
Trong nhiều năm qua, mạng lưới cung cấp điện của Việt Nam luôn chịu những áp lực to lớn, và áp lực này vẫn cứ lớn dần. Tại một hội nghị vào tháng 4/2019 về chủ đề năng lượng tái tạo tại thành phố Hồ Chí Minh, các chuyên gia ghi nhận rằng mức tiêu thụ năng lượng hằng năm tại Việt Nam đã tăng lên 10% trong những năm gần đây, và nước ta có nguy cơ phải đối mặt với tình trạng thiếu hụt điện trong những năm 2020. Có nhiều yếu tố góp phần gây ra tình trạng này mà một nghiên cứu của Đại học Harvard năm 2018 gọi đó là, “khủng hoảng từ sự thành công”.
Nguyên nhân chính đó là sự thiếu hiệu quả trong việc sử dụng các nguồn năng lượng và cơ sở hạ tầng. Theo thời gian, sự thiếu hiệu quả này làm trầm trọng hóa những yếu điểm mà Việt Nam đang gặp phải khi tham gia Hiệp định tự do thương mại Liên minh châu Âu – Việt Nam (EVFTA) và Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP). May mắn là những thách thức đó có thể giảm bớt nếu Việt Nam thay đổi môi trường pháp lý và áp dụng mô hình hoạt động mới dựa trên nền tảng thương mại toàn cầu. Quá trình chuyển đổi có thể sẽ gặp nhiều sóng gió, nhưng đó là điều cần thiết để Việt Nam đạt được khả năng phát triển mạnh mẽ và bền vững, và đáp ứng được các nhu cầu trong tương lai.
Năng lượng tái tạo dưới Hiệp định EVFTA và CPTPP
Cả hai hiệp định CPTPP (Chương 20) và EVFTA (Chương 13) đều yêu cầu các bên phải giảm thiểu tác động gây hại đến môi trường của các hoạt động thương mại, và cùng kết hợp thực hiện những hiệp ước khác về môi trường mà các bên đã ký kết. Vì Việt Nam đã tham gia vào cả hiệp định EVFTA và CPTPP, cũng như ký kết Hiệp định Paris về biến đổi khí hậu năm 2015, Việt Nam buộc phải cắt giảm các nhà máy nhiệt điện than truyền thống và thay thế bằng các nguồn năng lượng sạch hơn và có thể tái tạo. Đặc biệt, cả hai hiệp định EVFTA và CPTPP đều đề cập tới năng lượng tái tạo như là một lựa chọn thay thế được ưu tiên, và tất cả các bên đều đồng ý thúc đẩy nền thương mại theo định hướng này.
Việt Nam đã đạt nhiều tiến bộ trong việc cải thiện tình hình tiêu thụ năng lượng thông qua Kế hoạch Tổng thể Phát triển Năng lượng cho giai đoạn 2011- 2020 với Tầm nhìn cho năm 2030 (gọi tắc là KHTT lần 7). Ví dụ, KHTT lần 7 đặt ra mục tiêu gia tăng nguồn cung năng lượng mặt trời từ mức không đáng kể lên 0.5% vào năm 2020 và 3.3% vào năm 2030, tăng công suất năng lượng lên 850MW vào năm 2020, và 12GW vào năm 2030. Tuy nhiên, KHTT lần 7 tập trung vào khai thác nguồn điện từ than đá, trái ngược với những gì mà hiệp định EVFTA và CPTPP đang kêu gọi. Một lý do cho cách tiếp cận này chính là vì các nhà máy nhiệt điện than đã có sẵn, và có giá thành rẻ hơn – điều không thể cưỡng lại được – và đây cũng là lý do tại sao Viêt Nam không áp đặt thuế quan cho các mặt hàng than đá nhập khẩu từ Hoa Kỳ, nhưng lại áp mức thuế 20% lên mặt hàng khí tự nhiên đang khai thác trên chính vùng biển của Việt Nam (khí tự nhiên được xem là một nguồn năng lượng thay thế sạch hơn). KHTT lần 7 cũng đặt ra mục tiêu kết nối mạng lưới điện quốc gia trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam vào năm 2030. Đó là một mục tiêu to lớn, nhưng có thể thực hiện được. Cơ hội cao nhất để hoàn thành mục tiêu cho năm 2030 chính là tái cấu trúc môi trường pháp lý để thúc đẩy và khai thác các nguồn năng lượng tái tạo. KHTT lần 8 sẽ là bước phát triển tiếp theo của chiến lược năng lượng của Việt Nam (dự kiến ban hành vào cuối năm 2019) và – cùng với tư duy hội nhập toàn cầu – Việt Nam nên thành lập một ban tư vấn với sự kết hợp giữa các đại diện phân khúc tư nhân và nhà nước, để đảm bảo rằng những cơ hội và yêu cầu trong vấn đề năng lượng tái tạo từ hai hiệp định CPTPP và EVFTA được tận dụng và thực thi đầy đủ.
