
Các nhà nghiên cứu từ Khoa Kinh tế sinh học tại KU Leuven đã điều tra những ảnh hưởng của thương mại đối với nạn đói trên thế giới do hậu quả của biến đổi khí hậu gây ra. Kết luận chỉ ra rằng: thương mại quốc tế có thể làm giảm tình trạng thiếu lương thực trong khu vực và giảm nạn đói, đặc biệt ở những quốc gia có các biện pháp bảo hộ và các rào cản khác đối với thương mại được xóa bỏ.
Biến đổi khí hậu gây ra hậu quả cho nền nông nghiệp trên toàn thế giới, với sự khác biệt rõ ràng giữa các khu vực. Có thể kỳ vọng khu vực Bắc bán cầu sẽ duy trì đầy đủ lương thực sẵn có, nhưng ở các khu vực như Châu phi hạ Sahara (một vùng của lục địa châu phi nằm phía nam Sahara) hoặc Nam Á, năng suất cây trồng giảm có thể dẫn đến giá lương thực cao hơn và nạn đói tăng mạnh. Hơn nữa sự tự do hóa thương mại thế giới có thể làm giảm bớt những khác biệt khu vực: Ví dụ, nhà nghiên cứu Charlotte Janssens cho rằng “Tình trạng thiếu hụt lương thực có thể được giảm, nếu các khu vực như Châu Âu và Châu Mỹ Latinh, nơi lúa mì và ngô phát triển mạnh, thì hãy tăng sản xuất và xuất khẩu lương thực sang các khu vực đang chịu áp lực nặng nề từ việc nóng lên của Trái đất”. “Điều này có vẻ khá rõ ràng, nhưng thực tế có rất nhiều rào cản làm phức tạp sự thương mại tự do này.
Rào cản thuế quan và cơ sở hạ tầng
Thuế nhập khẩu là một rào cản lớn đối với thương mại quốc tế về lương thực thực phẩm. Họ làm tăng chi phí nhập khẩu cây lương thực cơ bản như lúa mì, ngô hoặc gạo. Khoảng một phần năm của sản lượng lương thực thế giới về các loại ngũ cốc này được giao dịch trên toàn cầu. Điều đó làm cho các hiệp định thương mại hiệu quả trở nên rất quan trọng trong cuộc chiến chống đói. Giáo sư Miet Maertens giải thích: “Vào đầu thế kỷ 21, chúng ta đã chứng kiến một sự tự do hóa lớn của thị trường quốc tế. Điều này khiến thuế nhập khẩu trung bình đối với các sản phẩm nông nghiệp ở châu Âu, châu Phi hạ Sahara và Nam Á giảm một phần ba. Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tự do hóa này làm cho việc cung cấp lương thực toàn cầu ít bị ảnh hưởng hơn bởi biến đổi khí hậu. Chúng tôi cũng thấy rằng việc giảm thuế liên tục có thể tăng thêm hiệu ứng tích cực này”.
Vào đầu thế kỷ 21, chúng ta đã chứng kiến một sự tự do hóa lớn của thị trường quốc tế. Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tự do hóa này làm cho việc cung cấp lương thực toàn cầu ít bị ảnh hưởng hơn bởi biến đổi khí hậu. Việc giảm dần thuế quan có thể tăng thêm hiệu ứng tích cực này.
Bên cạnh đó, cũng có những rào cản khác. Ở một số nước, khía cạnh hậu cần (logistic) được coi là điểm nghẽn. Một số quốc gia, đôi khi hạ tầng giao thông đường còn yếu kém, lạc hậu hoặc các hệ thống cảng không được trang bị cho việc bốc dỡ hàng hóa của tàu container lớn. Vô số thủ tục thương mại phức tạp cũng có thể làm tăng chi phí thương mại. “Một chiến lược lương thực toàn cầu phải đi đôi với những cải tiến đối với cơ sở hạ tầng thương mại”, theo lập luận của Charlotte Janssens.
