Thật nhẹ nhõm khi có một nhà chính trị bàn luận nghiêm túc về kinh tế mà không “đá xoáy” hay cố gắng “ghi điểm”. Quyển sách “Lựa chọn sự mở cửa” của tác giả Andrew Leigh giúp giải thích lý do tại sao các nước nên mở cửa thị trường, trong bối cảnh mà hình tượng toàn cầu hóa đang ngày càng xấu đi.
Andrew Leigh đề cập đến ba loại hình mở cửa, bao gồm mở cửa thương mại, mở cửa nhập cư, và mở cửa đầu tư nước ngoài. Bằng những lập luận đơn giản, rõ ràng và thuyết phục nhất, tác giả đã cho thấy tại sao phải mở cửa thương mại. Và đó cũng là lý lẽ được chấp nhận chung giữa các nhà kinh tế học và các quốc gia ưa chuộng mở cửa thương mại, ít nhất là về mặt nguyên tắc. Leigh cho rằng, có thể vận dụng các lập luận kinh tế trên cho vấn đề mở cửa nhập cư, tuy nhiên, không phải nước nào cũng sẵn sàng mở rộng cửa chào đón tất cả những ai muốn đến. Tương tư, về vấn đề đầu tư nước ngoài, các nghiên cứu kinh tế ủng hộ mạnh mẽ việc mở cửa đầu tư, nhưng trên thực tế, không quốc gia nào hoàn toàn hoan nghênh các khoản đầu tư từ nước ngoài. Tại sao lại có sự khác biệt giữa một bên là thương mại với bên còn lại là vấn đề nhập cư và đầu tư nước ngoài?
Vấn đề thương mại tự do
Chắc hẳn, chúng ta đã nghe nhàm những lập luận ủng hộ mở cửa thương mại, nhưng tôi vẫn cần phải nhắc lại. Thương mại tự do là một trong số ít các vấn đề được phần lớn các nhà kinh tế học đồng thuận, nhưng vẫn không thể nào chiến thắng trên mặt trận dư luận. Từ lâu, các nhà kinh tế học cũng chấp nhận thực tế rằng, không phải tất cả mọi người đều được lợi từ thương mại quốc tế. Nhưng họ vẫn ủng hộ thương mại tự do vì lập luận thuyết phục rằng, những người hưởng lợi sẽ bù đắp cho người thua thiệt, vì vậy, chiếc bánh lợi ích vẫn để phần cho tất cả mọi người. Nhưng trên thực tế, người thua thiệt đã không được bù đắp đầy đủ.
Thực trạng thất nghiệp trong nước tăng do bị cạnh tranh bởi lao động giá rẻ từ nước ngoài không phải là vấn đề mới mẻ: Trước đây, Nhật Bản bằng sự hồi phục kỳ diệu sau chiến tranh, đã đem lại cho thị trường thế giới các hàng hóa chế tạo tinh vi. Nhưng khi Trung Quốc trổi dậy trên diện rộng, trở thành “phân xưởng của thế giới” thì tác động gây ra còn lớn hơn nhiều, đặc biệt sau khi nước này gia nhập WTO vào năm 2001. Cạnh tranh trong chi phí lao động, bản thân nó không thể là nguyên nhân chính gây ra tình trạng mất việc làm trong khu vực sản xuất ở các nước tiên tiến. Kể từ sau thế chiến thứ II, số lượng việc làm ở các nước kinh tế lớn cũng đã bắt đầu giảm xuống, chủ yếu bị ảnh hưởng bởi tiến bộ trong khoa học kỹ thuật. Bất chấp lý do thực sự đằng sau sự sụt giảm việc làm, người ta vẫn không ngừng đổ lỗi cho toàn cầu hóa. Vì rõ ràng rằng, “cú sốc mang tên Trung Quốc” đã tác động to lớn đến một số tập đoàn lớn của Mỹ.
