
Sự tham gia của Việt Nam vào Hiệp định Quan hệ đối tác thương mại xuyên Thái Bình Dương (TPP) và Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam - EU (EVFTA) đã đặt nền tảng cho lợi ích kinh tế đáng kể ở Việt Nam, một khi hai hiệp định mới này được phê duyệt đầy đủ và có hiệu lực thực thi.Theo dự báo của Viện Kinh tế Quốc tế Peterson, chỉ riêng TPP có thể giúp GDP của Việt Nam tăng 8,1%, kim ngạch xuất khẩu tăng 30,1%, và FDI mới tăng 14,4% vào năm 2030.
Việt Nam hiện tập trung vào TPP do tính chất toàn diện của hiệp định mà mục tiêu là thiết lập nên "các tiêu chuẩn vàng" mới cho các hiệp định thương mại tự do (FTA), liên quan đến 12 quốc gia đại diện cho hơn 39% GDP của thế giới.
Tuy nhiên, đàm phán EU-VN FTA cũng quan trọng với của Việt Nam khi EU là một liên minh thuế quan của 28 quốc gia chiếm 25,4% GDP của thế giới năm 2014, cao hơn so với 22,5% của Mỹ và cũng vượt xa mức 13,4% của Trung Quốc, theo số liệu của IMF năm 2014.
Điều này có nghĩa là hàng hóa sản xuất tại Việt Nam đáp ứng quy tắc xuất xứ (ROO) và chứng nhận nguồn gốc có trong các FTA mới sẽ được hưởng lợi ích thuế quan ưu đãi tại 40 quốc gia, chiếm khoảng 65% GDP toàn cầu. Kết quả là, đầu tư vào Việt Nam là một cơ hội ngàn năm có một cho các công ty và thương nhân toàn cầu. Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng là những thách thức lớn trong việc xây dựng kế hoạch chiến lược.
Đối với thương mại hàng hoá, việc xây dựng kế hoạch chiến lược mới đặt ra là: một người có thể "xây dựng biểu thuế" và sản xuất hoặc sản xuất sản phẩm tại Việt Nam theo những cách mà sẽ đáp ứng yêu cầu hội đủ điều kiện xuất xứ cho cả hai FTA hay không? Hàng hóa hoặc các sản phẩm có thể được thiết kế và sản xuất tại Việt Nam cho cả TPP và EVFTA khi những hiệp định này có hiệu lực hay không?
Không thể có thương mại tự do như vậy
Thương mại tự do dường như không xứng với tên gọi của nó, bởi vì các thỏa thuận thế hệ mới chất lượng cao đòi hỏi tiêu chuẩn tuân thủ quốc tế cao hơn nhiều với (i) phân loại thuế quan của hàng hóa và nguyên vật liệu theo Hệ thống hài hoà (HS) chính xác, (ii) tính toán nội dung giá trị của hàng hóa khu vực cụ thể và, (iii) các chứng nhận về nguồn gốc của tất cả các nguyên vật liệu và thành phần sử dụng để sản xuất ra sản phẩm cuối cùng xuất khẩu sang các thị trường FTA. Cần phải có một khoản đầu tư phù hợp, nỗ lực và các chuyên gia có trình độ chuyên môn cao để hiểu 5.544 trang văn bản của TPP và 2.000 trang của EVFTA sẽ ảnh hưởng đến sản phẩm của một công ty như thế nào, cũng như làm thế nào để áp dụng và minh chứng một cách chính xác việc áp dụng những quy tắc và ngoại lệ liên quan của công ty.
Có rất nhiều điều khoản liên quan đến vấn đề tạo điều kiện thuận lợi cho thương mại và về "quy tắc xuất xứ chung" tương đối giống nhau trong TPP và EVFTA. Tuy nhiên, nhiều định nghĩa, khái niệm, quy trình, phương pháp tiếp cận quy tắc nguồn gốc xuất xứ cụ thể và chứng nhận xuất xứ, mặc dù giống nhau, nhưng lại có khác biệt đáng kể. Một lưu ý quan trọng là sản phẩm hoặc hàng hóa đủ điều kiện theo quy định của TPP sẽ không tự động hội đủ điều kiện theo quy định EVFTA và ngược lại. "Biểu thuế kỹ thuật" của hàng hóa để được hưởng ưu đãi thuế quan theo các hiệp định thương mại yêu cầu đến từng sản phẩm chi tiết, phân tích chế biến và nguyên liệu để xác định tình trạng của chúng theo quy tắc và ngoại lệ cụ thể của từng thỏa thuận.
