
Tác giả: Richard Baldwin - Giáo sư Kinh tế Quốc tế, Viện Graduate, Geneva
Vào tháng trước, Klaus Schwab - nhà sáng lập và là chủ tịch điều hành Diễn đàn Kinh tế Thế giới - đã nói “Toàn cầu hóa 4.0 chỉ vừa mới bắt đầu, vậy màchúng ta đã đuổi theo không kịp”, khi ông thông báo về chủ đề của Davos năm 2019 là "Toàn cầu hóa 4.0".
Xét về khía cạnh thuật ngữ, chắc chắn tên gọi “Toàn cầu hóa 4.0” là ăn theo cụm từ “Công nghiệp 4.0” (xu hướng số hóa trong hoạt động sản xuất). Nhưng thật ra, thuật ngữ “Toàn cầu hóa 4.0” đã được sử dụng từ trước. Cụm từ này đã khiến các chuyên gia nghiên cứu về kinh tế quốc tế phải suy ngẫm 2 vấn đề:
- Tên gọi mới có đi kèm với nội dung mới?
- Nếu chúng ta đang bước vào giai đoạn toàn cầu hóa 4.0, vậy 3 giai đoạn trước đó là gì? Có khác biệt gì so với toàn cầu hóa 4.0?
Tôi tin rằng, toàn cầu hóa trong tương lai sẽ rất khác so với toàn cầu hóa trong hiện tại cũng nhưtrong quá khứ. Hơn nữa, tiến trình này đang đến nhanh một cách đáng kinh ngạc và theo những cách mà con người không đoán nổi.
Thực ra, tôi tin rằng chủ đề này đủ hấp dẫn để được viết thành sách, và kỳ lạ thay, toàn cầu hóa 4.0 vừa đúng lúc sẽ trở thành chủ đề cho cuộc họp Davos vào tháng 1 năm 2019 sắp tới.
Và tiếp theo đây, tôi xin tóm lại các lập luận của mình dưới góc độ kinh tế học. Kinh doanh chênh lệch giá (arbitrage) là hoạt động dẫn đến toàn cầu hóa. Bất cứ khi nào có sự chênh lệch giá bán giữa các nước, con người có thể kiếm lời bằng cách kinh doanh chênh lệch giá - mua đi bán lại, mua thấp bán cao. Khi kinh doanh chênh lệch giá diễn ra trong mua bán hàng hóa, hoạt động này gọi là thương mại. Trong hàng thế kỷ qua, các hạn chế về mặt công nghệ khiến cho hoạt động arbitrage hầu hết diễn ra trong thương mại hàng hóa. Toàn cầu hóa thời điểm đó hầu như chỉ bao gồm hoạt dộngthương mại hàng hóa giữa nước này với nước khác.
Vào khoảng thập niên 1990, công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) đã cho phép một dạng arbitrage khác: đặt nhà máy tại nước ngoài. Công nghệ lắp ráp đã cho phép các doanh nghiệp trong nhóm nước G7 chuyển một vài công đoạn sản xuất sang các nước đang phát triển lân cận, trong khi vẫn giữ cho toàn bộ quy trình sản xuất vận hành trơn tru và đáng tin cậy. Chênh lệch đáng kể trong mức lương làm cho vị trí đặt nhà máy đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra lợi nhuận chênh lệch.
Cơ hội arbitrage lớn nhất thuộc về tiền lương trong ngành dịch vụ. Trong cùng một đầu việc, sự khác biệt trong mức lương giữa các nước lên đến 10 lần, tạo ra một cơ hội arbitrage đầy hấp dẫn. Nhưng cho đến hiện nay, chỉ có một số ít công ty có thể làm được việc đó do các rào cản kỹ thuật. Vấn đề cơ bản xuất phát từ một thực tế nền tảng trong ngành, đó là hầu hết các ngành dịch vụ đòi hỏi phải có sự tương tác mặt-đối-mặt. Hạn chế về công nghệ đã khiến cho chi phí để xóa bỏ rào cản rất cao, đến mức không chấp nhận được. Mãi cho đến gần đây, sự phát triển của công nghệ số đang làm thay đổi dần thực tế trên. Công nghệ số - còn gọi là digitech - đang phá bỏ rào cản cho hoạt động arbitrage lương trong ngành dịch vụ.
Digitech đang giúp con người dễ dàng ngồi ở một nước này để làm việc cho một công ty ở quốc gia khác. Trong quyển sách tôi sắp xuất bản trong năm 2019, “Cuộc nổi dậy globotics: toàn cầu hoá, công nghệ robot và tương lai của việc làm”, tôi gọi digitech là “telemigration”, nhưng đó thật ra chỉ là hoạt động làm việc qua mạng, và đã xuất hiện rất phổ biến trong một số lĩnh vực, như phát triển web.
