JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU
Phân tích - Bình luậnHội nhập kinh tế quốc tếMade in China: Tăng thuế quan có thể dẫn đến xuất khẩu đường vòng để né thuế

Made in China: Tăng thuế quan có thể dẫn đến xuất khẩu đường vòng để né thuế

madeinchina

Chiến tranh thương mại Mỹ-Trung đã tiếp diễn gần 1 năm, nhưng tác dụng của nó trong việc ngăn cản một số hàng hóa có nguồn gốc Trung Quốc tiếp cận thị trường Mỹ lại không lớn như mong đợi. Bài phân tích dưới đây sẽ cho chúng ta thấy được, trong quá khứ, hình thức “xuất khẩu đường vòng” (trade re-routing) đã được sử dụng như thế nào để né các mức thuế chống bán phá giá. Các công ty có thể né thuế bằng cách gửi sản phẩm đến một nước thứ ba, tại đây, hàng hóa sẽ được phát hành lại chứng nhận xuất xứ và sau đó được xuất khẩu đến nước nhận cuối cùng mà không cần chịu thuế.

Chiến tranh thương mại giữa Trung Quốc và Mỹ đã kéo dài gần một năm và gần đây leo thang. Trong nhiều ngành công nghiệp, kim ngạch thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc đã giảm. Cùng lúc đó, thương mại của Mỹ và Trung Quốc với các nước/ khu vực thứ ba lại nhộn nhịp lên. Một vài sản phẩm được xuất khẩu từ nước thứ ba nhưng thực chất có xuất xứ từ Trung Quốc hoặc Mỹ. Ví dụ, trong báo cáo mới đây của Chau và Boudreau đăng trên Bloomberg.com, hai tác giả cho thấy xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ tăng vọt trong năm 2019, trong đó, một số sản phẩm như gỗ dán thực chất có xuất xứ Trung Quốc, nhưng được xuất sang Mỹ dưới nhãn “Made in Vietnam”. Trước đây, hiện tượng né thuế chống bán phá giá đã được nhắc tới trên các mặt báo hoặc các báo cáo điều tra của chính phủ, nhưng các bài báo hay báo cáo đó chỉ điều tra trên một vài sản phẩm hoặc đưa ra được rất ít bằng chứng. Trong nghiên cứu dưới đây, hai tác giả Xuepeng Liu và Huimin Shi đã cung cấp một phân tích thống kê có hệ thống hơn về các hành vi “xuất khẩu đường vòng” của các công ty Trung Quốc nhằm né tránh thuế chống bán phá giá của Mỹ.

picture18072019-02

Hình 1: tác động của các biện pháp bảo hộ thương mại tạm thời lên dòng chảy thương mại

Trước đó đã có các nghiên cứu về tác động của các biện pháp bảo hộ thương mại tạm thời, như thuế chống bán phá giá và thuế đối kháng, lên dòng chảy thương mại. Hình 1 minh họa các tác động của thuế chống bán phá giá lên dòng chảy thương mại. Khi nước A áp thuế chống bán phá giá lên hàng hóa từ nước B, tác động đầu tiên là “phá hủy thương mại” – nghĩa là nhập khẩu của nước A từ nước B đối với hàng hóa bị đánh thuế sẽ giảm. Nghiên cứu của Prusa (2001) và các nghiên cứu khác đã chỉ ra, các cuộc điều tra chống bán phá giá của Mỹ khiến cho nhà xuất khẩu của các nước giảm xuất khẩu vào Mỹ. Nghiên cứu của Lu et al. (2013) xác nhận, thuế chống bán phá giá của Mỹ đánh lên Trung Quốc có tác động làm giảm xuất khẩu. Tác động thứ hai là tác động chuyển hướng thương mại (trade diversion effect) – nghĩa là – nước A tăng nhập khẩu từ nước thứ ba C thay vì nhập khẩu từ nước B. Các nghiên cứu khác của Konings et al. (2001), Durling và Prusa (2006), và Romalis (2007) đã nghiên cứu về tác động này, với kết quả chưa rõ ràng. Tác động thứ ba của các biện pháp bảo hộ thương mại tạm thời là làm tăng xuất khẩu từ nước B đến một số nước thứ ba C, hay còn gọi là tác động chệch hướng thương mại (trade deflection effect). Bằng chứng về tác động chuyển hướng thương mại cũng còn chưa thống nhất. Nghiên cứu của Bown and Crowley (2006, 2007) xác nhận có sự chuyển hướng thương mại khi Mỹ đánh thuế chống bán phá giá Nhật Bản. Còn nghiên cứu của Durling và Prusa (2006) cho ra bằng chứng yếu hơn. Tuy nhiên, nghiên cứu của Bown và Crowley (2010) cho thấy có bằng chứng mang tính hệ thống về việc chuyển hướng thương mại của hàng xuất khẩu Trung Quốc trước khi gia nhập WTO.