Chúng ta sẽ phải làm gì để giải quyết vấn đề? Mặc dù tình trạng mất việc làm gia tăng, các nước cũng không nên hãm tốc quá trình ứng dụng công nghệ mới, đơn giản vì chúng ta không thể đối phó với những thay đổi “đầy đau đớn” trong thương mại bằng cách kìm hãm sự tăng trưởng. Tuy nhiên, các nước cần phải nghĩ ra biện pháp để xoa dịu tình hình nhức nhối này.
Trong tác phẩm của mình, Leigh đặt ra tình huống phức tạp và đi lí giải tại sao các Hiệp định thương mại đa phương tốt hơn là Hiệp định thương mại song phương. Cuối cùng, những lập luận đơn giản về thương mại vẫn có giá trị vững vàng, đó là: Thương mại nên được mở rộng.
Vấn đề nhập cư
Liệu khái niệm tự do trong thương mại có nên được áp dụng vào vấn đề nhập cư? Ở một mức độ nào đó là nên. Trong phạm vi hẹp, các nhà kinh tế học cho rằng, cũng giống như trong thương mại, các nước nên trao cho con người quyền tự do di chuyển đến các quốc gia cho họ cơ hội tốt nhất để phát triển. Việc đó không chỉ làm lợi cho người nhập cư, mà còn đem lại lợi ích cho quốc gia tiếp nhận, vì hiện tượng nhập cư sẽ cung cấp thêm lực lượng lao động cho thị trường, giúp tạo ra thêm GDP, gia tăng quy mô và đem đến cho xã hội những con người tài năng với các kỹ năng mới. Tự do “chọn nơi sinh sống” bên trong một quốc gia cũng góp phần gia tăng tính hiệu suất, giúp phân phối lao động đến những nơi cần họ, và san bằng chênh lệch trong mức lương. Vậy thì phải chăng cũng nên mở cửa cho cả người nhập cư ngoài nước?
Các tranh cãi chủ yếu tập trung vào khía cạnh: Liệu người nhập cư sẽ làm giảm giá lương và lấy đi việc làm trong nước? Leigh chỉ ra rằng, các bên phản đối nhập cư đã không tìm được các bằng chứng thực tế cho thấy nhập cư có tác động nghiêm trọng lên tổng thể nền kinh tế. Ủy ban Năng suất cũng không thể đưa ra bằng chứng chứng minh, và dường như, tác động nếu có chỉ là rất nhỏ. Nhưng trong tổng số những người nhập cư, đối tượng trẻ và có kỹ năng rõ ràng sẽ có lợi ích kinh tế cho nước tiếp nhận nhiều hơn những người nhập cư vì lý do đoàn tụ gia đình, đặc biệt là người lớn tuổi. Thậm chí cho dù hiện tượng nhập cư không tác động rõ rệt về mặt tổng thể, các nhà nghiên cứu sẽ chuyển sang tìm bằng chứng ở phân khúc cuối trong thị trường lao động – phân khúc lao động phổ thông.
Ngoài khía cạnh như trên, còn có sự khác biệt lớn khác giữa dòng chảy hàng hóa và dòng người nhập cư khiến các nước không thể dễ dàng nhìn nhận mở cửa nhập cư giống như là mở cửa thương mại được. Hàng hóa được lưu thông dựa trên quyết định từ hai phía, của người cung cấp ở nước ngoài và người có nhu cầu ở trong nước. Trong khi vấn đề nhập cư là quyết định đơn phương của người nhập cư, và thông thường, người nhập cư là người hưởng lợi chính trong quá trình đó. Hạ tầng xã hội khác biệt lớn đã làm cho một vài nước trở nên hấp dẫn hơn các nước khác để làm nơi sống và làm việc. Những cách biệt này có xu hướng thu hút những người nhập cư, vì họ mong muốn được hưởng lợi từ khía cạnh an ninh xã hội cho đến các dịch vụ được chính phủ trợ cấp như y tế và giáo dục.
