JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU
Phân tích - Bình luậnTiêu chuẩn quốc tế và khả năng thúc đẩy thương mại dịch vụ

Tiêu chuẩn quốc tế và khả năng thúc đẩy thương mại dịch vụ

thương mại dịch vụ

Dịch vụ đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế toàn cầu,  chiếm khoảng 75% GDP tại các nước phát triển và 50% GDP tại các nước đang phát triển (Theo dữ liệu của Ngân hàng Thế giới). Dưới đây là vài chia sẻ của ông Markus Jelitto - Tham tán thuộc Ban thương mại dịch vụ của Tổ chức Thương mại Quốc tế (WTO) - về vai trò của Tiêu chuẩn quốc tế trong lĩnh vực dịch vụ.

Trong hai thập kỷ vừa qua, xuất khẩu thế giới về thương mại dịch vụ đã tăng gấp hơn 4 lần, và thương mại dịch vụ xét trên cấp độ toàn cầu đã và đang phát triển với tốc độ nhanh hơn hản thương mại hàng hóa. Mức tăng này là kết quả của rất nhiều các nguyên nhân, trong đó có thể kể đến sự phát triển trong công nghệ cho phép phát triển các dịch vụ trên cơ sở mạng giải phóng cho nhà cung cấp và người tiêu dùng khỏi giới hạn về mặt địa lý.

Một nguyên nhân khác nữa dẫn đến sự phát triển của lĩnh vực này là việc gỡ bỏ dần các quỵ định và tư nhân hóa rất nhiều các dịch vụ công như năng lượng, vận tải và viễn thông. Trước đây, các dịch vụ này thường do các đơn vị thuộc chính phủ hoặc quốc gia cung cấp, ngày nay chúng đang ngày càng rộng mở cho các nhà cung cấp dịch vụ đến từ khối tư nhân

Trong bối cảnh này, bên cạnh các quy tắc cơ bản đã được đặt ra, rõ ràng cần thiết phải có thêm các tiêu chuẩn quốc tế trong lĩnh vực dịch vụ. Vào giữa những năm 1990, các thành viên Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đã thông qua Hiệp định chung về Thương mại Dịch vụ (GATS) tạo ra một bộ quy tắc cơ bản đối với thương mại dịch vụ quốc tế.

Tham tán Markus Jelitto sẽ giải thích mối quan hệ giữa GATS và các tiêu chuẩn quốc tế và nhấn mạnh vai trò của tiêu chuẩn trong việc thúc đẩy phát triển thương mại quốc tế trong lĩnh vực dịch vụ.

GATS và tầm quan trọng củaGATS

Hiệp định chung về Thương mại Dịch vụ (GATS) là hiệp định thương mại đa phương đầu tiên về thương mại trong lĩnh vực dịch vụ. Hiệp định này áp dụng cho 162 quốc gia và vùng lãnh thổ là thành viên của WTO. Sự ra đời của Hiệp định này là một trong những thành tựu quan trọng của Vòng đàm phán thương mại Uruguay, kết thúc năm 1993. Đó là gần nửa thế kỷ sau sự ra đời của Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT) năm 1947, trong đó đặt ra các quy tắc toàn cầu đối với thương mại hàng hoá.

Nhằm cung cấp bộ quy tắc pháp lý cho thương mại dịch vụ, GATS tìm kiếm các phương thức để đảm bảo rằng thương mại dịch vụ được tiến hành trong một môi trường có thể dự đoán và minh bạch, và không tồn tại phân biệt đối xử giữa các dịch vụ và nhà cung cấp dịch vụ từ các thành viên WTO khác nhau.

GATS không chỉ điều chỉnh thương mại vượt qua biên giới quốc gia mà cả các hành vi thương mại được tiến hành thông qua việc thành lập một nhà cung cấp ở một quốc gia khác (ví dụ, việc thành lập một ngân hàng Canada tại Thụy Sĩ), thông qua sự dịch chuyển nhân sự (ví dụ, giám đốc điều hành hoặc quản lý thuộc ngân hàng Canada di chuyển đến Thụy Sĩ), và trong những tình huống có sự tiêu dùng dịch vụ ở một quốc gia khác (ví dụ, thông qua du lịch).

