
Tác giả: Ông Montek Singh Ahluwalia là Cựu Phó Chủ tịch của Ủy ban Kế hoạch
Toàn cầu hóa đang bị phê phán rất mạnh mẽ tại các quốc gia phát triển. Trái với việc được tung hô một cách nhiệt liệt vào 10 năm trước như là cơ chế phát triển mang lại lợi ích cho tất cả bên tham gia, hiện tại, toàn cầu hóa phải hứng chịu nhiều chỉ trích là nguyên nhân dẫn đến suy thoái kinh tế tại nhiều quốc gia công nghiệp hiện đại. Kết quả các cuộc bầu cử gần đây cho thấy giới tinh hoa tại những nước này đang mất dần sự ủng hộ của người dân; Tất nhiên, các hoạt động gắn liền với các nhân vật này cũng không thể tránh khỏi số phận tương tự. Tư tưởng dân túy cực đoan đang thể hiện tính nguy hiểm của mình với việc dành được thiện cảm của quần chúng.
Vậy toàn cầu hóa có tiếp tục tồn tại trong tương lai được không?
Toàn cầu hóa không biến mất tuy nhiên tiến trình này dường như đang phải đối đầu với một đợt khởi động lại. Xu hướng này vốn được đặc trưng bởi sự tự do hơn trong di chuyển nguồn vốn, con người và thương mại. Việc di chuyển nguồn vốn sẽ tiếp tục diễn ra như giai đoạn trước với hai đặc điểm cùng song hành. Một là, những lo ngại đang lan rộng về sự ổn định của hệ thống tài chính toàn cầu. Hai là các định chế tài chính truyền thống như Ngân hàng Thế giới và Ngân hàng phát triển châu Á đang mất đần sự ủng hộ. Việc dịch chuyển xuyên biên giới của thể nhân - một mặt quan trọng của toàn cầu hóa không diễn ra trên thực tế, ngoại trừ các cá nhân có học thức cao. Tự do di chuyển giữa các quốc gia đối với mỗi người trong thời điểm hiện tại còn đang bị giới hạn. Chính quyền Mỹ đang siết chặt việc cấp thị thực H-1B, qua đó ngăn cản dòng người nhập cư Mê-xi-cô cũng như gây khó khăn cho các du học sinh nước ngoài muốn xin thị thực việc làm tại quốc gia này. Tuy nhiên, việc Hoa Kỳ thắt chặt quy định về cấp thị thực không vi phạm bất kỳ hiệp định nào nước này ký hoặc đã tham gia. Brexit là một ví dụ về việc một quốc gia từ bỏ thực hiện Hiệp ước mình đã ký kết để ngăn dòng người nhập cư từ châu Âu lục địa; đây là biểu hiện cho sự phản đối của người Anh đới với dòng người di cư không có gốc gác từ châu Âu từ các nước lục địa già.
Thương mại là lĩnh vực được điều chỉnh nhiều nhất bởi các Hiệp ước; tuy nhiên, vấn đề này lại đang chứng kiến sự kiểm soát mạnh mẽ. Nhiều nước đã áp dụng các biện pháp bảo hộ từ cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008. Tại thời điểm vừa nêu, những hạn chế thương mại xuyên quốc gia chỉ chiếm 3% thương mại toàn cầu; nhiều chuyên gia trong thời gian này cũng cho rằng các biện pháp kiểm soát sẽ được dỡ bỏ khi khủng hoảng qua đi. Tuy vậy, biện pháp bảo hộ lại đang tăng lên, và hiện tại đang chiếm 5% hoạt động thương mại toàn thế giới. Hoa Kỳ, trước kia là quốc gia đi đầu trong ủng hộ tự do thương mại lại đang rút khỏi các Thỏa thuận thương mại mà họ đã ký kết như Hiệp đinh Đối tác xuyên Thái Bình Dương, Hiệp định Thương mại Tự do Bắc Mỹ và Hiệp định Thương mại Tự do với Hàn Quốc. Cam kết của cường quốc số một thế giới đối với các thể chế thương mại xuyên quốc gia cũng đang bị đặt dấu chấm hỏi khi nước này vẫn chưa bổ nhiệm đại sứ tại Tổ chức thương mại thế giới (WTO). Mỹ cũng chưa có quyết định chấp thuận thẩm phán thay thế vị trí đang bị bỏ trống tại Cơ quan giải quyết tranh chấp - một trong các cơ quan quan trọng tại WTO.
Vậy chúng ta nên làm gì vào thời điểm hiện tại?
