Năm nay lẽ ra phải là năm của Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP). Đây là một trong ba hiệp định thương mại thế hệ mới đầu tiên trên thế giới, được thiết kế để thiết lập quan hệ hợp tác giữa Mỹ, các nước thành viên NAFTA với những nền kinh tế trọng điểm ở khu vực Châu Á, Úc, và những quốc gia mới nổi ở Nam Mỹ. Tổng thống Mỹ Donald Trump đã đập nát hi vọng hợp tác đó bằng quyết định rút khỏi TPP vào đầu năm 2017.
Quyết định rút lui của Trump đã gây khó khăn cho những đối tác thương mại chưa ký được Hiệp định Thương mại Ưu đãi (PTA) song phương với Mỹ. Quyết định này không chỉ gây trở ngại cho những nền kinh tế lớn như Nhật Bản, mà thậm chí còn gây khó khăn nhiều hơn với các quốc gia nhỏ như Brunei hay New Zealand. Hiện tại, các quốc gia này sẽ không được hưởng ưu đãi khi tiếp cận thị trường Mỹ, kể cả khi một TPP không có Mỹ được ký kết.
Đối với những quốc gia nhỏ, khả năng tiếp cận những thị trường hàng đầu thế giới là rất quan trọng. Họ sẽ gặp khó khăn trong việc tiếp cận những loại hàng hóa và dịch vụ cần thiết cho tiến trình phát triển và đổi mới nền kinh tế. Và bởi vì họ là những quốc gia nhỏ, các nhà sản xuất và cung ứng nội địa luôn cần phải tiềm kiếm những thị trường tiêu dùng mới, nằm ngoài biên giới quốc gia, để mở rộng quy mô kinh doanh.
Dữ liệu của Ngân hàng Thế giới từ 2016 cho thấy, khi xét trên mặt bằng chung, tỷ trọng kim ngạch thương mại trong GDP ở những quốc gia nhỏ là khá cao: 103% so với tỷ lệ 84% của khu vực Châu Âu. Đối với những quốc gia này, sức tiêu thụ nội địa không được xem là nền tảng cho sự tăng trưởng kinh tế, như ở Mỹ, Châu Âu hay Trung Quốc.
Luôn mở cửa thị trường
Đây là lý do tại sao, có một nhóm các quốc gia nhỏ ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương luôn coi trọng việc mở cửa thị trường. Từ những năm 1980 và 1990, họ đã phát triển những chính sách năng động, chủ động dỡ bỏ các rào cản thương mại, và theo đuổi các Hiệp định Thương mại Ưu đãi. Nổi bất nhất trong xu hướng này có thể kể đến các quốc gia như Chile, Singapore và New Zealand.
Singapore đã thu lợi rất nhiều từ vị trí địa lý trọng tâm của họ ở khu vực Đông Nam Á – khu vực gồm các nền kinh tế và các trung tâm sản xuất đang trong giai đoạn tăng trưởng. Singapore đã biến mình thành cầu nối giữa các khu vực, thông qua hệ thống cảng biển, các ngành dịch vụ, tư cách thành viên trong Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và những Hiệp định Thương mại Ưu đãi với 31 đối tác nước ngoài.
Chile thì định vị bản thân như một “cửa ngõ của khu vực Mỹ Latin” cho các nước ở Châu Âu, Bắc Mỹ, và hiện nay là cho cả những doanh nghiệp Châu Á, thông qua việc phát triển một mạng lưới sâu rộng các PTA. Chile hiện đã thiết lập PTA với 61 quốc gia.
Cả Chile lẫn Singapore đều đã đàm phán các PTA với Mỹ, khối EU và Trung Quốc. Trong khi đó, New Zealand cũng đã có PTA với 16 đối tác, bao gồm Trung Quốc, và sẽ sớm bắt tay vào đàm phán với EU.
Thành công của những quốc gia này trong việc xây dựng các mạng lưới PTA nằm ở cách tiếp cận và khả năng thích ứng linh hoạt đối với những nhu cầu từ phía đối tác. Ví dụ, ban đầu, Chile chỉ đàm phán một hiệp định thương mại về hàng hóa với Trung Quốc – và chỉ đàm phán một hiệp định thương mại về dịch vụ nếu Trung Quốc cho rằng những thỏa thuận thương mại dịch vụ đó là có lợi. Vì thế, các PTAs của Chile rất đa dạng về nội dung điều khoản và phạm vi áp dụng. Đặt điểm này đối lập hoàn toàn với cách Mỹ và khối EU áp dụng PTA. Các quốc gia này thường khăng khăng bắt buộc đối tác phải dùng chung một khuôn mẫu PTA trong nhiều lĩnh vực thương mại khác nhau.
Quy mô kinh tế nhỏ là nhân tố thúc đẩy các quốc gia như Singapore, Chile, New Zealand trở thành người tiên phong trong việc tìm kiếm các PTA với nhiều đối tác mới. Vì có quy mô nhỏ, nên họ không bị các nền kinh tế lớn xem là một mối đe dọa. Điều này khiến cho những thị trường lớn hơn và được bảo hộ nhiều hơn luôn sẵn lòng đàm phán với họ. Singapore chỉ dành dưới 1% diện tích đất đai cho hoạt động nông nghiệp, và do đó, tỷ lệ đóng góp của ngành nông nghiệp vào GDP cũng chỉ dưới 1%. Điều này cũng có nghĩa là, những chủ đề nhạy cảm về nông nghiệp đã được bỏ qua, trên bàn đàm phán với Mỹ, EU hay Trung Quốc. Thậm chí cả New Zealand – một quốc gia thành công trong lĩnh vực xuất khẩu các sản phẩm từ sữa và sản phẩm nông nghiệp – cũng không bị xem là đáng lo ngại. Quốc gia này đã ký được một FTA với Trung Quốc vào năm 2008. Bảy năm sau đó, đến lượt Úc ký một FTA với Trung Quốc – mặc dù có thể thâm nhập sâu hơn vào thị trường nông nghiệp, nhưng Úc vẫn không gây ra thiệt hại nào đáng kể đối với ngành nông nghiệp Trung Quốc.
