JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU
Phân tích - Bình luậnQuy tắc xuất xứ trong Hiệp định thương mại tự do Việt Nam-Hàn Quốc và ASEAN-Hàn Quốc: khuyến nghị cho doanh nghiệp

Quy tắc xuất xứ trong Hiệp định thương mại tự do Việt Nam-Hàn Quốc và ASEAN-Hàn Quốc: khuyến nghị cho doanh nghiệp

Vietnam-korea

Hiệp định VKFTA được ký kết vào ngày 5/5/2015 và dự kiến có hiệu lực vào năm 2016.

Về cơ bản, các cam kết thuế quan trong VKFTA được xây dựng trên nền các cam kết thuế quan trong FTA ASEAN – Hàn Quốc (AKFTA), nhưng với mức độ tự do hóa cao hơn. VKFTA sẽ cắt giảm thêm một số dòng thuế mà trong  AKFTA chưa được  cắt giảm hoặc mức độ cắt giảm còn hạn chế. Nội dung về Quy tắc xuất xứ trong VKFTA nằm tại Chương 3 của Hiệp định có tên là “Quy tắc xuất xứ và quy trình cấp xuất xứ” (sau đây gọi tắt là Chương Quy tắc xuất xứ). Theo đó, để được hưởng ưu  đãi thuế quan trong VKFTA, hàng hóa phải đáp ứng được các quy tắc xuất xứ của Hiệp định.

Theo quy định tại Hiệp định VKFTA, hàng hóa sẽ được coi là có xuất xứ tại một Bên (Việt Nam hoặc Hàn Quốc) nếu đáp ứng được một trong các điều kiện sau:

-  Có xuất xứ thuần túy hoặc được sản xuất toàn bộ tại lãnh thổ của Bên xuất khẩu như được định nghĩa tại Điều 3.2 của Chương Quy tắc xuất xứ;

-  Không có xuất xứ thuần túy hoặc không được sản xuất toàn bộ tại lãnh thổ của Bên xuất khẩu nhưng đáp ứng được các yêu cầu về quy tắc xuất xứ được quy định cụ thể trong Phụ lục về Quy tắc  xuất xứ cụ thể từng mặt hàng (Phụ lục 3-A) hoặc Phụ lục về các hàng hóa đặc biệt (Phụ lục 3-B); hoặc

-  Được sản xuất toàn bộ tại lãnh thổ của Bên xuất khẩu và chỉ từ các nguyên liệu có xuất xứ từ Việt Nam  hoặc Hàn Quốc.

I. Mức độ tận dụng ưu đãi từ AKFTA và những điểm khác biệt về Quy tắc xuất xứ giữa AKFTA và VKFTA.

Hàn Quốc là đối tác đã có FTA với Việt Nam trong khuôn khổ FTA ASEAN–Hàn Quốc. AKFTA đã được ký kết năm 2006, doanh nghiệp Việt Nam đã quen với việc xuất nhập khẩu trong phạm vi ASEAN - Hàn Quốc cùng với đó, các cam kết thuế quan trong VKFTA được xây dựng trên nền các cam kết thuế quan trong AKFTA.Đây là thuận lợi để doanh nghiệp Việt Nam tiếp tục nâng cao mức độ tận dụng ưu đãi từ Hiệp định VKFTA.

1. Mức độ tận dụng ưu đãi từ AKFTA

Theo thống kê của Bộ Công Thương, năm 2014 tổng kim ngạch xuất nhập khẩu song phương Việt Nam - Hàn Quốc đạt hơn 28,8 tỷ USD, trong đó tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 7,1 tỷ USD, tổng kim ngạch xuất khẩu tận dụng được ưu đãi từ AKFTA là hơn 6 tỷ USD, chiếm tỷ lệ hơn 85%, đây là FTA có tỷ lệ tận dụng ưu đãi cao nhất trong số các FTA mà Việt Nam đã tham gia.