Hình thức toàn cầu hoá mới này – hay còn gọi là hoạt động arbitrage lương mới – đang được hậu thuẫn bởi các nền tảng tìm việc quốc tế như upwork.com, bởi các công nghệ viễn thông tiên tiến, và bởi công cụ dịch thuật AI.
Nếu nhìn rộng ra trong toàn bộ bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế, telemigration là “đột phá thứ ba” (Third Unbundling). Đột phá đầu tiên là trong thương mại hàng hóa, khi chi phí vận chuyển hàng hóa giảm mạnh trong những năm 1800s. Đột phá thứ hai là khi công nghệ ICT giúp xóa bỏ các khoảng cách về địa lí. Và toàn cầu hóa đang bước vào “đột phá thứ ba”: khoảng cách địa lý của lao động và các dịch vụ lao động sẽ được xóa bỏ, thông qua digitech, giúp cho “lao động từ xa” dường như ít “xa” hơn. Điều này dẫn đến một câu hỏi khác – làm thế nào mà chúng ta đến được giai đoạn Toàn cầu hóa 4.0, nếu chỉ có 3 đột phá trên?
Toàn cầu hóa lần thứ nhất, thứ hai và thứ ba là gì?
Trong bài viết đầu tiên về toàn cầu hóa, tôi đã xem giai đoạn toàn cầu hóa dựa-trên-thương-mại-hàng-hóa bao gồm hai thời kỳ riêng biệt. Vào năm 1999, Philippe Martin và tôi đã viết bài nghiên cứu “Hai làn sóng của toàn cầu hóa: Tương đồng bên ngoài, khác biệt bên trong”. Nếu chúng ta khai quật lại sự khác biệt này, rất tự nhiên, chúng ta sẽ thấy được ba giai đoạn đầu tiên của toàn cầu hóa.
Toàn cầu hóa 1.0 là giai đoạn trước Thế chiến thứ nhất, bắt đầu từ đợt sụt giảm lịch sử trong chi phí trao đổi hàng hóa, nhờ vào sự ra đời của đầu máy hơi nước và các năng lượng cơ khí khác đã làm cho người tiêu dùng tiết kiệm được chi tiêu khi tiêu thụ hàng hóa sản xuất ở một nơi xa xôi khác. Giai đoạn toàn cầu hóa lần thứ nhất đã diễn ra mà hầu như không có sự hỗ trợ từ chính phủ. Lúc này, chưa có hệ thống quản trị toàn cầu, trừ phi chúng ta xem Hải quân Anh tương tự như Liên hiệp Quốc, Ngân hàng Anh tương tư như IMF, và lập trường thương mại tự do của Anh giống như WTO. Và cũng có rất ít chính sách nội địa để chia đều lợi ích và tác hại của toàn cầu hóa.
Toàn cầu hóa khi đó giúp thổi phồng túi tiền của các cá nhân và công ty có lợi thế cạnh tranh cao nhất trong một nước, nhưng lại rút sạch túi tiền của các cá nhân và doanh nghiệp có lợi thế cạnh tranh thấp nhất. Toàn cầu hóa 1.0 còn diễn ra trong bối cảnh các hệ thống kinh tế trên thế giới bất tuân luật lệ (như chủ nghĩa tư bản laissez-faire, chủ nghĩa độc tài và các dạng chuyên quyền khác). Kết hợp hai điều kiện trên, toàn cầu hóa 1.0 đã không thể đưa đến điều tốt đẹp. Hai cuộc thế chiến, cuộc đại suy thoái, sự trỗi dậy của chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa phát xít, dẫn đến cái chết của hàng trăm triệu người.
Cuối cùng, giải pháp đã được tìm ra. Bên phe tư bản chủ nghĩa, Mỹ đã cho ra đời Chính sách kinh tế Mới (new deal), còn các nước giàu khác thì theo đuổi nền dân chủ xã hội thị trường. Còn chủ nghĩa cộng sản cũng đã dịu lại thành một phiên bản ôn hòa hơn, mềm mỏng hơn. Cộng hai sự thay đổi trên, chúng ta có thể xem đây là một giai đoạn khác của toàn cầu hóa – gọi là Toàn cầu hóa 2.0.
Toàn cầu hóa 2.0 là giai đoạn sau thế chiến thứ II, khi thương mại hàng hóa kết hợp với các chính sách nội địa đầy đủ, giúp chia đều ích lợi và chi phí của toàn cầu hóa (và tự động hóa) trong xã hội. Thị trường chịu trách nhiệm đảm bảo tính hiệu quả; chính phủ chịu trách nhiệm đảm bảo sự công bằng. Trên bình diện quốc tế, toàn cầu hóa 2.0 chứng kiến sự ra đời của các tổ chức quốc tế dựa trên quy tắc, đặc biệt là UN, IMF, World Bank, GATT/WTO và nhiều cơ quan chuyên môn khác như FAO, và ILO.