Trong bài nghiên cứu này, hai tác giả Xuepeng Liu và Huimin đã cùng xem xét cả hai tác động: tác động chệch hướng thương mại với tác động chuyển hướng thương mại. Kết quả cho thấy xuất khẩu của Trung Quốc đã đi đường vòng qua các nước/khu vực thứ ba để né thuế của Mỹ trong suốt giai đoạn 2002-2006. Cách né thuế này, thông qua việc đổi tàu hoặc dịch vụ tái xuất, thực ra đã được các công ty trung gian quảng cáo công khai. Ví dụ, một trong các công ty này còn mô tả chi tiết quá trình đi vòng né thuế trên website của họ như sau: “(1) chúng tôi có thể xuất khẩu hàng hóa (made in China) đến nước khác/khu vực khác (ví dụ Malaysia) với chi phí thấp; (2) chúng tôi sẽ hoàn tất thủ tục thông quan vào Malaysia, vận chuyển đến kho hàng của chúng tôi, sau đó dỡ hàng và chất lên một container mới; và (3) chúng tôi sẽ tìm một nhà máy tại địa phương để cung cấp tất cả hồ sơ chứng nhận xuất xứ (C/O) từ Malaysia và sau đó xuất khẩu đến nơi đến cuối cùng theo yêu cầu của nhà xuất khẩu”.

Lấy vụ việc cụ thể US-AD-1013 làm ví dụ. Theo hình 2, xuất khẩu đường xa-ca-rin và các hợp chất của nó từ Trung Quốc lục địa đến Mỹ đã giảm mạnh sau khi bị đánh thuế bán phá giá. Cùng lúc đó, xuất khẩu những sản phẩm này từ Trung Quốc lục địa đến Hàn Quốc và Đài Loan tăng, và nhập khẩu những sản phẩm này của Mỹ từ Hàn Quốc và Đài Loan cũng tăng. Ở các sản phẩm tương tự khác nhưng không chịu thuế chống bán phá giá của Mỹ, không xuất hiện hiện tượng này.

picture18072019

Hình 2: xuất khẩu đường vòng qua Hàn Quốc và Đài Loan: vụ việc US-AD-1013

Dò tìm gian lận bằng số liệu

Né thuế bằng cách xuất khẩu đường vòng đã từng được điều tra bởi các cơ quan hải quan và giới truyền thông. Nghiên cứu của Nita và Zanardi (2013) đã xem xét toàn diện các hồ sơ điều tra chống gian lận thương mại của châu Âu trên thực tế. Nghiên cứu là nỗ lực đầu tiên để dò tìm hiện tượng né thuế do bị áp thuế chống bán phá giá ở nhiều hàng hóa. Nghiên cứu đã sử dụng phương pháp phân tích khác biệt kép, sử dụng số liệu xuất khẩu hàng tháng của Trung Quốc, số liệu nhập khẩu hàng tháng của Mỹ, và số liệu từ Cơ sở dữ liệu chống bán phá giá toàn cầu từ năm 2002 đến năm 2006 (Bown, 2010). Các loại hàng hóa nghiên cứu gồm cả hàng hóa bị áp thuế chống bán phá giá và các hàng hóa tương tự nhưng không bị áp thuế.

Nghiên cứu tìm thấy mối tương quan dương giữa xuất khẩu của Trung Quốc đến một nước thứ ba (chệch hướng thương mại) và nhập khẩu của Mỹ từ cùng nước thứ ba đó (chuyển hướng thương mại) đối với các hàng hóa bị Mỹ áp thuế chống bán phá giá. Trong khi đó, không có mối tương quan tương tự tại các sản phẩm không bị áp thuế. Lưu ý là chuyển hướng thương mại và chệch hướng thương mại có thể tồn tại thậm chí khi không có hiện tượng xuất khẩu đường vòng. Tuy nhiên, như đã giải thích chi tiết, các nước thứ ba liên quan đến hiện tượng chệch hướng thương mại và các nước liên quan đến chuyển hướng thương mại thường là 2 nhóm nước khác nhau. Một mình chệch hướng thương mại hay chuyển hướng thương mại không thể giải thích một mối liên hệ dương chặt chẽ giữa xuất khẩu của một nước thứ ba đến Mỹ và nhập khẩu từ cùng nước thứ ba đó từ Trung Quốc – hiện tượng trên có thể được giải thích tốt hơn bởi xuất khẩu đường vòng.

