
Tác giả: David Henig
Cựu Trợ lý Giám đốc Phòng Thương mại Quốc tế Vương quốc Anh cho biết, một thỏa thuận với Mỹ sẽ chỉ giúp Anh quốc tăng trưởng 0,1% GDP.
Brexit rõ ràng đã đem lại sự hưng phấn cho một bộ phận người dân Anh quốc xung quanh ý tưởng về các Hiệp định Tự do Thương mại, vì sự kiện này đem lại “cơ hội đàm phán những thỏa thuận mới có lợi”, là “chất xúc tác mở ra một giai đoạn mới cho tiến trình tự do hóa lĩnh vực dịch vụ”, hay “đây là lần đầu tiên trong hơn 40 năm, Anh quốc sẽ có cơ hội được tự quyết định mình sẽ làm thương mại với ai và với những điều kiện gì” - như ngài Liam Fox đã nhận định. Dĩ nhiên, ý tưởng này đang trở thành một phần trọng tâm của Brexit.
Tuy nhiên, với những chuyên gia thương mại lâu năm, sự hưng phấn này là có phần hơi khó hiểu.
Không phải là vì chúng tôi không thích Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) hay nghĩ là không đáng bỏ ra chi phí để ký kết các FTA. Nếu một nước muốn tạo ra những điều kiện để tăng trưởng kinh doanh, thì một trong số các giải pháp là phải thiết lập các quy tắc để có thể tiến hành giao thương quốc tế, với các rào cản được cắt giảm càng nhiều càng tốt. Tổ chức Thương mại Thế giới chỉ thiết lập các quy tắc ở mức cơ bản, và các nước có thể đạt được nhiều hơn thông qua các hiệp định song phương. Các FTA có thể giúp tạo ra một sự khác biệt cho hoạt động kinh doanh, bất kể là nhờ vào cắt giảm thuế quan, cho phép các công ty dịch vụ được hoạt động ở những thị trường nước ngoài, xóa bỏ các quy định không công bằng, hay tinh giản các quy trình thông quan.
Tuy nhiên, các Hiệp định Tự do Thương mại không phải là nhân tố chính làm thay đổi cả nền kinh tế, cũng như không dễ để ký kết nhanh chóng. Liên minh Châu Âu đã đàm phán một FTA với khối các quốc gia “Mercosur” Nam Mỹ từ năm 1999. Người ta luôn đồn rằng quá trình đàm phán hiệp định này sẽ sớm đạt được một sự đột phá. Nhưng rồi ta cứ nghe lại điệp khúc này từ năm này qua năm kia. Anh quốc có thể sẽ làm việc nhanh hơn EU, nhưng vẫn rất khó để quá trình từ lúc bắt đầu đàm phán cho đến khi một hiệp định được thực thi chỉ diễn ra trong vòng 3 năm. Đồng thời, các FTA thực chất cũng chỉ góp phần tăng trưởng từ 0,05% đến 3% GDP. Đây là một điều tốt, nhưng nó không thể làm thay đổi cả quốc gia chỉ trong một đêm.
Có hai lý do khiến cho các FTA không phải là một nhân tố quyết định quan trọng, và cũng không thể dễ dàng được thiết lập. Thứ nhất là do phần lớn nội dung trong các FTA thường phải hướng đến giải quyết hàng loạt những rào cản nhỏ, vì vậy, chắc chắn sẽ mất nhiều thời gian để đàm phán, và có thể sẽ không thực sự hiệu quả về mặt kinh tế (nhưng lại hữu ích cho các doanh nghiệp). Thứ hai là, khi một nước muốn xóa bỏ những rào cản ở nước đối tác, các đối tác cũng muốn xóa bỏ những rào cản trên thị trường nội địa, và có thể sẽ gây khó cho nền kinh tế trong nước.
Hãy cùng bàn một chút về thuế quan. Nhiều năm trước, thuế quan cao là lý do chính để phải ký kết những hiệp định thương mại. May mắn thay, ngày nay đã không còn hiện tượng đó nữa (mặt dù Tổng thống Donald Trump đang khiến chúng ta khá lo ngại điều đó sẽ quay lại). Luôn có một vài mức thuế được áp cao hơn so với mức trung bình. Ví dụ, Australia áp mức thuế trung bình 2,7% đối với những mặt hàng phi nông nghiệp, còn ở EU và Anh quốc hiện tại là 4,2%, và thuế quan thường sẽ cao hơn đối với các sản phẩm nông nghiệp (11,1% tại EU) và cũng khó để gỡ bỏ hơn, vì người nông dân cần những mức thuế bảo hộ ấy để tránh khỏi sự cạnh tranh của nước ngoài. Trên bình diện chung, xóa bỏ thuế quan sẽ dẫn đến tăng trưởng kinh tế. Nhưng trong trường hợp của Anh quốc, một hiệp định thương mại với Mỹ có thể sẽ làm tăng chưa tới 0,1% GDP.
