Đàm phán TPP được coi như một phương tiện thúc đẩy cải cách nội địa nhanh hơn cũng giống như việc những nhà cải cách Trung Quốc trước đây từng tận dụng đàm phán gia nhập WTO năm 2001.
Không chỉ có nhân nhượng Mỹ - Nhật
Các vòng đám phán về Hiệp định Thương mại Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) càng đi vào sâu những vấn đề cụ thể lại cho thấy khả năng sớm hoàn thành trong năm 2014 có thể không đạt được như mong muốn – ít nhất cũng là như những tuyên bố công khai của các trưởng đoàn và có thể cả ở cấp cao hơn.
Vướng mắc nảy sinh và càng trở nên khó khăn hơn không chỉ vì nó lộ ra những lợi ích cụ thể của những ràng buộc có sẵn trong Dự thảo ban đầu, cùng với sự tham gia của Nhật, tương lai cả Hàn Quốc và, biết đâu, có cả Trung Quốc (?) có thể sẽ có thêm những nội dung ràng buộc và cần thỏa thuận mới.
Mặc dù sốt ruột để đạt được hiệp định quan trọng này nhưng cũng như Mỹ và Nhật Bản, nhiều quốc gia khác đang phải đối mặt với những khó khăn chính trị riêng.
Chẳng hạn, Malaysia lo ngại TPP có thể ảnh hưởng đến chính sách mua sắm dành cho "Bumiputras" - tức chủ yếu là dân tộc bản địa người Mã Lai chứ không phải những dân tộc gốc Trung Quốc và Ấn Độ làm suy yếu hỗ trợ cho liên minh cầm quyền.
Những điểm mấu chốt về tiếp cận thị trường và những khác biệt về hàng rào thuế quan đối với hàng hóa nhập khẩu vẫn là những rào cản chính khiến các nước thành viên chưa thể thỏa thuận ký TPP, đặc biệt là hai nền kinh tế lớn Nhật Bản và Mỹ.
Trước vòng đàm phán lần này, Nhật Bản chưa muốn bãi bỏ thuế quan đối với một số mặt hàng nông sản gồm gạo, thịt bò và heo, sản phẩm sữa, lúa mì, đường. Nhật Bản cũng đang gây sức ép để Mỹ đưa ra lịch trình cụ thể loại bỏ thuế quan 2,5% với ô tô chở khách và 25% với xe tải nhẹ.
Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe coi TPP như một phần quan trọng của chiến lược "ba mũi tên"
Abenomics trong nỗ lực cải cách triệt để nền kinh tế Nhật Bản. Đây là kinh nghiệm mà cựu Thủ tướng Trung Quốc Chu Dung Cơ áp dụng trong những năm 1990, tận dụng triển vọng gia nhập WTO để tạo ra áp lực cải cách kinh tế trong nước.
Tuy nhiên, có vẻ ông Abe không đi xa hơn được ông Chu trong chiến thuật này khi Nhật Bản còn quá nhiều cản trở.
Sự tham gia của Nhật Bản sẽ đồng nghĩa với một thỏa thuận bao trùm 40% GDP toàn cầu, và thêm vào 60 tỷ USD cho thị trường xuất khẩu của Mỹ. Chính vì vậy, chính phủ Obama và các chuyên gia Mỹ tuyên bố ủng hộ việc kết nạp Nhật Bản vào TPP khi Tokyo bày tỏ lợi ích khi tham gia thỏa thuận này.
Theo dự kiến, Tổng thống Mỹ Barack Obama sẽ thăm Nhật Bản vào tháng 4 và đây được xem là mốc quan trọng cho việc kết thúc đàm phán TPP khi hai nền kinh tế lớn nhất của khối TPP có được tiếng nói chung.
Khi quyết định tham gia đàm phán TPP, ông Abe nói Nhật Bản không thể tự mình khép kín, nếu muốn tiếp tục duy trì tăng trưởng, và mô tả điều ông gọi "đây là cơ hội cuối cùng để tham gia và nếu để lỡ cơ hội này thì Nhật Bản sẽ bị tụt hậu". Như vậy, bản thân ông Abe cũng rất nóng lòng để TPP sớm hiện thực hóa, sự kéo dài thời gian dường như chỉ là sự "mặc cả" giữa hai nước lớn với "đơn hàng" lớn.
Trong khi các nhà đàm phán cố gắng hoàn thành trong năm 2014 – như dự kiến, vẫn còn nhiều khó khăn để đi tới hoàn tất như vấn đề trợ giá cho nông dân trồng lúa ở Nhật Bản, chăm sóc y tế ở Canada và Australia, bảo vệ bản quyền và kiểm soát vốn ở Chile… thì các nhà quan sát cũng theo dõi chặt chẽ phản ứng của Trung Quốc với hiệp định này.

Thái độ của Trung Quốc với TPP
Cách đây một năm, triển vọng Trung Quốc gia nhập đàm phán TPP là điều không ai nghĩ tới. Nhưng, tuyên bố bất ngờ từ Bộ Thương mại Trung Quốc vào tháng 5/2013 rằng Trung Quốc lưu ý tới việc tham gia TPP “dựa trên sự bình đẳng và lợi ích chung” là một sự thay đổi đáng chú ý so với lập trường phản đối trước đó.
