
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á, (ASEAN), và các nước đối tác, ASEAN + 3, gồm 10 quốc gia và Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc, đã đối phó với đại dịch COVID-19 một cách chậm chạp. Nhưng họ đang tich cực tăng cường các nỗ lực.
Tuy nhiên, cần nhiều nỗ lực hơn như thế - và nhanh chóng hơn nữa. Có rất nhiều điều mà các nước có thể hành động ngay lập tức, như tận dụng các công cụ tăng cường tư vấn và hợp tác nhằm hạn chế lây nhiễm - cả về lĩnh vực y tế và kinh tế. Nhưng trong một số lĩnh vực, việc hiện thực hóa những tuyên bố hoa mỹ sẽ cần đến nguồn tài trợ quy mô lớn, đòi hỏi ba nước đối tác của ASEAN phải đóng góp thêm. Nhưng chính họ cũng đang vật lộn với đại dịch. Bởi vì những nỗ lực toàn cầu là điều tất yếu, một phản ứng khu vực là quan trọng hơn bao giờ hết để bổ sung cho các nỗ lực quốc gia.
COVID-19 là một vấn đề y tế toàn cầu, chỉ có thể được giải quyết tốt nhất thông qua nỗ lực phối hợp đa phương. Nhưng G7 thậm chí không thể đưa ra thông cáo chung, vì Tổng thống Mỹ Donald Trump đã khăng khăng sử dụng thuật ngữ “virus Vũ Hán” thay vì virus corona. Thông cáo G20 có “ngôn ngữ hùng hồn, nhưng không thực tế”, không giống như phản ứng của G20 đối với cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2007 và 2008. Mặc dù các phản ứng có ảnh hưởng cao thường nằm ở cấp quốc gia, những nỗ lực trong khu vực có thể bổ sung và tăng cường hiệu quả.
Trung Quốc và Hàn Quốc là hai nước chịu ảnh hưởng nặng nề nhất trong khu vực. Cả hai nước đã sử dụng lệnh phong tỏa thành công và Hàn Quốc đã chứng minh giá trị của xét nghiệm hàng loạt trong việc kiềm chế sự lây lan của virus. Mặc dù có sự khác biệt lớn về tỷ lệ lây nhiễm giữa các thành viên ASEAN, mức độ phản ứng của mỗi nước thậm chí còn khác nhau nhiều hơn. Trong khi tất cả các nước hạn chế di chuyển quốc tế, hoạt động trong nước đã bị giới hạn ở các mức độ khác nhau. Malaysia, Philippines, Thái Lan và Việt Nam áp dụng triệt để biện pháp phong tỏa, Nhật Bản cũng đẩy mạnh các lệnh như thế, và Singapore tăng cường biện pháp giãn cách xã hội. Trong khi đó, các biện pháp được sử dụng ở Campuchia, lại tương đối lỏng lẻo.
Phản ứng đầu tiên của châu Á là triệu tập Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN-Trung Quốc đặc biệt tại Viêng Chăn vào ngày 20 tháng 2, nơi cả hai bên đồng ý tăng cường hợp tác để chống lại căn bệnh này mà không nêu rõ bất kỳ hành động cụ thể nào.
Các quan chức y tế cấp cao của ASEAN đã chính thức gặp nhau vào ngày 13 tháng 3 và bài học quan trọng nhất được rút ra là cần phải có sự tham gia của ba nước đối tác, như khi ứng phó các dịch bệnh trước đây. Một cuộc họp đặc biệt của các Bộ trưởng Y tế ASEAN + 3 đã được triệu tập ngay lập tức để soạn thảo các hành động cụ thể, vì họ đã phản ứng khá thành công khi dịch cúm xảy ra vào năm 2009. Hội nghị thượng đỉnh trực tuyến của các nhà lãnh đạo vào ngày 14 tháng 4 đã đồng ý thành lập Quỹ Phản ứng COVID-19 (mặc dù không có cam kết tài trợ bổ sung nào) và thiết lập địa điểm dự trữ vật tư y tế thiết yếu trong khu vực.