Trong bối cảnh đó, làm cách nào để hiệp định EVFTA và CPTPP giúp Việt Nam đạt được khả năng phát triển năng lượng bền vững? Khung pháp lý của Việt Nam luôn là mối lo ngại của phân khúc tư nhân. Quy trình cấp phép, phân bổ rủi ro, trở ngại trong sử dụng đất, tài chính, và bảo hộ đầu tư là những nguyên nhân chính dẫn tới sự trật bánh của các dự án trong quá khứ. Môi trường pháp lý chính là trở ngại lớn nhất đối với việc khai thác và sử dụng năng lượng tái tạo. Tuy nhiên, năng lượng mặt trời có thể mang tới nhiều hứa hẹn nhất định.
Năng lượng mặt trời
Năng lượng mặt trời (theo như KHTT lần 7) sẽ là nguồn cung năng lượng tái tạo lớn thứ 2 của Việt Nam vào năm 2030 – ước tính chiếm 3.3%. Con số này có thể sẽ tăng lên khi kết hợp với một kế hoạch tái tạo mạnh mẽ hơn trong KHTT lần 8. Hiện tại, các trang trại khai thác năng lượng mặt trời đang ngày càng trở nên phổ biến ở khu vực miền nam Việt Nam, và phần lớn các trang trại này được xây dựng bởi nhà đầu tư nước ngoài. Có nhiều nhà đầu tư lớn đang trong giai đoạn chờ phê duyệt, đang xây dựng, hoặc đã hoàn tất đầu tư tại Việt Nam.
Trong số các nhà đầu tư này có các công ty như: German ASEAN Power, B.Grimm Power Public, Trina Solar, Schletter Group, và JA Solar. 25 trang trại năng lượng mặt trời đã ký kết các thỏa thuận mua bán năng lượng (PPA) với EVN, chưa kể tới 221 dự án đang chờ được phê duyệt, với tổng công suất tiềm năng lên đến 13,000MW. Tờ Reuters dự đoán rằng ngành điện của Việt Nam sẽ trở nên lớn mạnh hơn cả Anh quốc vào giữa những năm 2020.