Trong bất kỳ quốc gia nào, vấn đề nhập cư luôn được bàn cãi nhiều hơn vấn đề kinh tế, vì môi trường và xã hội luôn là trung tâm của mọi vấn đề. Một xã hội đáng sống và đầy đủ chức năng sẽ đòi hỏi cư dân của họ phải có độ đồng đều và có các mục đích chung, và xã hội đó sẽ không muốn mục đích lý tưởng của mình bị ảnh hưởng trước làn sóng nhập cư ồ ạt. Nhưng ngược lại, một xã hội không có nhập cư cũng đồng nghĩa là một xã hội kém phát triển. Nói tóm lại, mặc dù có vài một vài đặc điểm chung dễ nhận thấy, nhưng cuối cùng là, các nước không thể áp dụng được lập luận về mở cửa thương mại vào vấn đề nhập cư.
Đối với người bình thường, nạn nhập cư đã là một vấn đề nhạy cảm, thì đối với nhà chính trị, sự nhạy cảm còn gấp đôi. Có thể hiểu được tại sao Leigh nói lướt qua về vấn đề này và đi thẳng vào một ví dụ thực tế, đó là trường hợp của nước Úc: làn sóng nhập cư lớn nhưng có kiểm soát ở nước Úc trong suốt nhiều năm qua chính là một nguồn lợi to lớn cho quốc gia, không chỉ về GDP mà còn giúp nuôi dưỡng nên một xã hội Úc tràn đầy năng lượng.
Vấn đề đầu tư nước ngoài
Vấn đề đầu tư nước ngoài, tương tự, lại có sự pha trộn giữa những điểm tương đồng dễ nhận thấy với các khác biệt ẩn sâu bên trong, so với vấn đề thương mại. Về điểm chung, chúng ta dễ dàng lập luận rằng, tại mỗi quốc gia, nếu cơ hội đầu tư sinh lời nhiều hơn nguồn tiết kiệm trong dân chúng, thì theo tư duy logic thông thường, nền kinh tế đó phải tìm kiếm nguồn tài trợ từ bên ngoài, thông qua hình thức đầu tư hoặc vay mượn. Còn những nhà đầu tư nước ngoài sẽ hưởng lợi từ việc được lựa chọn đầu tư vào quốc gia nào có cơ hội tốt nhất. Vậy là, nếu mở cửa đầu tư, cả hai phía, nhà đầu tư và quốc gia tiếp nhận, đều cùng có lợi.
Nhưng nếu các lập luận về mặt kinh tế được thuyết phục như trong trường hợp thương mại tự do, thì đã không phải liên quan đến yếu tố chính trị. So với thương mại, đầu tư nước ngoài vấp phải các vấn đề khác như: an ninh, thâu tóm bất động sản và đánh thuế đầu tư. Nếu một quốc gia có được một quy trình xét duyệt đầu tư nhất quán và hiệu quả, thì hầu hết những khúc mắc đó đã được giải quyết.
Ngoài ra, còn phải kể đến một rào cản khác (mặc dù có phần mờ nhạt) xuất phát từ ác cảm của người trong nước dành cho người nước ngoài. Người dân trong nước thường cho rằng người nước ngoài sẽ luôn đi ngược lại với lợi ích quốc gia tiếp nhận đầu tư. Leigh lưu ý rằng, hành vi tư lợi và hoạt động kinh doanh chống lại xã hội không phải là đặc trưng vốn có của người nước ngoài. Leigh lập luận, chỉ bởi vì ai đó là công dân nước mình, không có nghĩa là họ sẽ đặt lợi ích chung của đất nước lên trên lợi ích bản thân. Cho dù hộ chiếu của họ màu gì, thì một doanh nghiệp độc quyền trong thị trường chưa được kiểm soát cũng đều là mối nguy cho người tiêu dùng.