Vai trò của việc tham vấn và hợp tác cũng không nên bị hạ thấp, khi Malaysia thực hiện lệnh phong tỏa vào tháng 3, biện pháp này đã ảnh hưởng trực tiếp và ngay lập tức đến đời sống của 300.000 công dân Malaysia làm việc tại Singapore. Để giảm thiểu sự gián đoạn, Singapore vội vàng sắp xếp chỗ ở tạm thời cho những lao động Malaysia bị ảnh hưởng. Điều này làm tăng chi phí kinh tế và xã hội cho người sử dụng lao động và người lao động. Nếu có sự tham vấn trước khi hành động đơn phương, các bên có thể theo đuổi biện pháp khác nhằm giảm thiểu chi phí như thế, hoặc chia sẻ chi phí một cách công bằng hơn. Là đầu mối trung gian, ASEAN có vị thế tốt để giải quyết các vấn đề song phương như trên, nhằm tối đa hóa phúc lợi tập thể thay vì thu hẹp theo lợi ích quốc gia.
Người ta ước tính rằng, phần lớn trong số 7 triệu lao động nhập cư vào và đến từ ASEAN là không có giấy tờ. Có một số lượng đáng kể những người lao động như vậy từ Campuchia, Thái Lan và những nơi khác trong khu vực, như ở tại biên giới Campuchia với các nước khác như Việt Nam. Là lao động bất hợp pháp, họ bị từ chối bất kỳ loại bảo trợ xã hội nào. Ngoài nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe, những lao động này còn phải chịu đe dọa bởi các biện pháp cắt giảm của nước sở tại. Các Nghị sĩ về Nhân quyền của ASEAN đã kêu gọi ASEAN giải quyết những vấn đề này một cách khẩn cấp, nhưng ASEAN vẫn im lặng một cách thường thấy.
Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản có nhiều kinh nghiệm và chuyên môn hơn để chia sẻ, vì họ đã từng ở tâm dịch. Họ cũng có nguồn lực tài chính phù hợp, khi các hành động hữu hình đi kèm với tuyên bố được nêu ra. ASEAN có nguồn lực rất hạn chế, vì các thành viên giàu nhất lại là các nước nhỏ, và đá số thành viên còn ngần ngại từ bỏ quyền lợi cho một cơ quan siêu quốc gia.
ASEAN+3 nên hỗ trợ điều phối các hoạt động tài trợ, xúc tiến xử lý đại dịch. Một cuộc họp bộ trưởng tài chính ASEAN + 3 nên được triệu tập để điều phối kích thích các chương trình. Các chính sách tiền tệ và tài khóa phối hợp sẽ tăng tác động ở quy mô quốc gia. Các chính sách quốc gia khác nhau, ngay cả khi tất cả đều theo cùng hướng nới lỏng tiền tệ, có thể làm tăng thêm biến động thị trường tài chính. Do đó, việc phối hợp sẽ hạn chế sự mất ổn định của tỷ giá hối đoái, dẫn đến sự mất giá cạnh tranh và giảm đi các tác động bần cùng hóa người láng giềng, cũng như làm mất cân bằng kỳ vọng lạm phát.
Nếu một cuộc khủng hoảng tài chính nổ ra, Sáng kiến đa phương của Chiang Mai (CMIM) - mạng lưới an toàn tài chính ASEAN + 3 – có thể áp dụng cho các thành viên trong khu vực. Vì chỉ là một loạt các lời hứa chứ không phải là một quỹ, nên CMIM chưa bao giờ được sử dụng. Nhưng, một lần nữa, nỗ lực trong khu vực có thể bổ sung thay vì thay thế bằng các nỗ lực riêng lẻ của từng quốc gia (dự trữ ngoại hối, lập phòng tuyến đầu tiên).
Thành công của ASEAN như một cộng đồng kinh tế được quyết định bởi khả năng sử dụng chủ nghĩa khu vực để thúc đẩy toàn cầu hóa. ASEAN đã thực hiện điều này bằng cách theo đuổi tự do hóa thương mại và đầu tư không phân biệt đối xử và hướng ngoại. Điều quan trọng và cấp thiết hiện tại là ASEAN phải tái khẳng định cam kết đối với thương mại tự do và mở cửa, vì các nước thành viên đều đang tăng cường hạn chế tại biên giới hoặc dùng đến mọi hình thức bảo hộ (bao gồm cả lệnh cấm xuất khẩu). Điều tương tự cũng đang diễn ra với Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản.
Nguồn: Khmer Times
Từ khóa: ASEAN+3, Covid-19, hợp tác đa phương, hội nhập kinh tế






