Những điểm tương đồng và khác biệt của TPP và EVFTA
Trong trường hợp của TPP, chất lượng của một mặt hàng đủ điều kiện phải được minh chứng và hồ sơphù hợp để chứng minh đủ điều kiện phải được duy trì trong năm năm kể từ ngày cấp giấy chứng nhận hàng hóa đủ điều kiện, mới vượt qua các cuộc kiểm toán xác minh hải quan quốc tế. Việc xác minh như vậy là cần thiết đối với xuất khẩu ban đầu và nhập khẩu mà lợi ích thuế quan được công bố hoặc hồi tố. Các chứng nhận như vậy phải được thực hiện cẩn thận bởi vì chứng nhận xuất xứ hàng hoá chung giống hệt nhau có thể được áp dụng tới một năm. Những chứng nhận này áp dụng cho cả xuất khẩu và nhập khẩu hàng hóa giống hệt nhau trong vòngmột năm.
Trong trường hợp của EVFTA, các bản sao tờ khai nguồn gốc hoặc xin cấp giấy chứng nhận xuất xứ, và hồ sơ hỗ trợ tương tự phải được duy trì ít nhất là ba năm, kể từ ngày khai xuất xứ hoặc chứng nhận xuất xứ. Kết quả là, các nhà sản xuất toàn cầu và xuất khẩu sang các nước TPP và sang EU (hay Việt Nam) cần chuẩn bị để có được bộ hồ sơ thích hợp về điều kiện ưu đãi thương mại cho một khoảng thời gian ít nhất là năm năm kể từ khi cấp giấy chứng nhận xuất xứ nhằm đáp ứng yêu cầu xác minh của cả TPP và EVFTA.
Quy tắc nguồn gốc chung
Chỉ có hàng hóa mà có thể được chứng nhận " nguồn gốc" từ các nước FTA mới hội đủ điều kiện hưởng ưu đãi thuế quan theo các FTA, khi qua biên giới các quốc gia thành viên. Làm thế nào một mặt hàng sẽ được coi là có "nguồn gốc" cho các mục đích của các FTA? Chỉ có hàng hóa đáp ứng các quy tắc xuất xứ của Hiệp định thương mại cụ thể liên quan được cho là "có nguồn gốc" hoặc đủ điều kiện cho lợi ích ưu đãi thuế quan của nó.
Trong TPP, những gì gọi là "quy tắc xuất xứ chung" (ngược với "quy tắc xuất xứ sản phẩm cụ thể ") liên quan đến hàng hóa được mà "hoàn toàn được sản xuất ra - WO" trong lãnh thổ của một hoặc nhiều nước TPP. Điều này chỉ liên quan đến hàng hóa hoặc là nông sản, chăn nuôi, thủy sản và các mặt hàng khoáng sản, cũng như, phế liệu, được liệt kê tại Điều 3.3. Chương 3 của TPP, hoặc hàng hoá được sản xuất hoàn toàn trên lãnh thổ của một hoặc nhiều nước TPP độc quyền từ các nguyên liệu từ các nước TPP.
Trong EVFTA, quy tắc tương tự "quy tắc xuất xứ chung" nằm trong Điều 4 Chương 4 (Nghị định thư Định nghĩa Khái niệm về "nguồn gốc sản phẩm" và phương pháp của Hợp tác hành chính). Trong trường hợp hàng hóa WO, danh sách hàng hóa đó sẽ được coi là đủ điều kiện là WO trong EVFTA gần như là bản sao danh sách được tìm thấy trong Điều 3.3 của TPP và, như vậy, các nhà sản xuất và xuất khẩu hàng hóa được liệt kê trong danh sách này sẽ không gặp khó khăn trong việc đáp ứng các yêu cầu của cả hai hiệp định thương mại trong khâu cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện của hàng hóa.