Ở Trung Quốc, có ba luồng phản ứng về việc Nhật Bản gia nhập đàm phán TPP được thể hiện rõ rệt. Phản ứng thứ nhất cáo buộc TPP là chính sách “ngăn chặn” của Mỹ nhắm vào Trung Quốc và hiện tại có thêm sự cộng sức của Nhật Bản.
Phản ứng thứ hai tái nhấn mạnh vai trò quan trọng của ASEAN và nâng APEC như một thiết chế hàng đầu khu vực trong giải quyết thương mại. Phản ứng thứ ba là tái đánh giá vệc Trung Quốc có nên tham gia đàm phán TPP hay không. Những phản ứng này không mâu thuẫn với nhau và được thể hiện cụ thể trong các hoạt động của lãnh đạo Trung Quốc.
Đối với phản ứng thứ nhất, Trung Quốc coi việc Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe gia nhập đàm phán TPP và thăm các nước ASEAN chính là nỗ lực của Nhật Bản cùng Mỹ kìm chế sự trỗi dậy của Trung Quốc. Các nhà bình luận ở Trung Quốc còn cho rằng việc Nhật Bản trì hoãn trong đàm phán hiệp định tự do thương mại Trung Quốc – Hàn Quốc – Nhật Bản, ưu tiên tham gia TPP là để phản đối vị thế kinh tế tăng lên của Trung Quốc ở khu vực.
Nhật Bản và Mỹ được coi như những người ủng hộ việc “giữ nguyên hiện trạng” ở khu vực và tìm cách ngăn chặn lợi ích kinh tế Trung Quốc.
Phản ứng thứ hai hướng tới thúc đẩy và củng cố thêm vai trò của ASEAN và APEC như những thiết chế hàng đầu ở khu vực để giảm bớt tầm ảnh hưởng của Mỹ và Nhật Bản. Trong một động thái bất thường, riêng trong năm 2013, cả Chủ tịch Tập Cận Bình và Thủ tướng Lý Khắc Cường đã thăm một số quốc gia Đông Nam Á, phản ánh khu vực này có vai trò quan trọng trong cách tiếp cận hiện tại của Bắc Kinh với vấn đề quốc tế.
Điều này diễn ra đồng thời với việc “nâng cấp” hiệp định tự do thương mại Trung Quốc – ASEAN, là một sự khuyến khích cho “thập kỷ kim cương” mới (thập kỷ tăng trưởng như vũ bão thương mại song phương Trung Quốc – ASEAN).
Việc mở rộng chính sách ngoại giao chủ động theo phương châm của học thuyết Khổng tử “hòa nhập nhưng không hòa tan” chính là nguyên lý định hướng cho quan hệ Trung Quốc – ASEAN; điều này đối lập với cách tiếp cận của Mỹ trong quan hệ thương mại vì Mỹ đòi hỏi sự đồng nhất về các quy tắc.
Trong khi Mỹ mô tả TPP là “không có sự loại trừ”, vì mọi lĩnh vực đều được đưa vào đàm phán TPP thì Trung Quốc đặt ra “sự loại trừ” dựa trên một thực tế rằng không phải tất cả các nước ở khu vực đều tham gia TPP.
Với phản ứng thứ ba, trong khi Trung Quốc chê trách Mỹ và Nhật Bản thực hiện chính sách “ngăn chặn”, đẩy mạnh quan hệ thân thiết hơn với ASEAN và nâng tầm APEC thì Bắc Kinh cũng lưu ý về việc gia nhập TPP. Tất nhiên, ở Trung Quốc vẫn có những quan điểm mong muốn nước này gia nhập đàm phán TPP.
Những người “ủng hộ cải cách” thấy đây như một cách thúc đẩy Trung Quốc tiến xa hơn trên con đường cải cách kinh tế và mở cửa lĩnh vực nội địa để nâng cao cạnh tranh. Ví dụ, cựu Thứ trưởng Thương mại Trung Quốc Wei Jianguo đã nhận định rằng “với vai trò là thành viên APEC, Trung Quốc không nên nhìn TPP chỉ như giấc mơ chiến lược của Mỹ mà nó còn là giấc mơ chiến lược của Trung Quốc”.
Đàm phán TPP được coi như một phương tiện thúc đẩy cải cách nội địa nhanh hơn cũng giống như việc những nhà cải cách Trung Quốc trước đây từng tận dụng đàm phán gia nhập WTO năm 2001 là giải pháp thúc đẩy tự do hóa nội địa để đạt các tiêu chuẩn tham gia WTO.
Theo www.baomoi.com
Từ khóa: TPP, đàm phán, cách biệt, nhân nhượng, cải cách
Các tin khác
- Hạn chế tranh chấp trong hợp đồng quốc tế - 11/04/2014
- Hàn Quốc - Úc ký FTA - 10/04/2014
- Nông nghiệp Việt Nam: Thiếu hành trang để chủ động hội nhập - 10/04/2014
- Hiệp định Thương mại Mỹ - EU có thể tạo ra một kỷ nguyên sản xuất mới - 10/04/2014
- Vòng đàm phán mới nhất RCEP phải đối mặt với nhiều thách thức - 07/04/2014






















