
Các nhà sản xuất Đông Nam Á hy vọng chiến tranh thương mại Mỹ- Trung sẽ nâng cao vị thế của khu vực này với tư cách là trung tâm sản xuất toàn cầu, tại mức chi phí của cường quốc láng giềng ở phía bắc. Tuy nhiên, với sự lan rộng của virus corona đã cho thấy vận may của Đông Nam Á lại gắn bó chặt chẽ với Trung Quốc.
Hoa Kỳ và Trung Quốc đã kêu gọi một thỏa thuận ngừng bắn với thỏa thuận “Giai đoạn I” được ký kết vào đầu năm 2020, tuy nhiên chiến tranh thương mại vẫn tồn tại với nhiều mức thuế quan vẫn được áp dụng. Về mặt này, các nước Đông Nam Á rõ ràng là những nước hưởng lợi trong cuộc cung đột kéo dài giữa hai nền kinh tế lớn nhất thế giới. Năm 2019, hàng nhập khẩu của Hoa Kỳ tử Trung Quốc đã giảm 16% (87 tỷ USD) cho thấy kết quả của một loạt mức thuế quan áp đặt lên hàng hóa Trung Quốc. Tuy nhiên, nhìn chung, hàng nhập khẩu chỉ giảm 1.7% có nghĩa là doanh nghiệp Mỹ không nhập khẩu được từ Trung Quốc hiện đang quay sang tìm nguồn cung nơi khác.
Những nước hưởng lợi lớn nhất là ai? Cambodia và Việt Nam, trong đó hàng nhập khẩu của Hoa Kỳ tăng hàng năm lần lượt là 38% (tương đương 5.9 tỷ USD) và 36% (tương đương 17.5 tỷ USD). Các nước Đông Nam Á từ lâu đã là sự mở rộng của chiến lược “Trung Quốc + 1”, nơi mà các nhà sản xuất đa đạng hóa các rủi ro về việc thiết lập sản xuất chính ở Trung Quốc bằng cách duy trì một cơ sở phụ ở ít nhất một quốc gia khác. Khi chiến tranh thương mại leo thang, nhiều công ty đã dựa vào khía cạnh “Giai đoạn I” về hoạt động sản xuất và bắt đầu quá trình định hình lại chuỗi cung ứng để giảm bớt tổn thất của việc xuất khẩu hạn chế ở Trung Quốc.
Việt Nam là một trường hợp điển hình. Là một cơ sở sản xuất chính cho hàng may mặc và các công ty sản xuất sản phẩm cấp thấp hơn khác, chiến tranh thương mại đã cho thấy cơ hội cho quốc gia này nỗ lực cải thiện chất lượng sản phẩm sản xuất cấp cao. Việt nam đã là một trung tâm sản xuất quan trọng cho các công ty như Intel, LG và Điện tử Samsung- tạo việc làm cho hơn 100,000 lao động trong nước. Việt Nam đang nổi lên như một nhà sản xuất công nghệ toàn cầu, đặc biệt khi chiến tranh thương mại đã dẫn đến những rủi ro về sự phụ thuộc quá mức đối với sản xuất của Trung Quốc.
Thuế quan của Mỹ đã giúp củng cố vị thế của Việt Nam- số liệu của Trung Quốc cho thấy hàng xuất khẩu từ Trung Quốc sang Việt Nam đã tăng 14% trong giai đoạn 2018- 2019 khi nhiều doanh nghiệp đã di chuyển dây chuyền sản xuất để né thuế quan đối với hàng hóa “Made in China”. Điều này đôi khi đã xảy ra theo những cách bất chính: Nguyên liệu và hàng hóa chảy vào Việt Nam đã được dán nhãn “Made in Vietnam” nhằm né tránh thuế quan cao.