Tác động của hiệp định EVFTA và CPTPP lên lĩnh vực năng lượng mặt trời
Cho đến hiện tại, động lực dẫn đến sự gia tăng đầu tư nước ngoài vào ngành năng lượng chính là nhờ vào hiệp định CPTPP (chủ yếu là từ Nhật Bản và Hàn Quốc); tuy nhiên, với việc hiệp định EVFTA vừa được ký kết gần đây, ngành năng lượng có thể sẽ được đầu tư và mở rộng hơn nữa, bởi vì theo hiệp định này, các nhà đầu tư không còn bị giới hạn về sở hữu nước ngoài. Hơn nữa, Hiệp định Bảo hộ Đầu tư Việt Nam – Liên minh châu Âu (EVIPA) mang lại các biện pháp bảo vệ cụ thể cho các nhà đầu tư trong vấn đề chuyển nhượng vốn dựa trên khả năng chuyển đổi ngoại hối, cũng như giải quyết tranh chấp dựa vào các quy tắc trọng tài quốc tế. Đây là những điểm gây tranh cãi đối với các nhà đầu tư EU trong quá khứ. Ở quy mô lớn hơn, Việt Nam, EU, và các nước tham gia CPTPP đều được hưởng lợi vì việc cắt giảm thuế quan đối với máy móc và phần cứng dùng để sản xuất các thiết bị năng lượng mặt trời sẽ giúp cho việc phát triển lĩnh vực này trở nên đỡ tốn kém hơn. Các dự án đầu tư quy mô lớn sẽ dễ dàng xuất hiện trong tương lai gần, và sẽ là động lực chính của nền kinh tế, sau 5 năm khi Việt Nam xóa bỏ các rào cản pháp lý nội địa theo yêu cầu của hiệp định EVFTA. Các dịch vụ hỗ trợ kỹ thuật từ EU để thúc đẩy cơ sở hạ tầng khai thác năng lượng tái tạo cũng sẽ tăng mạnh, khi Việt Nam nới lỏng quy định cho lĩnh vực này, xúc tiến hợp tác và trao đổi kinh nghiệm kĩ thuật chuyên môn. Những dịch vụ này là một phần quan trọng trong việc nâng cấp và nâng cao công suất mạng lưới điện của Việt Nam, nhằm tối đa hóa việc tích hợp năng lượng tái tạo vào mạng lưới điện Việt Nam.
Việt Nam đã có những tiến bộ trong việc thay đổi khung pháp lý về khai thác năng lượng tái tạo ở khu vực tư nhân. Một ví dụ mới nhất là sự thay đổi trong các quy định của giá bán điện năng (FIT) để kết nối với lưới điện quốc gia EVN. Cho đến ngày 30/6/2019, giá bán điện năng cố định ở mức 0.0935USD/kWh bất kể quy mô hay phạm vi dự án. Giá FIT thấp cùng với giá thành đầu tư cao của các loại công nghệ mới đã luôn là điểm gây tranh cãi đối với các nhà đầu tư tư nhân. Kể từ ngày 1/7/2019, hệ thống FIT đã được làm mới và chia theo từng loại dự án năng lượng mặt trời và từng vùng chiếu xạ.
Đề án khu vực sẽ được xác định bởi mức độ chiếu xạ hằng năm và được chia thành 4 khu vực riêng. Khu vực với mức độ chiếu xạ cao sẽ có mức giá FIT thấp, còn các khu vực vùng sâu có mức độ chiếu xạ thấp sẽ có mức FIT cao. Đây có thể xem là phản hồi trực tiếp từ chính phủ dành cho những mối lo lắng từ các nhà đầu tư tư nhân.
Điện mặt trời trên mái nhà (ít hơn 1 MWp)
Kế hoạch FIT cũng được áp dụng cho việc khai thác năng lượng mặt trời trên mái nhà ở quy mô nhỏ hơn. Theo như công ty Điện lực Việt Nam (EVN) cho biết, có 1800 khách hàng, bao gồm văn phòng, doanh nghiệp và hộ gia đình, đang lắp đặt hệ thống năng lượng mặt trời trên mái nhà với tổng công suất là 30.12 MWp. Ở thành phố Hồ Chí Minh, EVN đã lắp đặt hệ thống năng lượng mặt trời trên mái nhà với tổng công suất là gần 1130 kWp và hiện đang tiếp tục triển khai các hệ thống khác. Tổng giám đốc EVN cho biết con số này còn thấp hơn rất nhiều so với tiềm năng của Việt Nam, và nguyên nhân trực tiếp là do thiếu quy định cụ thể về hoạt động thu mua điện khi các hộ gia đình kết nối hệ thống năng lượng mặt trời của họ với mạng lưới điện quốc gia. Giá FIT cố định trước đây cũng được áp dụng cho hệ thống năng lượng mặt trời trên mái nhà tạo ra công suất ít hơn 1 MWp, nhưng quy định cách thức thanh toán rất phức tạp, không xác minh rõ ai sẽ được trả tiền, và trả vào khi nào. Ở hiện tại, những hệ thống năng lượng mặt trời trên mái nhà tạo ra công suất ít hơn 1 MWp và mới được xây dựng hoặc lắp đặt từ ngày 1/7/2019 trở đi sẽ có 2 lựa chọn: 1 là tự đàm phán giá thành giữa người mua và người bán (miễn là dự án không liên quan tới mạng lưới điện quốc gia EVN) và 2 là chấp nhận đề án FIT dành cho khu vực mà nó sẽ được đặt và kết nối với mạng lưới điện EVN.