Mục tiêu chính của GATS

Hiệp định này dự định đóng góp cho việc mở rộng thương mại với tư cách là một phương tiện thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của tất cả các các đối tác thương mại và sự tiến bộ của các nước đang phát triển. Như vậy, việc mở rộng thương mại được xem như một công cụ để thúc đẩy tăng trưởng và phát triển. Các đóng góp của GATS vào thương mại dịch vụ trên thế giới dựa trên ba trụ cột chính: (1) đảm bảo sự minh bạch và tính có thể đoán trước của các quy tắc và các quy định có liên quan, (2) cung cấp một khuôn khổ chung điều chỉnh các giao dịch quốc tế, và (3) thúc đẩy tự do hóa thông qua các vòng đàm phán.

Đối với các nhà cung cấp dịch vụ, GATS cung cấp độ tin cậy và khả năng dự báo các điều kiện thị trường. Nếu một ngành dịch vụ đã được tự do hóa theo GATS, các thành viên WTO không thể đơn phương thắt chặt tiếp cận thị trường đối với các nhà cung cấp nước ngoài. Ví dụ, trong cuộc khủng hoảng tài chính, một số quốc gia đã tính đến việc ban hành thêm các chính sách bảo hộ, tuy nhiên, trong một số trường hợp, làm như vậy là vi phạm các cam kết quốc tế của quốc gia. Cuối cùng, nhiều quốc gia đã quyết định không ban hành thêm các chính sách đó, cũng có nghĩa là phần lớn thị trường vẫn được mở.

Tất nhiên, chúng ta vẫn còn nhiều thách thức và, thật không may, các thành viên WTO đã không thể kết thúc đàm phán về tự do hóa hơn nữa kể từ khi Hiệp định GATS đã trở thành hoạt động. Điều này đã dẫn đến một số thành viên WTO tìm cách khác, trong đó để thúc đẩy tự do hóa với các đối tác kinh doanh cá thể. Trong khi các sáng kiến như vậy có thể dẫn đến thị trường cởi mở hơn cho một số người, họ mang một nguy cơ chia rẽ và làm phức tạp thêm quyền truy cập cho các nhà cung cấp dịch vụ tổng thể.

Tất nhiên vẫn còn tồn tại rất nhiều thách thức và thật tiếc là kể từ khi GATS đi vào hoạt động, các thành viên của WTO chưa thể đi đến kết luận các đàm phán về tự do hóa hơn nữa. Điều này dẫn đến việc một số thành viên WTO đành phải tìm kiếm các phương thức khác để thúc đẩy tự do hóa với các đối tác thương mại riêng lẻ. Những bước đi như vậy dù có thể giúp mở rộng thị trường cho một số đối tượng nhưng lại cũng mang lại nguy cơ phức tạp hóa quyền tiếp cận của các nhà cung cấp dịch vụ nói chung.

Mối liên hệ giữa tiêu chuẩn quốc tế và GATS

Một mục tiêu của GATS là tạo điều kiện tự do hóa ngành dịch vụ. Tự do hóa này bao gồm việc loại bỏ các hạn chế định lượng và phân biệt đối xử ảnh hưởng đến việc thâm nhập và hoạt động của các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài trong thị trường của một quốc gia. Điều này cần phải được phân biệt với quy định. GATS công nhận quyền của chính phủ (đặc biệt là với những nước đang phát triển) trong việc đưa ra các quy định đáp ứng các mục tiêu chính sách quốc gia. Trong khuôn khổ này, điều mà WTO cần đảm bảo đó là làm sao để các quy định trong nước, ví dụ như các hệ thống cấp phép, các yêu cầu hay các tiêu chuẩn kỹ thuật, không tạo ra những rào cản không cần thiết đối với thương mại dịch vụ. Theo một nghĩa nào đó, chúng ta có thể xem như GATS cung cấp các giới hạn ngoài cho những gì mà các thành viên WTO có thể điều chỉnh. Trong lĩnh vực hàng hóa, theo quy định của GATT, điều này được giải quyết thông qua Hiệp định về hàng rào kỹ thuật trong thương mại và chủ yếu là cho các sản phẩm nông nghiệp, thông qua Hiệp định về Các biện pháp Kiểm dịch động thực vật. Trong lĩnh vực dịch vụ, các cuộc thảo luận vẫn đang tiếp diễn trong WTO.

