JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU
Phân tích - Bình luậnHội nhập kinh tế quốc tếCách mạng công nghiệp 4.0 của Việt Nam: Cơ hội và thách thức

Cách mạng công nghiệp 4.0 của Việt Nam: Cơ hội và thách thức

4.0.4.9.2018

Việt Nam đang nỗ lực “đi tắt” để thu hẹp khoảng cách với các quốc gia khác trong ASEAN bằng cách tận dụng công nghệ cao thúc đẩy kinh tế phát triển. Để bắt kịp các nước, Việt Nam đang xây dựng kế hoạch hành động ăn theo cách mạng công nghiệp 4.0 để thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước rót vốn vào lĩnh vực công nghệ.

Tại Diễn đàn cấp cao và Triển lãm quốc tế về Công nghiệp 4.0 diễn ra vào tháng 7/2018, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã phát biểu, chính phủ Việt Nam cam kết sẽ tạo ra một môi trường ưu đãi để các tổ chức quốc tế vào hợp tác nghiên cứu và chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp Việt Nam.

Thủ tướng đã chỉ đạo Bộ Kế hoạch và Đầu tư hoàn tất ‘chiến lược quốc gia Cách mạng công nghiệp 4.0’, và chỉ đạo bộ Khoa học và Công nghệ xây dựng ‘Báo cáo Khoa học công nghệ và Đổi mới sáng tạo Việt Nam 2035’. Thủ tướng cũng nhấn mạnh, phát triển sản xuất và kinh doanh phải song hành với nền kinh tế số.

Kế hoạch của Việt Nam cho cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 (CMCN 4.0)

Việt Nam đang xây dựng chiến lược khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo, để đến năm 2035, Việt Nam sẽ ứng dụng khoa học công nghệ trên tất cả các ngành và lĩnh vực. Việt Nam cũng đang khai thác các lợi ích tiềm năng từ Internet vạn vật (IoT).

Việt Nam có một lực lượng lao động trẻ, thích nghi rất nhanh với công nghệ mới. Chính phủ cũng đang khuyến khích sử dụng Trí tuệ Nhân tạo (AI) để xây dựng một Việt Nam thịnh vượng. Sáng kiến ứng dụng AI sẽ được triển khai toàn diện trên mọi mặt, và sẽ trở thành một mô hình kiêu mẫu cho các quốc gia khác noi theo.

Tháng 4/2018, thủ tướng đã cử một đại diện của Bộ Kế hoạch và Đầu tư đến Mỹ để gặp gỡ Viện Michael Dukakis và tham dự Diễn đàn Toàn cầu Boston (BGF) nhằm tìm kiếm sự giúp đỡ của bạn bè quốc tế trong việc xây dựng chiến lược kinh tế trí tuệ nhân tạo cho Việt Nam.

Trình độ tay nghề của lao động Việt Nam ngày càng tăng, điều này đã tạo lực bẩy quan trọng để phát triển ngành công nghệ. Theo số liệu từ bộ Công nghệ Thông tin, xuất khẩu phần mềm của Việt Nam năm 2017 đạt 2.5 tỷ USD. Cũng trong năm 2017, vốn đầu tư vào các startups của Việt Nam đạt 291 triệu USD, tăng 42% so với năm 2016.

Khai thác Dữ liệu lớn và Công nghệ cao

Tập đoàn tư nhân lớn nhất Việt Nam, Vingroup, gần đây thông báo sẽ đầu tư cho trí tuệ nhân tạo, phát triển phần mềm và dữ liệu lớn. Tập đoàn cũng có kế hoạch xây dựng một khu công nghệ cao để tập hợp các công ty khởi nghiệp và nhà phát triển phần mềm, đồng thời, Vingroup cũng dự định thành lập 2 viện nghiên cứu để phát triển Dữ liệu lớn và các ứng dụng công nghệ cao. Vingroup tin tưởng có thể đưa ngành công nghiệp công nghệ cao của Việt Nam bắt kịp trình độ của thế giới.

Năm 2012, Chính phủ phê duyệt “chiến lược phát triển khoa học và công nghệ giai đoạn 2011-2020”. Chiến lược này nhấn mạnh, khoa học và công nghệ nắm giữ vai trò quan trọng và quyết định trong đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, cũng như đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa. Mục tiêu của sáng kiến này là, đến năm 2020, sản phẩm công nghệ cao và sản phẩm ứng dụng công nghệ cao đạt khoảng 45% GDP.