Trong nghiên cứu của Xuepeng Liu và Huimin Shi, hai tác giả đã đào sâu hơn để cho thấy bằng chứng rằng xuất khẩu đường vòng thì dễ thấy ở các nước và ở các sản phẩm có đặc điểm là có thể dễ dàng né thuế do chi phí vận tải thấp và chi phí thông đồng thấp. Hai tác giả đã tìm thấy bằng chứng cho thấy, hiện tượng xuất khẩu đường vòng thì mạnh hơn ở các nước/khu vực thứ ba có vị trí địa lý gần gũi với Trung Quốc và Mỹ, và ở các nước có dân số gốc Trung Quốc tương đối lớn vì nhóm đối tượng này có thể tiếp tay cho các công ty xuất khẩu từ Trung Quốc móc nối với các công ty ở nước thứ ba để có được chứng nhận xuất xứ (C/O) của nước đó. Nghiên cứu cũng cho thấy, ‘các hàng hóa ít có sự phân biệt’ thì có khả năng xuất khẩu đường vòng để né thuế cao hơn, bởi vì thường khó để xác định nguồn gốc sản xuất thực sự của các hàng hóa này, vì vậy, khả năng các hàng hóa này bị kiểm tra là thấp.

Các nguyên nhân khác dẫn đến xuất khẩu đường vòng và độ tin cậy

Bất kỳ chính sách thương mại ưu đãi nào cũng có thể kéo theo hiện tượng xuất khẩu đường vòng. Ví dụ, trong những năm cuối cùng của Hiệp định đa sợi (2001-2005), Mỹ áp hạn ngạch lên dệt may Trung Quốc, nhưng lại cho phép dệt may của châu Phi tiếp cận miễn thuế và không hạn ngạch, thông qua Đạo luật Cơ hội và Tăng trưởng châu Phi (AGOA). Nghiên cứu của Rotunno et al. (2013) cho thấy, xuất khẩu của châu Phi vào Mỹ trong giai đoạn đó tăng nhanh nhưng sớm tàn, có thể được giải thích một phần bởi các công ty có gốc Trung Quốc sử dụng châu Phi như bệ phóng để xuất khẩu mà không phải chịu hạn ngạch.

Tương tự, bởi vì một hiệp định thương mại tự do (FTA) sẽ ưu đãi các nước thành viên hơn các nước không phải thành viên, vì vậy, các nước bên ngoài khối sẽ có động cơ xuất khẩu đường vòng thông qua các nước thành viên FTA để hưởng mức thuế ưu đãi. Sử dụng dữ liệu kim ngạch thương mại theo sản phẩm giữa Canada và Mỹ, nghiên cứu của Stoyanov (2012) đã cho thấy bằng chứng về né thuế và vi phạm quy định về xuất xứ diễn ra dưới FTA Canada-Mỹ. Nghiên cứu của Xuepeng Liu và Huimin Shi cho thấy mối tương quan dương giữa nhập khẩu của một nước thứ ba từ Trung Quốc và xuất khẩu của nước đó đến Mỹ không chỉ bị tác động bởi các ưu đãi thương mại trong các FTA.

Kết quả nghiên cứu có độ tin cậy cao, bất kể sử dụng số liệu kim ngạch thương mại hay khối lượng thương mại. Hai tác giả cũng thử xem xét các biện pháp chống bán phá giá khác xảy ra cùng một thời gian nhằm vào Trung Quốc hay các nước khác, và thay đổi nhóm các sản phẩm không bị đánh thuế bán phá giá. Kết quả đều củng cố thêm cho giả thuyết né thuế ban đầu.

Các phân tích tương tự có thể được tiến hành trong tương lai để nghiên cứu về hiện tượng xuất khẩu đường vòng trong suốt thời gian diễn ra cuộc chiến Mỹ-Trung hiện nay, lúc đó, dữ liệu nghiên cứu sẽ rộng hơn vì có thêm các dữ kiện gần nhất. Ngoài ra, các công ty xuất khẩu ở cả Trung Quốc và Mỹ đều có thể né thuế, vì vậy, cũng nên tiến hành nghiên cứu tương tự với hành vi né thuế của các nhà xuất khẩu Mỹ.

Lưu ý cuối: ý nghĩa về mặt phúc lợi

Như nghiên cứu của Leitzel (2003) chỉ ra, “hành vi tránh thuế về cơ bản là thể hiện một loại thử nghiệm, một hình thức sắp xếp xã hội mới”. Mặc dù hành vi tránh thuế có thể là bất hợp pháp, thực chất không dễ để đánh giá các tác động của hành vi trên đến phúc lợi xã hội. Nếu các biện pháp bảo hộ thương mại được dựng lên vì những lí do chính đáng, khi đó, hành vi né thuế sẽ làm giảm phúc lợi. Nếu các biện pháp bảo hộ thương mại, như thuế chống bán phá giá hay các đòn đánh thuế trong chiến tranh thương mại, không hợp lý về mặt kinh tế, khi đó, hành vi né thuế có thể giúp cải thiện phúc lợi bằng cách giảm thiệt hại phúc lợi do chiến tranh thương mại hay các biện pháp bảo hộ tạm thời khác gây ra.

Nguồn: Euroasia Review

Từ khóa: made in China, tăng, thuế quan, dẫn đến, xuất khẩu đường vòng, né thuế

Chuyên mục RCEP

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Phân tích - Bình luận

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Thư viện hội nhập

thu vien


phong ve thuong mai

Video

Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field

Liên kết

 

Lượt truy cập

008755164
Go to top