Trong khi những cuộc đàm phán vẫn đang được tiến hành, cần phải có một giải pháp tạm thời được đưa ra: các thành viên WTO cần đảm bảo rằng các quy định mới liên quan đến dịch vụ được đưa ra trong các lĩnh vực đã được tự do hóa đều không tạo ra những rào cản không cần thiết đối với thương mại. Các thành viên cần chứng tỏ được sự tuân thủ đối với nghĩa vụ này, và một trong các phương thức có thể áp dụng đó là xây dựng các quy định dựa trên các tiêu chuẩn quốc tế. Nói cách khác, đối với các thành viên của WTO, việc áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế là một căn cứ để khẳng định sự phù hợp.

Vai trò của Tiêu chuẩn quốc tế trong lĩnh vực dịch vụ và thương mại dịch vụ

Tiêu chuẩn quốc tế nếu như được áp dụng ở phạm vi bao gồm nhiều quốc gia có thể giúp thúc đẩy thương mại vô cùng mạnh mẽ. Nó tạo ra một nền kinh tế điều tiết, đặc biệt mang lại lợi ích cho các nhà cung cấp dịch vụ vừa và nhỏ - những đối tượng có thể gặp khó khăn trong việc điều chỉnh các dịch vụ cung cấp cho phù hợp với các tiêu chuẩn khác nhau ở các thị trường khác nhau. Đây là lý do tại sao rất nhiều thành viên WTO ủng hộ ý tưởng rằng các quốc gia khi xây dựng các tiêu chuẩn kỹ thuật của riêng mình cần cân nhắc đến các tiêu chuẩn quốc tế.

Hưởng lợi nhiều nhất không có nghĩa sẽ đem lại giá trị thặng dư lớn nhất

Hàng loạt các hiệp định thương mại tự do vừa được ký kết đang đưa Việt Nam bước vào một “kỷ nguyên phát triển mới”. Nhiều chuyên gia còn cho rằng, Việt Nam là quốc gia được hưởng lợi nhiều nhất. Tuy nhiên, các chuyên gia nhận định hưởng lợi nhiều nhất không có nghĩa sẽ đem lại giá trị thặng dư lớn nhất.

Hội nhập sâu: Áp lực lớn

Tính đến thời điểm này, Việt Nam đã tham gia và hoàn tất đàm phám 12 hiệp định thương mại tự do (FTA) songphương và đa phương. Trong số đó có 8 FTA đã có hiệu lực là Hiệp định thương mại tự do ASEAN và 5 hiệp định thương mại giữa ASEAN với các đối tác Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Australia – New Zealand; 2 hiệp định song phương (Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện Việt Nam – Nhật Bản và Hiệp định Thương mại tự do song phương Việt Nam – Chile). Có 2 hiệp định đã ký kết, nhưng chưa có hiệu lực là hiệp định thương mại Việt Nam – Hàn Quốc , Việt Nam – Liên minh kinh tế Á – Âu; 2 hiệp định thương mại thế hệ mới đã kết thúc đàm phán, gồm hiệp định thương mại Việt Nam – Liên minh Châu Âu và Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP).