Còn về lĩnh vực dịch vụ, liệu các thỏa thuận thương mại trong tương lai của Anh quốc sẽ mang lại hi vọng to lớn? Trong lĩnh vực này, các rào cản thường tồn tại dưới dạng những biện pháp đối xử phân biệt với các nhà cung ứng nước ngoài, bao gồm việc hoàn toàn không cho phép họ kinh doanh trên thị trường nội địa. Những lệnh hạn chế này thường dựa trên các quy định nội địa, và khó để đàm phán gỡ bỏ các quy định này. Một trong những ví dụ nổi bật nhất là Đạo luật Jones lâu đời của Mỹ, nhằm hạn chế tàu thuyền quốc tịch nước ngoài thực hiện dịch vụ vận chuyển nội địa đi từ một cảng của Mỹ đến một cảng khác của Mỹ. Mặc dù quy định này khiến nước Mỹ phải trả thêm phí dịch vụ, nhưng khả năng rào cản này sớm được gỡ bỏ là hết sức vô vọng. Nhiều rào cản dịch vụ khác của Mỹ còn tồn tại dưới dạng những quy định riêng của từng Bang, và chúng thường không được đề cập trong các hiệp định thương mại.
Anh quốc cũng có những rào cản của riêng mình, và cũng rất khó để gỡ bỏ chúng. Các quốc gia khác cho rằng, quy định hạn chế xin thị thực của Anh là một rào cản đối với thương mại, và muốn vấn đề này được giải quyết thông qua các hiệp định thương mại. Đây sẽ là khó khăn đối với Anh quốc, nhưng nếu họ muốn được các nước khác nhượng bộ, họ cũng phải nhượng bộ với các nước khác.
Ngoài thuế quan và dịch vụ, các cuộc đàm phán cũng là cơ hội để Anh quốc thống nhất hệ thống quy định với các nước khác. Tuy nhiên, một lần nữa, điều này đòi hỏi những cuộc thảo luận chuyên sâu. Sự thừa nhận lẫn nhau đối với các loại hàng hóa hay hệ thống đánh giá của những nước khác không phải là điều đơn giản, và đòi hỏi một độ tín nhiệm to lớn, vì những lý do an toàn hiển nhiên. Tương tự, các bên thường phải làm việc thật kỹ lưỡng để đảm bảo rằng những quy tắc và quy định ấy sẽ giúp thuận lợi hóa thay vì cản trợ hoạt động thương mại trong những lĩnh vực như sở hữu trí tuệ, thông quan, và mua sắm chính phủ.
Tất cả những điều này không có nghĩa là Brexit không mang lại những cơ hội. Có nhiều thứ mà chính phủ có thể làm thông qua chính sách thương mại để hỗ trợ doanh nghiệp, giúp mở đường cho hoạt động xuất khẩu, và đảm bảo rằng hàng nhập khẩu vào Anh chỉ bị cản trở ở một mức tối thiểu. Không phải mọi vấn đề nêu trên đều cần đến các FTA mới có thể được giải quyết. Dĩ nhiên, mặc dù Anh quốc có thể chỉ đàm phán những hiệp định toàn diện với một vài quốc gia trong từng thời điểm, nhưng họ không thể lờ đi những bất cập trong kinh doanh với những quốc gia còn lại. Anh quốc cần một chương trình đàm phán toàn cầu, một chính sách đối ngoại, và làm việc kỹ lưỡng với các cơ quan quản lý tiêu chuẩn quốc tế.
Các FTA chỉ là một bộ công cụ để chính phủ Anh sử dụng, và không nhất thiết phải là thứ quan trọng nhất. Chúng đòi hỏi nhiều công sức thực hiện, và sẽ không mang lại những kết quả kinh tế quá kinh ngạc. Không nên quá đề cao chúng để rồi gây thất vọng, thay vào đó, Anh quốc cần chuẩn bị và làm việc một cách cẩn thận, nhằm thu được những kết quả tốt nhất cho doanh nghiệp và người tiêu dùng tại Anh.
Nguồn: Prospect Magazine - HN
Từ khóa: Brexit, đàm phán hiệp định tự do thương mại, rào cản phi thuế quan, WTO, hội nhập
Các tin khác
- Châu Á nên làm gì để đối phó với chủ nghĩa bảo hộ của Mỹ? - 06/08/2018
- Dự án nghìn tỷ USD của Trung Quốc đi vào bế tắc - 06/08/2018
- Làm thế nào để Trump có thể giống như Cựu Tổng thống Reagan - 03/08/2018
- Mức thuế của Trump khiến các công ty điện tử chuyển từ Trung Quốc sang Đông Nam Á - 02/08/2018
- Hiệp định thương mại mới giữa Nhật Bản và EU: Hãy cho Hoa Kỳ thấy những Giá trị của Tự do Thương mại - 01/08/2018






