Toàn cầu hóa 3.0 là giai đoạn “đột phá thứ hai”, hay còn gọi là Toàn cầu hóa Mới. Arvind Subramanian gọi đó là siêu toàn cầu hóa (hyperglobalization), Gary Gereffi gọi đó là cuộc cách mạng chuỗi giá trị toàn cầu, và Alan Blinder gọi đó là thuê ngoài lao động (offshoring). Tóm lại, toàn cầu hóa lúc này có nghĩa là chuyển nhà máy và cả bí quyết ra nước ngoài (chủ yếu diễn ra ở các nước G7). Toàn cầu hóa 3.0 tạo ra một thời kỳ mới cho ngành sản xuất, khi mà công nghệ cao được kết hợp với mức lương thấp. Sự kết hợp mới này đã tác động nặng nề đến đời sống và cộng đồng các công nhân đang vật lộn để cạnh tranh với mức lương cao và công nghệ cao, cũng như những ai đang đấu tranh để cạnh tranh với mức lương thấp và công nghệ thấp. Người lao động trong các khu vực sản xuất hàng hóa là đối tượng chịu ảnh hưởng nặng nề nhất, bởi vì toàn cầu hóa 3.0 chủ yếu ảnh hưởng đến khu vực sản xuất. Đặc biệt, tính độc quyền mà các công nhân tại các nước G7 có được nhờ vào công nghệ sản xuất hiện đại của nhóm G7 đã bị phá vỡ, khi các ông chủ của họ đã di chuyển việc làm và bí quyết công nghệ ra nước ngoài.
Cuộc nổi dậy Globotics
Toàn cầu hóa 4.0 là “đột phá thứ ba”. Giai đoạn toàn cầu hóa này xảy ra khi công nghệ số cho phép kiếm lời từ chênh lệch mức lương ở các nước, mà không yêu cầu người lao động phải di chuyển thực chất. Trong khi toàn cầu hóa 1.0, 2.0, và 3.0 chủ yếu tác động đến lao động trong khu vực sản xuất, toàn cầu hóa 4.0 sẽ tác động đến khu vực dịch vụ. Hàng trăm triệu lao động trong khu vực dịch vụ và lao động chuyên gia ở các nền kinh tế phát triển sẽ lần đầu tiên phải đối mặt với những thách thức và cơ hội mà toàn cầu hóa đem lại.
Ngành dịch vụ cũng đang bất an vì công nghệ tự động hóa AI sẽ thay thế rất nhiều việc làm. Nếu lực lượng cổ cồn xanh bị ảnh hưởng bởi Toàn cầu hóa 3.0 chung tay với lực lượng cổ cồn trắng sắp bị tác động bởi Toàn cầu hóa 4.0, chúng ta có thể sẽ có một cuộc nổi dậy – mà tôi gọi là “Cuộc nổi dậy globotics (globotics là từ kết hợp giữa globalsization và robotics)”. Nếu theo dõi báo chí những ngày gần đây, có thể thấy cuộc nổi dậy này đã diễn ra, điển hình như phong trào gilet jaune (Áo vàng) - một phong trào tự phát ở Pháp để phản đối quyết định tăng thuế xăng dầu của chính phủ Pháp.
Mỗi một chuyển đổi to lớn sẽ tạo ra những thắng lợi lớn cho ai có thể nắm bắt cơ hội, và tạo ra bi kịch cho những ai không thể. Toàn cầu hóa của tương lai sẽ mang chúng ta đến một thế giới tốt đẹp hơn nếu chúng ta có sự chuẩn bị kỹ và nếu chính phủ quan tâm không để cho tiến trình này xảy ra quá nhanh. Các đợt thay đổi kinh tế đột ngột trong quá khứ đã dẫn các cuộc nổi dậy đột ngột trong xã hội. Chính phủ các nước cần phải giúp người dân thích nghi, và – nếu tiến trình này diễn ra quá nhanh – họ phải cần làm chậm nó lại.
Nguồn: WEF
Từ khóa: Toàn cầu hóa 4.0, kỹ thuật số, nổi dậy
Các tin khác
- Toàn cầu hóa là gì? Tại sao lại là vấn đề quan trọng trong năm 2019 - 27/12/2018
- Hiện thức hóa các thành phố thông minh ở các nước ASEAN - 26/12/2018
- Hiệp định thương mại Xuyên Thái Bình Dương chứa đựng tiềm năng khổng lồ cho Canada - 26/12/2018
- Thủy sản Việt Nam: Vẫn bỏ ngỏ công tác bảo hộ sở hữu trí tuệ - 25/12/2018
- Vai trò Chủ tịch ASEAN 2020: Trách nhiệm và cơ hội của Việt Nam - 25/12/2018






