Ông Nguyễn Quang Phòng – Phó Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cho rằng, Việt Nam đang đứng trước nhiều cơ hội nhưng cũng đầy khó khăn thách thức đối với nền kinh tế và đối với cộng đồng doanh nghiệp khi mở cửa và hội nhập sâu rộng với thế giới. “Trong bối cảnh toàn cầu hóa và cạnh tranh, các Doanh nghiệp Việt Nam phải vươn tới các chuẩn mực quốc tế trong quản trị điều hành để những thành tựu kinh doanh và giá trị doanh nghiệp được duy trì bền vững. Đây cũng là một trong những định hướng ưu tiên trong quá trình tái cấu trúc doanh nghiệp ở nước ta”, ông Phòng nhấn mạnh.

Ông Hà Duy Tùng – Phó Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế – Bộ Tài chính cũng cho rằng, trước đây chúng ta tham gia vào các hiệp định thương mại tự do mà không hề có cam kết nào có yêu cầu ngay khi hiệp định có hiệu lực sẽ đưa thuế về 0%. Thậm chí có những mặt hàng thuế rất thấp, chỉ từ 3 – 5% nhưng lại duy trì đến 5 – 10 năm.

Bên cạnh đó, các nước trong khu vực cũng như trên thế giới có mức độ bảo hộ không dàn trải như Việt Nam. “Họ bảo hộ khá chặt chẽ trong lĩnh vực nông nghiệp mặc dù là nước công nghiệp phát triển. Trong lĩnh vực công nghiệp, họ bảo vệ tập trung có chọn lọc các mặt hàng, chứ không dàn trải như Việt Nam”, ông Tùng khẳng định.

Ngoài ra, về cơ chế giám sát, các nước phải đảm bảo các yêu cầu cực kỳ nghiêm ngặt và gắt gao. Đơn cử như lĩnh vực dệt may – ngành nghề được đánh giá là hưởng lợi nhất của Việt Nam trong TPP lại là nhóm hàng khiến Hoa Kỳ lo ngại và yêu cầu Việt Nam đảm bảo xuất xứ và giám sát quy trình chặt chẽ. “Hoa Kỳ sẽ thông qua các cơ sở dữ liệu và quản lý rủi ro để nắm chắc chắn năng lực sản xuất của Việt Nam. Vì vậy, họ sẽ có ngay những đoàn giám sát khi có dấu hiệu bất thường về xuất khẩu tăng đột biến”, ông Tùng tiếp tục nhấn mạnh.

Một đặc trưng khác được ông Tùng nêu thêm chính là cơ chế pháp lý. Trước đây khi tham gia các hiệp định tự do, nếu làm sai thì cũng chưa hề có vụ kiện, giải quyết tranh chấp nào trong các nước ký kết. Còn với TPP, sẽ xuất hiện cơ chế nhà nước kiện nhà nước và cơ chế nhà đầu tư kiện nhà nước khi xảy ra vi pham. Đây là thách thức và rủi ro rất lớn cho DN Việt Nam.

Như vậy, Việt Nam càng tham gia sâu vào sân chơi quốc tế thì càng phải thực thi nghiêm ngặt những quy định quốc tế. Áp lực của Việt Nam cũng vì thế ngày càng gia tăng, đặc biệt là đối với những cơ chế chính sách về thuế, hải quan, luật đầu tư trong và ngoài nước…

Doanh nghiệp Việt: Khó mạnh lên nếu chỉ nhờ FTAs…

Việc ký kết những FTA không chỉ mang lại lợi ích cho nền kinh tế Việt Nam mà còn cả cộng đồng doanh nghiệp cả nước. Theo kết quả khảo sát của VCCI, có đến 2/3 doanh nghiệp Việt Nam ủng hộ và tin tưởng vào lợi ích mà các FTA này mang lại.

Đối với hiệp định thương mại nổi bật như TPP, hầu hết các chuyên gia trong và ngoài nước đều đánh giá, Việt Nam là quốc gia hưởng lợi nhiều nhất. GDP của Việt Nam sẽ tăng thêm 23,5 tỷ USD vào năm 2020 và xuất khẩu sẽ tăng thêm 68 tỷ USD vào năm 2025 “chỉ nhờ” có TPP.