60 Kịch bản
Nhóm nghiên cứu quốc tế, bao gồm các nhà khoa học từ KU Leuven, viện nghiên cứu quốc tế IIASA và viện nghiên cứu RTI International, và các cơ quan khác, đang đưa ra khuyến nghị dựa trên 60 kịch bản. Họ đã dự tính đến các hình thức khác nhau của chính sách thương mại, cùng với sự biến đổi khí hậu nhiệt độ đang nóng lên từ 2 đến 4 độ của Trái đất. Mỗi kịch bản được xây dựng đến năm 2050. Theo ông Janssens, “Dựa vào các rào cản thương mại hiện nay, kịch bản khí hậu tồi tệ nhất của sự nóng lên 4 độ sẽ dẫn đến có thêm 55 triệu người phải rơi vào tình trạng đói nghèo so với tình hình không có biến đổi khí hậu. Nếu các khu vực dễ bị tổn thương không thể tăng nhập khẩu lương thực, tình trạng đói nghèo thậm chí sẽ tăng lên 73 triệu người”. Nơi các rào cản thương mại được xóa bỏ, 'chỉ' 20 triệu người sẽ chịu đựng tình trạng thiếu lương thực do biến đổi khí hậu. Trong các kịch bản biến đổi khí hậu ôn hòa hơn, và tự do hóa thương mại mạnh mẽ hơn, thậm chí có thể ngăn chặn tình trạng đói nghèo do tác động của biến đổi khí hậu.
Tuy nhiên, tự do hóa thương mại quốc tế cũng có thể liên quan đến những nguy cơ tiềm ẩn. “Nếu các nước Châu Á bắt đầu nhập khẩu gạo mà không cần nhập thêm các sản phẩm khác, họ có thể sẽ đối mặt với tình trạng thiếu lương thực trong biên giới của mình”, theo cảnh báo của Charlotte Janssens. “Một kế hoạch cẩn thận cho tự do hóa là thực sự cần thiết để có thể giảm tình trạng thiếu lương thực phù hợp”.
Khủng hoảng và chế độ bảo hộ thương mại
Janssens cho biết: “Thật đáng buồn, chúng ta thấy rằng trong thời kỳ khủng hoảng, các quốc gia có xu hướng chấp nhận lập trường bảo hộ thương mại. Trong thời điểm kể từ khi bắt đầu cuộc khủng hoảng virus corona, mười quốc gia đang đóng cửa biên giới cấm xuất khẩu các loại cây lương thực quan trọng”. “Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, điều cực kỳ quan trọng là họ nên tránh hành vi bảo hộ như vậy, thay vào đó nên tiếp tục duy trì và sử dụng khuôn khổ thương mại quốc tế”.
Nghiên cứu này là sự hợp tác của các nhà nghiên cứu từ Khoa Kinh tế Sinh học và Khoa Địa lý tại KU Leuven, Viện Phân tích Hệ thống Ứng dụng Quốc tế (IIASA) và Đại học Khoa học Tự nhiên và Khoa học Đời sống ở Áo, Viện nghiên cứu RTI International và Cơ quan Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ, và Đại học Ritsumeikan tại Nhật Bản. Nghiên cứu được công bố trên tạp chí Nature Climate Change .
Nghiên cứu này nhận được tài trợ từ Quỹ nghiên cứu Flanders (FWO), chương trình nghiên cứu Horizon 2020 của Liên minh châu Âu và Cơ quan bảo vệ môi trường Hoa Kỳ.
Nguồn: Science Daily
Từ khóa: thương mại tự do,ngăn chặn, nạn đói,tác động,biến đổi khí hậu
Các tin khác
- Ngành dệt may châu Á điêu đứng vì đại dịch COVID-19 - 29/07/2020
- Mỹ thử thách giới hạn của Trung Quốc - 29/07/2020
- Quan hệ Mỹ - Trung có thể rơi xuống mức nào? - 29/07/2020
- EuroCham: EVFTA là lá phiếu tín nhiệm của EU dành cho Việt Nam - 29/07/2020
- Sắp diễn ra Diễn đàn Chuyển đổi số trong lĩnh vực xuất nhập khẩu hàng hóa - 29/07/2020






