Quy tắc nguồn gốc sản phẩm cụ thể
Tuy nhiên, phần lớn các hàng hóa sản xuất trong thương mại toàn cầu là hàng hóa trung gian hoặc hàng thành phẩm. Số lượng hàng hoá, sản phẩm được sản xuất bằng nguyên vật liệu không có xuất xứ là khá hạn chế. Theo TPP, phần lớn các hàng hóa được giao dịch sẽ hoặc là đủ điều kiện hợp lệ theo Quy tắc Nguồn gốc Sản phẩm Cụ thể, trong Phụ lục 3-D của Chương 3, hoặc, trong trường hợp hàng hóa tự động, quy định bổ sung nêu tại Phụ lục 1 Phụ lục này. Trong trường hợp hàng dệt và may mặc, các yêu cầu của chương 4 của TPP và Quy tắc Nguồn gốc Sản phẩm Cụ thể nêu tại Phụ lục 4-A của Chương 4, cũng như các phụ lục kèm theo bao gồm một số ngoại lệ cho các nguyên liệu không có nguồn gốc trong "Danh mục sản phẩm có nguồn cung thiếu hụt" liên quan đến hàng hoá sẽ được áp dụng.
Trong EVFTA, việc thực hiện Quy tắc Nguồn gốc Sản phẩm Cụ thể khác nhau đáng kể so với của TPP. Điều 5 Chương 4 của EVFTA đưa ra khái niệm "Sản phẩm được sản xuất hoặc chế biến đầy đủ", trong khi Điều 6 Chương 4 đưa ra danh sách các công đoạn "gia công, chế biến giản đơn" liên quan đến hàng hóa sẽ không được công nhận tình trạng hàng hóa có nguồn gốc, không cần xem xét các yêu cầu của Điều 5 có đáp ứng hay không.
Kết luận
Phần giới thiệu và phân tích sơ bộ về ROO trong Hiệp định TPP và EVFTA sẽ là mở đầu cho các công ty thấy được sự cần thiết phải có một sự phân tích sâu và chi tiết hơn về phát triển kế hoạch chiến lược để đảm bảo rằng các sản phẩm và hàng hóa của mình hội đủ điều kiện hưởng ưu đãi thuế quan.
Các công ty và thương nhân toàn cầu sẽ phải đánh giá tác động của các hiệp định này đối với chuỗi cung ứng toàn cầu của họ và xây dựng tầm nhìn cho nhà cung cấp đa tầng. Và điều quan trọng là ngay lập tức thực hiện các nỗ lực cần thiết để đối phó với sự phức tạp của các FTA mới.
(*)Nestor Sherbey, Giám đốc Dịch vụ quản lý rủi ro Hải quan và Thương mại (Việt Nam). Công ty cung cấp dịch vụ tư vấn và hỗ trợ đào tạo hải quan đáng tin cậy và thỏa thuận tự do thương mại cho các công ty đa quốc gia tham gia vào các giao dịch thương mại toàn cầu. Là một thành viên tích cực của AmCham Việt Nam và Nestor Scherbey cũng là cố vấn cao cấp cho tiến trình thực hiện cam kết Tạo thuận lợi Thương mại của Việt Nam.
Theo www.vir.com.vn – VQ
Từ khóa: TPP, EVFTA, Doanh nghiệp Việt Nam, có thể, hưởng lợi ích, từ cả hai hiệp định
Các tin khác
- Khi cả thế giới lao vào “cứu” kinh tế Trung Quốc, Việt Nam nên tương kế tựu kế - 19/03/2016
- Dự báo tương lai ngành dệt may Việt Nam hậu TPP - 18/03/2016
- TPP có ý nghĩa như thế nào đối với các nước Mỹ La-tinh và Ca-ri-bê? - 15/03/2016
- Nhật Bản và làn sóng chủ nghĩa khu vực mới ở châu Á - 15/03/2016
- Rà soát pháp luật Việt Nam với cam kết EVFTA: Thiếu nhất quán thực thi pháp luật về thương mại - 14/03/2016






