Làn sóng chống toàn cầu hóa ở các nước Phương Tây không thể làm lu mờ sự thật rằng toàn cầu hóa đã và đang mang lại những điều tốt đẹp cho các quốc gia đang phát triển. Những nước này còn tăng trưởng nhanh hơn các quốc gia công nghiệp hóa, đồng thời tăng phần đóng góp của mình vào tổng sản phẩm quốc nội toàn cầu. Đây chính xác là những gì mà toàn cầu hóa bao trùm đáng ra nên mang lại. Các nước châu Á, đi đầu là Trung Quốc, bao gồm cả Ấn Độ là những chủ thể hưởng lợi nhiều nhất từ toàn cầu hóa. Xu thế này đã giúp giảm tỷ lệ đói nghèo trên toàn cầu, xóa bất bình đẳng giũa các quốc gia ngay cả khi sự phân cực giàu nghèo tại chính những nước này đang tăng lên. Nói cách khác, toàn cầu hóa đã giúp các vùng lãnh thổ, dân tộc trên khắp thế giới kết nối với nhau.
Chúng ta nên thúc đẩy sự ủng hộ cho phiên bản mới của toàn cầu hóa “Toàn cầu hóa 2.0”, nhằm giải quyết các vấn đề của toàn cầu hóa mà không làm mất đi những lợi ích mà nó đã mang lại. Chúng ta khó có khả năng đạt được bước tiến trong vấn đề di cư mặc dù đây là nội dung quan trọng. Tuy nhiên, khả năng đạt được những thay đổi liên quan đến lĩnh vực tài chính và thương mại là khả thi.
Hợp tác toàn cầu về vấn đề tài chính
Một trong những kết quả rõ nét mà toàn cầu hóa mang lại chính là dòng vốn từ khu vực tư nhân dưới hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và đầu tư gián tiếp nước ngoài (FII) ngày càng trở nên quan trọng so với nguồn vốn được cung cấp từ các tổ chức quốc tế như Ngân hàng Thế giới và ADB. Các quốc gia công nghiệp cho rằng với xu hướng này, những nước như Ấn Độ không còn cần Ngân hàng Thế giới/ADB. Điều này là không đúng. Trong thời điểm hiện tại, những tổ chức quốc tế vừa nêu có thể giữ vai trò mới chính là giúp đỡ các nền kinh tế như Ấn Độ đáp ứng nhu cầu về cơ sở hạ tầng khi nước này bắt đầu bước vào nhóm những quốc gia có thu nhập trung bình.
ADB gần đây đã đưa đánh giá rằng Ấn Độ cần 4.4 nghìn tỷ USD để phát triển hạ tầng từ nay đến năm 2030. Với mức đầu tư hàng năm chỉ dừng lại ở con số 120 tỷ USD, nhu cầu vốn cho lĩnh vực cơ sở hạ tầng của Ấn Độ sẽ tăng lên rất lớn trong hơn một thập kỷ tới và trong nhiều năm nữa. Các công trình hạ tầng có thể được triển khai trong trường hợp Ấn Độ thu hút được nguồn đầu tư tư nhân thông qua hình thức Đối tác công tư (PPP). Các nước công nghiệp phát triển thường đưa ra nhận định rằng nguồn vốn tại khu vực tư nhân luôn sẵn sàng để đáp ứng việc xây dựng các dự án hạ tầng cơ bản, với điều kiện các vấn đề về sở hữu đất đai, thủ tục giải phóng mặt bằng và đánh giá tác động môi trường được giải quyết. Những khó khăn vừa nêu luôn là yếu tố quan trọng, bất kể khu vực nhà nước hay khu vực tư nhân tiến hành triển khai các dự án. Khu vực tư nhân còn gặp một khó khăn khác nữa, đó là tìm nguồn tài trợ, khi mà các dự án hạ tầng đều có những rủi ro ai cũng thấy được. Đây là điểm mà các tổ chức tài chính quốc tế có thể giúp đỡ. Những tổ chức này có thể giúp soạn thảo hợp đồng PPP theo các tập quán quốc tế tốt nhất, đồng thời, giới thiệu những cơ chế giải quyết tranh chấp mà có thể có được sự chấp thuận từ khu vực công. Quan trọng nhất, bằng việc tính đến các rủi ro tài chính cho dự án, các tổ chức tài chính quốc tế này có thể trấn an các nhà đầu tư tư nhân rằng dự án PPP họ tham gia sẽ không bị gián đoạn hoặc thay đổi theo hướng gây hại cho họ.