Đây là một sự thay đổi và tiến bộ lớn đối với thị trường năng lượng mặt trời. Thỏa thuận mua điện trực tiếp (DPPA/PPA) cho phép các cá nhân hoặc tổ chức lắp đặt các dự án năng lượng mặt trời trên mái nhà và tự kí kết hợp đồng mua/bán với các cá nhân hoặc tổ chức khác mà không cần kết nối với mạng lưới điện quốc gia EVN. Bất kì năng lượng dư thừa nào cũng có thể bán cho EVN ở mức FIT được định sẵn cho từng khu vực. Điều này sẽ giúp giảm áp lực cho mạng lưới điện EVN nhờ vào các nguồn năng lượng thay thế.
Phân khúc năng lượng mặt trời trên mái nhà sẽ là một phần quan trọng trong giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng ở Việt Nam. Với việc các nước thành viên hiệp định EVFTA và CPTPP ủng hộ cắt giảm và xóa bỏ thuế quan đối với phần cứng và các sản phẩm khác để thúc đẩy lĩnh vực khai thác năng lượng mặt trời trên mái nhà, cùng với quá trình cải cách khung pháp lý, việc hệ thống điện mặt trời xuất hiện trên mái nhà của từng hộ dân và công ty tại Việt Nam chỉ còn là vấn đề thời gian.
Tổng kết
Việt Nam đang phải vật lộn để duy trì và phát triển cơ sở hạ tầng năng lượng điện một cách hiệu quả. Môi trường pháp lý từ lâu đã là một trong những trở ngại đối với các nhà đầu tư tư nhân trong việc phát triển cơ sở hạ tầng. Mặc dù lĩnh vực này vẫn tồn tại những bất ổn nhất định, cả khu vực tư nhân và khu vực công sẽ mang lại những đóng góp to lớn cho cộng đồng nếu có được một giải pháp phát triển phù hợp. Việt Nam đã đạt được những tiến bộ đáng chú ý trên phương diện pháp lý, chẳng hạn như KHTT lần 7 và việc chỉnh sửa FIT và DPPA. Hi vọng rằng trong khoảng cuối năm 2019 và từ năm 2020, Việt Nam sẽ có nhiều sáng kiến hơn nữa. Hiệp định CPTPP và EVFTA đã, đang (và sẽ) là một nhân tố quan trọng trong mục tiêu phát triển cơ sở hạ tầng của Việt Nam. Bằng cách tận dụng những thỏa thuận này, cùng với những đóng góp từ phân khúc tư nhân, Việt Nam sẽ có thể khai thác tiềm năng to lớn của hệ thống điện lực và năng lượng một cách hiệu quả - đặc biệt là đối với năng lượng tái tạo.
Nguồn: Mondaq
Từ khóa: CPTPP, EVFTA, điện lực, điện mặt trời, hội nhập kinh tế
Các tin khác
- Tác động của Brexit "cứng" đối với các nền kinh tế lớn - 17/07/2019
- Từ thương chiến Mỹ - Trung đến EVFTA: Doanh nghiệp Việt Nam tận dụng cơ hội như thế nào? - 17/07/2019
- EVFTA là một bước đi trong chiến thuật "hướng ngoại" của EU - 16/07/2019
- Cách Trung Quốc có thể hưởng lợi từ ‘chiến tranh thương mại’ giữa Nhật Bản và Hàn Quốc - 16/07/2019
- EVFTA và kỳ vọng của doanh nghiệp - 16/07/2019






