PTA cho phép những quốc gia nhỏ có thể trao đổi những giá trị độc nhất với các đối tác đàm phán: tạo ra một nền tảng an toàn để học hỏi kinh nghiệm áp dụng PTA, để thực hành và thử nghiệm những phương pháp tiếp cận mới. New Zealand đã tích cực vận dụng những cơ hội này và đã trở thành quốc gia phát triển đầu tiên từng đàm phán một PTA với Trung Quốc và thừa nhận nền kinh tế thị trường của Trung Quốc, và hiện tại, cũng là quốc gia đầu tiên đang tiến hành nâng cấp các thỏa thuận với Trung Quốc.
Giải pháp cho người Anh thời hậu Brexit?
TPP đã từng ra đời lên như một định hướng phát triển cho những quốc gia nhỏ, nhằm vượt qua những giới hạn của thị trường nội địa và tăng cường sức hấp dẫn của họ đến các đối tác. Tiến bộ hạn chế trong tiến trình tự do hóa thương mại của Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC) đã khiến cho Singapore, Chile và New Zealand (về sau có thêm Brunei) chuyển sang đàm phán Hiệp định Hợp tác Kinh tế chiến lược Xuyên Thái Bình Dương (còn được gọi là hiệp định P4) vào năm 2005, với ý định chào đón các nước khác tham gia cùng. Và đến năm 2008, khi Mỹ tuyên bố sẽ tham gia vào hiệp định này, TPP đã ra đời. Khi mà một hiệp định TPP hoàn chỉnh đầu tiên được ký kết vào năm 2016, cứ tưởng như kế hoạch của họ đã thành công.
Mặc dù hiện tại, Mỹ sẽ không tham gia vào TPP, dự án này vẫn một lần nữa thu hút sự quan tâm của các quốc gia trong khu vực, về khả năng tái đàm phán các điều khoản thương mại. Nó cũng làm tăng sức hấp dẫn của những đối tác thương mại nhỏ hơn – có thể lấy những cuộc đàm phán thương mại giữa EU với nhiều quốc gia ở Châu Á và với Úc làm bằng chứng điển hình.
Ngoài ra, trong nhiều thập kỷ qua, các dự án về hiệp định thương mại khu vực của các nước Đông và Đông Nam Á đã hợp nhất lại thành tiến trình đàm phán cho Hiệp định đối tác toàn diện khu vực (RCEP), ra đời vào năm 2012 như một hiệp định đối trọng với TPP. RCEP là một hiệp định thương mại giữa 10 nước thành viên ASEAN với các đối tác PTA của họ, bao gồm: Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Úc và New Zealand.
Vẫn không rõ liệu RCEP có đạt được đồng thuận trong năm nay, nhưng nó đã trở thành dự án cuối cùng còn tồn tại, về một hiệp định thương mại khu vực thế hệ mới, sau thất bại của TPP và TTIP. Chính quyền các quốc gia trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương – những người đã cam kết theo đuổi chính sách tự do thương mại - càng mong muốn tham gia vào dự án này, khi mà TPP đã không còn giá trị.
Những thay đổi về chính sách ở những nền kinh tế lớn sẽ tiếp tục gây ảnh hưởng đến những quốc gia có nền kinh tế nhỏ hơn. Tuy nhiên, các quốc gia nhỏ ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương đã cho thấy họ có thể vận dụng linh hoạt các chiến lược thương mại để giữ vững cũng như tăng cường sức hấp dẫn của họ đến các đối tác.
Sau khi rút khỏi EU, Vương quốc Anh cũng sẽ sớm nhận ra, rằng họ đang tiến vào một thế giới mới, của những FTA và PTA. Họ có thể sao chép những kế hoạch phát triển dựa trên sự tiếp cận linh hoạt và những chính sách độc đáo dành cho các đối tác tiềm năng. Nhưng, liệu họ có thể tự chứng tỏ với các đối tác rằng bản thân không phải là một mối đe dọa về kinh tế lại là một vấn đề hoàn toàn khác.
Nguồn: The Conversation - HN
Từ khóa: PTA, FTA, đàm phán, hiệp định, thương mại, ưu đãi, ASEAN
Các tin khác
- Mổ xẻ về toàn cầu hóa – vấn đề thương mại, nhập cư và đầu tư nước ngoài - 05/10/2017
- Người Nhật Bản rất quan tâm đến TPP và cả NAFTA - 04/10/2017
- Cuộc chiến thương mại giữa Mỹ và Anh sau vụ Bombardier - 04/10/2017
- Mỹ đang yêu sách với WTO - 04/10/2017
- Thỏa thuận thương mại với EU dựa trên các tiêu chuẩn - 04/10/2017






