Năm ngoái, Việt Nam phát động “Kế hoạch hành động quốc gia thực hiện Chương trình nghị sự 2030 vì sự phát triển bền vững”. Kế hoạch này một lần nữa lặp lại quan điểm của chính phủ Việt Nam: Khoa học và công nghệ là nền tảng, là động lực cho phát triển bền vững đất nước. Kế hoạch nhấn mạnh, công nghệ môi trường, công nghệ sạch, công nghệ năng lượng mới là yếu tố then chốt cho sự phát triển bền vững của đất nước.

Thách thức hiện nay

Mặc dù đã có một chiến lược bài bản để phát triển khoa học công nghệ và khát vọng khai thác lợi ích từ cách mạng công nghiệp 4.0, Việt Nam vẫn còn phải đối mặt với nhiều thách thức.

Về nguồn lực con người, mặc dù Việt Nam đã đào tạo được một đội ngũ các nhà khoa học và kỹ sư chất lượng cao, tuy nhiên, đội ngũ này vẫn còn hạn chế về số lượng. Các viện nghiên cứu và các trường đại học của Việt Nam vẫn còn thua các nước ASEAN khác trên các bảng xếp hạng. Đội ngũ khoa học và kỹ sư của Việt Nam thường giỏi về các lĩnh vực như toán hay khoa học máy tính, trong khi các lĩnh vực này không cần nhiều vốn để đầu tư phòng thí nghiệm.

Các viện nghiên cứu ở Việt Nam có xu hướng tiến hành nghiên cứu độc lập, rất ít hợp tác hoặc thậm chí là không hợp tác với các viện khác trong nước. Ngoài ra, các giảng viên đại học của Việt Nam cũng thường không có kinh nghiệm thực tiễn phong phú trong ngành mình giảng dạy.

Về mặt quản lý, Việt Nam thiếu chính sách định hướng cho ngành khoa học công nghệ. Lấy ví dụ, sinh viên tốt nghiệp ngành khoa học máy tính không đủ để đáp ứng nhu cầu trong các lĩnh vực công nghệ cao như Phân tích dữ liệu, IoT hay AI, trong khi Việt Nam lại thừa kỹ sư/nhà khoa học trong các lĩnh vực khác.

Sự mất cân đối cung và cầu việc làm có thể khiến các sinh viên trẻ phải học thêm một lĩnh vực khác bên cạnh chuyên ngành kỹ thuật của mình. Việc chuyển giao công nghệ giữa nhà nghiên cứu và nhà đầu tư cũng còn yếu và rất cần có cơ chế để thắt chặt mốt liên hệ giữa hai nhóm đối tượng này.

Công nghiệp 4.0 của Việt Nam trong tương lai

Việt Nam cần một tầm nhìn rõ ràng cho Cách mạng Công nghệ 4.0 của mình, và xây dựng một chiến lược để thực thi và hiện thực hóa tầm nhìn đó. Minh bạch là điều hết sức cần thiết. Khi Việt Nam nhận ra tầm quan trọng của Công nghiệp 4.0, Việt Nam phải đem lại sức sống mới do giáo dục và đào tạo, phối hợp với phát triển doanh nghiệp. Việt Nam cũng nên tập trung nhiều vào lực kéo của thị trường hơn là lực đẩy của công nghệ.

Ngoài ra, Việt Nam phải cung cấp đủ nguồn lực và tài chính để đầu tư các cơ sở nghiên cứu và tạo ra một môi trường khuyến khích đổi mới sáng tạo. Điều này đồng nghĩa với việc phải nâng cao mức độ linh hoạt trong nghiên cứu, quyền tự chủ và minh bạch trong phát triển nghề nghiệp.

Thêm vào đó, Việt Nam nên nhờ đến sự giúp đỡ của giới học thuật quốc tế và các tổ chức đa phương để chuyển giao các tri thức tiến bộ cho các viện nghiên cứu trong nước.

Việt Nam có thể tìm kiếm sự hỗ trợ từ các cơ quan đa phương như Ngân hàng thế giới (WB), Ngân hàng phát triển châu Á (ADB), Liên hiệp quốc (UN), liên minh châu Âu (EU) cũng như các tập đoàn đa quốc gia, trong đó nên bao gồm sự hỗ trợ về mặt tài chính, để tạo dựng một môi trường kinh doanh khuyến khích khởi nghiệp công nghệ cao. Một môi trường kinh doanh như vậy không chỉ có tác dụng thúc đẩy ngành công nghệ cao ở Việt Nam, mà còn giúp nâng cao năng lực cạnh tranh cho nền kinh tế Việt Nam trong ASEAN.

Nguồn: RSIS

Từ khóa: Cách mạng công nghiệp 4.0, Việt Nam, thách thức, cơ hội

Chuyên mục RCEP

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Phân tích - Bình luận

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Thư viện hội nhập

thu vien


phong ve thuong mai

Video

Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field

Liên kết

 

Lượt truy cập

008756053
Go to top