Đầu tư nước ngoài còn có một vài vấn đề về mặt “thủ thuật”. Như chúng ta đã biết, dòng vốn nước ngoài (dưới dạng đầu tư trực tiếp, gián tiếp hay vốn vay) về bản chất sẽ không được thuận lợi bằng nguồn vốn trong nước. Vì vậy, các quốc gia nước ngoài có xu hướng dùng khả năng chi phối, gây áp lực lên chính phủ nước tiếp nhận để thay đổi chính sách trong nước theo hướng có lợi cho họ. Dĩ nhiên, các doanh nghiệp trong nước cũng có thể làm việc tương tự, nhưng doanh nghiệp nước ngoài có lợi thế hơn khi dùng các vấn đề nhạy cảm khác làm sức ép, ví dụ như vấn đề ngoại giao. Nhưng nếu dùng lập luận trên để cho rằng, không nên mở cửa đầu tư cũng chưa hợp lý.
Vì các “thủ thuật” chính trị này thường được dùng nhiều trong lĩnh vực thương mại hơn là đầu tư. Giống như Trung Quốc sẽ lạm dụng vai trò là “khách hàng vip” của các nước xuất khẩu để gây sức ép, thay vì dùng sự chi phối của nước này trong vấn đề đầu tư (như các nhà máy, nông trại hay vùng đánh bắt).
Kết luận và các bài học rút ra
Mặc dù vấn đề mở cửa thương mại, nhập cư và đầu tư nước ngoài không giống nhau nếu đào sâu phân tích, nhưng tựu chung lại, kết luận vẫn nghiêng về ủng hộ xu hướng mở cửa càng nhiều càng tốt. Kết luận trên giúp thế giới có thêm cơ sở lý luận để đáp trả lại xu hướng chống toàn cầu hóa ở Vương Quốc Anh, Mỹ và một số quốc gia khác. Tuy nhiên, lập luận ủng hộ thương mại tự do trên vẫn còn điểm hạn chế, khi chưa tính đến động cơ chính trị đằng sau các các xu hướng bảo hộ này, mà sẽ làm vấn đề phức tạp hơn rất nhiều.
Quá trình toàn cầu hóa, nếu được phát huy hết sức mạnh, sẽ giúp cuộc sống con người tốt đẹp hơn. Tiếc thay, quá trình này hiện nay vẫn chưa đem lại lợi ích đồng đều cho tất cả mọi người.
Vì vậy, chú trọng hơn nữa việc phân phối lợi ích sẽ là yếu tố quan trọng trong công cuộc mở cửa thị trường. Ngoài ra, các nước cũng phải lưu ý đến độ nhạy cảm xã hội và chi phí điều chỉnh trong các chính sách nhập cư. Nhà đầu tư nước ngoài cũng nên trả thuế sòng phẳng, để “trả công” cho nước tiếp nhận vì đã có một xã hội đầy đủ chức năng với bộ máy hành chính và bộ máy pháp luật đáng tin cậy.
Các thách thức này không thể được giải quyết bằng cách kiện cáo chống lại xu hướng mở cửa. Các nước cần có cái nhìn đa diện hơn như tác giả Andrew Leigh đã viết trong tác phẩm “Lựa chọn mở cửa” của ông.
Tác giả: Stephen Grenville – bộ phận tham vấn vấn đề tài chính thuộc khu vực Đông Á thuộc viện Lowy
Nguồn: Lowy Institute – TQ
Từ khóa: Mở cửa, thương mại, nhập cư, đầu tư nước ngoài, phân phối lợi ích.
Các tin khác
- Người Nhật Bản rất quan tâm đến TPP và cả NAFTA - 04/10/2017
- Cuộc chiến thương mại giữa Mỹ và Anh sau vụ Bombardier - 04/10/2017
- Mỹ đang yêu sách với WTO - 04/10/2017
- Thỏa thuận thương mại với EU dựa trên các tiêu chuẩn - 04/10/2017
- Vì sao nông sản Việt vẫn chưa chinh phục được thị trường Hàn Quốc? - 30/09/2017






















