quyết các vấn đề nội tại của mình. Đây là một trật tự kinh tế cao thực sự.

Các câu hỏi cấp bách nhất là Trung Quốc có coi mình là đối nghịch với TPP hay không. Chúng ta có thể mong đợi lịch sử lặp lại, Trung quốc cuối cùng cũng gia nhập WTO để thúc đẩy cải cách kinh tế, vậy liệu nó có tham gia TPP hay không? Hoặc nó sẽ chọn cách thay cho các đàm phán về thỏa thuận Thương mại tự do Khu vựcchâu Á-Thái Bình Dương (FTAAP) sau khi cả TPP lẫn RCEP thành công, để đóng một vai trò chủ động hơn trong cấu trúc kinh tế quốc tế - cách này có phải là phù hợp với động thái Trung Quốc khởi động thành lập Ngân hàng Đầu tư Phát triển cơ sở hạ tầng châu Á?

Thỏa thuận TPP nhấn mạnh đến việc thúc đẩy tiềm năng hợp tác giữa Mỹ -Nhật Bản để quản trị kinh tế quốc tế. Tuy nhiên, nhìn tổng quan về những thách thức còn lại cũng cho thấy rằng việc ký kết thỏa thuận TPP chỉ mới là bước đầu tiên.

Theo www.brookings.edu – PT

Từ khóa: TPP được phê chuẩn, Những ảnh hưởng, đối với, châu Á-Thái Bình Dương

Chuyên mục RCEP

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Phân tích - Bình luận

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Thư viện hội nhập

thu vien

Xem nhiều nhất


phong ve thuong mai

Video

Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field

Liên kết

 

Lượt truy cập

008747081
Go to top