Các bộ trưởng tài chính các nước G20 đã thành lập Nhóm các chuyên gia dưới sự dẫn dắt của Phó Thủ tướng Singapore Tharman Shanmugaratnam nhằm đưa ra những đề xuất về cải cách các thể chế tài chính quốc tế. Chúng ta nên thúc giục nhóm này kiến nghị mở rộng năng lực cho vay của Ngân hàng Thế giới và ADB, qua đó giúp hai thể chế vừa nêu có thể cung cấp nguồn tài chính dài hạn cho các dự án PPP về cơ sở hạ tầng. Vấn đề này sẽ trở nên đặc biệt cấp thiết đối các dự án về hạ tầng thân thiện với môi trường và đối phó với biến đổi khí hậu.
Các vấn đề về chính sách thương mại
Ấn Độ cần giữ nguyên cam kết về duy trì chính sách thương mại mở, đồng thời tránh bị ảnh hưởng bởi xu thế bảo hộ thương mại ngày một gia tăng tại các nước Phương Tây. Rất ít khả năng Ấn Độ sẽ theo xu hướng bảo hộ. Vì Ấn Độ nằm trong khu vực đang chứng kiến tốc độ phát triển cũng như sự gia tăng về thương mại nhanh nhất thế giới và chủ nghĩa bảo hộ không hiện diện tại đây. Mà ngược lại, khu vực này đang chứng kiến quá trình hội nhập mạnh mẽ, thông qua Hiệp định Đối tác toàn diện khu vực (RCEP) đang được đàm phán - một thỏa thuận giữa Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và 6 nước đối tác (Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Trung Quốc, Úc và New Zealand).
Chúng ta thường nhìn nhận các cuộc đàm phán đa phương về thương mại trên nền tảng những quy định của WTO là phương thức tốt nhất để tự do hóa hoạt động này. Điều này là đúng nhưng với sự bế tắc của vòng dàm phán Doha, chúng ta phải nhận thức được rằng tiến triển về tự do hóa thương mại ở cấp độ đa phương khó có thể thành hiện thực. Các quốc gia tham gia đàm phán RCEP đang có cảm giác rõ ràng rằng các nền công nghiệp Ấn Độ đang gây áp lực buộc chính phủ Ấn Độ không thống nhất về các điều khoản trong Hiệp định. Ý nghĩ này nêu cần phải được xóa bỏ.
Ngành công nghiệp của Ấn Độ cần sự đảm bảo rằng các vấn đề họ đang đối mặt phải được giải quyết. Thuế hàng hóa và dịch vụ (GST) được Ấn Độ áp dụng từ ngày 1/7/2017 sẽ tạo ra một sân chơi công bằng hơn so với hệ thống thuế cũ trước đây (Mỗi bang ở Ấn Độ áp dụng một mức thuế riêng). Tuy nhiên, vấn đề về cấu trúc thuế ngược (thuế nhập khẩu cao đối với nguyên liệu sản xuất thay vì hàng hóa thành phẩm) vẫn còn là một thách thức đối với quốc gia Nam Á này. Giảm thuế đánh vào nguyên liệu sản xuất hàng hóa vốn đang rất cao chính là lời giải cho bài toàn. Do thuế nhập khẩu theo quy định của RCEP sẽ được giảm dần theo từng giai đoạn, Ấn Độ vẫn còn thòi gian để đảo chiều hệ thống thuế. Nếu ngành công nghiệp Ấn Độ hiểu rõ mục đích của chính phủ, sự phản đối sẽ giảm đi.
Trong tương lại, toàn cầu hóa phiên bản 2.0 sẽ còn tạo ra các thách thức mới trong hoạt động thương mại. Tại các cuộc đàm phán trong tương lai, các nước công nghiệp phát triển dường như sẽ ít tập trung vào vấn đề giảm thuế, thay vào đó, họ sẽ tập trung nhiều hơn vào việc hài hóa các tiêu chuẩn. Chúng ta thường có suy nghĩ rằng các vấn đề thuộc thẩm quyền điều chỉnh của mỗi quốc gia không nên được đặt lên bàn đàm phán. Bên cạnh đó, các lý thuyết về kinh tế đều cho rằng việc thống nhất các tiêu chuẩn hàng hóa, dịch vụ cho tất cả quốc gia với trình độ phát triển khác nhau là không khả thi. Tuy vậy, sức ép nhằm đưa các cuộc đàm phán phát triển theo chiều hướng này khó có thể bị ngăn trở do mục đích của việc này là để bảo vệ người tiêu dùng. Một số ví dụ về thống nhất tiêu chuẩn hàng hóa, dịch vụ có thể nêu ra như xác định loại chất nhuộm sử dụng trong vải may quần áo hoặc liệt kê các loại chất bảo quản được phép dùng trong thực phẩm.