Tuy nhiên, hưởng lợi nhiều nhất không có nghĩa sẽ đem lại giá trị thặng dư lớn nhất. Tất cả chỉ có thể được hiện thực hóa khi Việt Nam và đơn cử là các doanh nghiệp nội địa có thể đảm bảo được những điều kiện về quy tắc xuất xứ hàng hóa, điều kiện lao động, rào cản kỹ thuật và trên hết là cạnh tranh được với các doanh nghiệp nước ngoài.

Thực thế cho thấy, doanh nghiệp Việt Nam chỉ tận dụng được 30% các ưu đãi thuế quan. 70% còn lại đang tuột khỏi tay doanh nghiệp và nền kinh tế Việt Nam. Như vậy, trong môi trường của Việt Nam, doanh nghiệp nội đang là đối tượng yếu thế, chịu nhiều khó khăn và thách thức đến từ FTAs cũng như các doanh nghiệp FDI. Và từ đó, câu chuyện hội nhập của doanh nghiệp Việt Nam cũng được bàn luận đến nhiều hơn: Doanh nghiệp sẽ mạnh hơn, phát triển hơn nhờ các cam kết trong FTAs hay mạnh hơn khi thay đổi chính mình.

Đại diện Tổng công ty Khí Việt Nam (PV GAS) cho rằng, để có thể tồn tại và phát triển, chỉ có một cách. Đó là thay đổi chính bản thân mình để nâng cao năng lực cạnh tranh trong đó coi trọng trình độ tổ chức và quản lí doanh nghiệp; đổi mới và nâng cấp hạ tầng kĩ thuật công nghệ tiên tiến, tăng cường năng suất lao động của người Việt Nam cũng như liên kết chặt chẽ hơn giữa doanh nghiệp và các cơ quan quản lý.

Ông Phan Thanh Thiên – Tổng Giám đốc Trường Sinh Group cho rằng, doanh nghiệp phải định vị mình trong chuỗi giá trị của hội nhập. Nghĩa là xác định được mình làm được gì và làm như thế nào trong thị trường thế giới. Phải xác định những điểm mạnh và điểm yếu của mình khi xúc tiến thương mại. “Ở một sân chơi quá nhiều cạnh tranh và áp lực, việc định vị mình là vô cùng quan trọng”, ông Thiên khẳng định.

Ông Thiên cho rằng, ngay tại thị trường Việt Nam cũng đã có một sân chơi lớn cho các doanh nghiệp chưa nói đến các quốc gia khác trên thế giới. Cái chính là doanh nghiệp phải tìm hiểu được thị yếu của khách hàng, tìm ra được dịch vụ cần thiết để trở thành dịch vụ cần thiết, thiết yếu đáp ứng được nhu cầu của thị trường.

“Nếu ngay trong ao làng của mình mà DN còn không thể sống sót, không thể phát triển thì không thể cạnh tranh nổi trên thị trường nước ngoài. Chỉ một khi tạo dựng được thương hiệu riêng của doanh nghiệp ngay tại thị trường nội địa thì mới có thể có đủ tiềm lực để trụ vững tại thị trường thế giới vốn quá khốc liệt và đa dạng hàng hoá”, ông Thiên tái khẳng định.

Như vậy, câu chuyện về sự phát triển của doanh nghiệp Việt Nam không chỉ đến từ những ưu đãi về thuế mà phải đến từ nhận thức và sự thay đổi tư duy phát triển của chính DN. Giảm hàng rào thuế quan chỉ là cơ hội để doanh nghiệp tiến quân nhanh chóng và thuận lợi hơn tại các quốc gia khác. Nhưng khi đã tiến quân rồi thì tồn tại ra sao lại dựa chủ yếu vào năng lực của chính doanh nghiệp.

Nguồn : http://congluan.vn/

Từ khóa : Tiêu chuẩn quốc tế, và khả năng thúc đẩy, thương mại dịch vụ.

Chuyên mục RCEP

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Phân tích - Bình luận

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Thư viện hội nhập

thu vien

Xem nhiều nhất


phong ve thuong mai

Video

Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field

Liên kết

 

Lượt truy cập

008748232
Go to top