Lợi ích rõ ràng của Đông Nam Á từ chiến tranh thương mại làm giảm mức độ chặt chẽ các lĩnh vực sản xuất của các quốc gia trên được liên kết với chuỗi cung ứng Trung Quốc. Đây là những nước hưởng lợi từ sự thúc đẩy của Trung Quốc để tiến lên cao hơn trong chuỗi giá trị sản xuất. Mặc dù, Đông Nam Á nổi lên là một phương án thay thế khả thi cho sản xuất hàng hóa cấp thấp hơn, khu vực này vẫn phụ thuộc nhiều vào thiết bị và nguyên liệu thô từ Trung Quốc để cung cấp năng lượng cho các lĩnh vực sản xuất. Ví dụ, các nhà máy may mặc Cambodia gần như phụ thuộc hoàn toàn vào vải dệt của Trung Quốc, trong khi các nhà sản xuất điện tử của Việt Nam đang thiếu nhựa, kim loại và các linh kiện khác. Số liệu chính phủ Việt Nam cho thấy thâm hụt thương mại với Trung Quốc là 34 tỷ USD vào năm 2019, tăng 40% từ mức 24 tỷ USD vào năm 2018. Không có nguyên liệu đầu vào từ Trung Quốc, và không có sự tham gia vào chuỗi cung ứng của nước này, các nhà máy Đông Nam Á có rất ít cơ hội tham gia đáp ứng sự gia tăng về nhu cầu từ Mỹ. Các mối quan hệ khu vực, vốn đã căng thẳng bởi các tham vọng lãnh thổ của Trung Quốc tại Biển Đông, thì nay được hình thành dựa trên thực tế rằng không có trung tâm sản xuất Đông Nam Á nào có thể đủ khả năng để cắt giảm đầu vào từ Trung Quốc.
Trong ngắn hạn, ít nhất, sự bùng phát dịch virus corona đã biến mối đe dọa thành hiện thực. Các biện pháp kiểm dịch đã buộc các công nhân nhà máy phải ở nhà trên khắp Trung Quốc, trong khi những hạn chế trong việc di chuyển người và hàng hóa đã dẫn đến việc chậm trễ hoặc tạm dừng sản xuất các nguyên liệu thô và thiết bị có nhu cầu cao tại Đông Nam Á.
Những ảnh hưởng của việc này đang có tác động mạnh thông qua chuỗi cung ứng của khu vực. Một số nhà máy ở Việt Nam và Cambodia đã bị buộc phải đóng cửa, do sự gián đoạn trong nguồn cung ứng từ phía Trung Quốc đã tác động lên khả năng đáp ứng đơn hàng của họ. Sự chậm trễ từ các nhà sản xuất may mặc Việt Nam, phụ thuộc vào nguyên liệu đầu vào dệt may của Trung Quốc, đã dẫn đến việc giao trễ hai tuần lô hàng cho công ty thời trang lớn Uniqlo, Nhật Bản, trong khi ngành may mặc của Cambodia cũng bị ảnh hưởng nặng bởi các vấn đề nguồn cung. Chính phủ Cambodia đã công bố 110,000 công nhân trên 200 nhà máy sẽ có khả năng phải tạm thôi việc vào tháng 3.
Không có kết thúc cụ thể cho chiến tranh thương mại, Đông Nam Á phải đạt được sự cân bằng tốt giữa sự hấp dẫn của các thị trường Mỹ và nhu cầu duy trì các mối quan hệ hàng hóa với nhà cung ứng chính. Sự bùng phát virus corona đang giúp kiểm tra kịch bản trong đó Trung Quốc ngừng cung cấp nguyên liệu thô cho các quốc gia Đông Nam Á- và điều này không mang lại kết quả tốt cho triển vọng sản xuất ở các nước này. Đối với các công ty đa quốc gia xem xét lại chuỗi cung ứng của mình để đối phó với dịch COVID- 19, một chiến lược “Trung Quốc+ 2” có thể đáng cân nhắc, với sự thay thế Trung Quốc và Đông Nam Á.
Nguồn: Brink
Từ khóa: sự phụ thuộc, nguyên liệu, Đông Nam Á, Trung Quốc
Các tin khác
- Công nghệ thực phẩm là lĩnh vực đang nổi lên tại ASEAN - 17/03/2020
- Tác động tiềm ẩn của Brexit ở khu vực Đông Nam Á - 16/03/2020
- Cơ hội để cơ cấu chuỗi giá trị - 16/03/2020
- Nghèo nhưng phát triển hay giàu mà chưa thể phát triển ngay - 16/03/2020
- Hàng Việt Nam có xuất xứ “lèm nhèm” không được chấp nhận trong EVFTA - 16/03/2020






