Các loại tiêu chuẩn có thể trở thành một dạng bảo hộ mới, do các sản phẩm nếu không đáp ứng được yêu cầu về hàng rào chất lượng do các quốc gia phát triển thiết lập thì có thể bị từ chối nhập khẩu vào những thị trường này. Ấn Độ có thể chối từ việc hài hòa hóa các tiêu chuẩn nội địa mà thường để việc đó cho các nhà sản xuất - những người muốn xuất khẩu để đáp ứng yêu cầu cao hơn về tiêu chuẩn sản phẩm. Tuy nhiên, làm vậy sẽ dẫn đến hai vấn đề. Điều đầu tiên là nếu các quốc gia đối thủ tham gia các liên kết thương mại có áp dụng hài hòa hóa các tiêu chuẩn, nhóm nước này có thể áp đặt quy trình kiểm tra nghiêm ngặt hơn đối với các sản phẩm từ những vùng lãnh thổ không tham gia vào liên kết, dẫn đến kết quả là hàng hóa xuất khẩu của Ấn Độ sẽ mất đi sức cạnh tranh. Hai là, nếu Ấn Độ duy trì áp dụng các tiêu chuẩn thấp hơn cho hàng hóa nội địa, các doanh nghiệp muốn xuất khẩu sẽ phải chịu chi phí cao hơn, do họ bị bất lợi hơn tại thị trường nội địa, vì các công ty cạnh tranh trong nước không phải chịu loại chi phí này. RCEP hiện tại vẫn chưa có cuộc thảo luận nào về tiêu chuẩn hàng hóa, dịch vụ (ít nhất là cho đến thời điểm này), do vậy, nếu hoặc khi vấn đề về tiêu chuẩn sản phẩm được đưa ra bàn thảo, Ấn Độ nên đồng ý hơn là phản đối.
Sự chuyển hướng quan trọng nhất trong toàn cầu hóa 2.0 chính là vai trò của chính sách công nghiệp. Các quốc gia xuất khẩu thành công trong quá khứ gồm Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc đã không đi theo lối mòn về cắt giảm thuế và chờ đợi sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp thúc đẩy sự phát triển của thị trường. Những nước này đang chủ động hơn trong việc ban hành các chính sách về thúc đẩy công nghiệp; đây chính là kinh nghiệm mà Ấn Độ có thể học hỏi từ họ. Chính phủ cần cung cấp cơ sở hạ tầng và tạo môi trường chính sách thân thiện; đồng thời tạo ra những lợi ích khác nhiều hơn thế nữa. Có thể nói chính sách phát triển công nghiệp chính là chọn ra những doanh nghiệp có tiềm năng phát triển, cung cấp cho họ những ưu đãi và trợ cấp đặc biệt. Ấn Độ là một quốc gia có truyền thống dân chủ nhưng đang phải đối mặt với rất nhiều ngờ vực về sự lan tràn của chủ nghĩa tư bản thân hữu trong bộ máy quyền lực của đất nước, thì vẫn không chắc được rằng, Ấn Độ có thể thực hiện chính sách đó hay không. Dù vậy, còn nhiều điều khác Ấn Độ có thể làm tốt hơn trong thế giới toàn cầu hóa phiên bản 2.0.
Ông Montek Singh Ahluwalia là Cựu Phó Chủ tịch của Ủy ban Kế hoạch
Nguồn: Live Mint
Từ khóa: RCEP, Ấn Độ, toàn cầu hóa 2.0, thuế
Các tin khác
- Nhật Bản hy vọng cứu được TPP trước hội nghị APEC - 02/11/2017
- EU sẽ đưa các tiêu chuẩn về lao động và môi trường lên bàn đàm phán tự do thương mại - 01/11/2017
- Tham vọng toàn cầu của Trung Quốc có thể chia rẽ kinh tế thế giới - 01/11/2017
- Hàng ngàn người ký thư ngỏ trình đến Thủ tướng Ardern về TPPA11 - 01/11/2017
- Châu Á chuẩn bị cho chuyến viếng thăm của Trump - 01/11/2017






