Bảng 1: Thống kê về tỷ lệ tận dụng ưu đãi của Việt Nam trong AKFTA

 

2013

2014

Tổng kim ngạch xuất khẩu

6618 triệu USD

7114  triệu USD

Tổng kim ngạch xuất khẩu tận dụng được ưu đãi

5572  triệu USD

6074  triệu USD

Tỷ lệ tận dụng ưu đãi

84,2%

85%

Nguồn: Cục Xuất nhập khẩu - Bộ Công Thương

P90

Nguồn: Cục Xuất nhập khẩu – Bộ Công Thương

Trên cơ sở biểu đồ cho thấy mẫu C/O (Certificate of Origin: Chứng nhận xuất xứ) AK sử dụng trong AKFTA có tỷ lệ tận dụng ưu đãi cao nhất trong tất cả các mẫu C/O. Cụ thể, năm 2013 tỷ lệ tận dụng C/O AK lên đến gần 85% trong khi tỷ lệ tận dụng mẫu C/O cao thứ hai là mẫu E sử dụng trong ACFTA chỉ đạt khoảng 35%. Việc các doanh nghiệp Việt Nam tận dụng được ưu đãi từ AKFTA với tỷ lệ cao bắt nguồn từ một số nguyên nhân sau:

Theo thống kê của Tổng cục Hải quan năm 2014, các nhóm mặt hàng có tổng kim ngạch xuất khẩu vào thị trường Hàn Quốc lớn nhất là hàng dệt may, hàng thủy sản, gỗ và sản phẩm gỗ, máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện, đây đều là những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam. Hàng thủy sản, gỗ và sản phẩm gỗ là những mặt hàng Việt Nam có thế mạnh, có xuất xứ thuần túy và giá trị gia tăng cao tại Việt Nam. Mặt khác về tính chất hàng hóa, cơ cấu sản phẩm của Hàn Quốc và Việt Nam phần lớn có tính bổ sung cho nhau, ít cạnh tranh trực tiếp như hàng dệt may và hàng điện tử, Việt Nam chủ yếu nhập linh kiện, nguyên phụ liệu từ Hàn Quốc và xuất thành phẩm nên xét về xuất xứ thì hoàn toàn đáp ứng yêu cầu.

Bảng 2: Thống kê xuất nhập khẩu một số mặt hàng chủ yếu của Việt Nam với Hàn Quốc năm 2014.

Mặt hàng

Trị giá
(triệu USD)

So sánh 2013 (%)

Tỷ trọng (%)

Nhóm hàng xuất khẩu

Hàng dệt, may

 

27,5

29,2

Hàng thủy sản

652

27,8

9,1

Gỗ và sản phẩm gỗ

491

49,3

6,9

Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện

416

28,0

5,8

Nhóm hàng nhập khẩu

Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện

 

-1,1

23,2

Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác

 

11,5

14,5

Vải các loại

 

8,6

8,5

Điện thoại các loại và linh kiện

 

-22,0

7,9

Chất dẻo nguyên liệu

 

2,7

5,5

Sắt thép các loại

 

-2,0

5,1

Kim loại thường khác

844

35,1

3,9

Sản phẩm từ sắt thép

799

12,2

3,7

Sản phẩm từ chất dẻo

798

48,8

3,7

Nguyên phụ liệu dệt, may, da, giày

796

9,7

3,7

Nguồn: Tổng cục Hải quan

Như đã trình bày ở phần I, một FTA ký kết được kỳ vọng sẽ thúc đẩy tự do hóa thương mại bằng cách cắt giảm thuế đối với những mặt hàng xuất xứ từ các nước thành viên. Mức độ cắt giảm và xóa bỏ thuế quan càng lớn càng thúc đẩy các doanh nghiệp tận dụng ưu đãi vì khi đó mối tương quan giữa chi phí và lợi ích là rất rõ rệt.

Bảng 3: Thống kê về mức độ giảm thuế.

Mặt hàng xuất khẩu

Mã HS

MFN trung bình 2014

AKFTA trung bình 2014

Hàng dệt, may

61-63

12,2%

0,7%

Hàng thủy sản

03

16%

3,1%

Gỗ và sản phẩm gỗ

44

5,8%

3%

Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện

85

6,1%

0,04%

Nguồn: Tính toán của tác giả dựa trên số liệu của WTO và Hiệp định AKFTA

Theo bảng thống kê về mức độ giảm thuế ở trên cho thấy giữa thuế MFN của Hàn Quốc áp dụng cho tất cả các nước và mức thuế áp dụng cho các nước thành viên trong AKFTA có mức độ chênh lệch khá lớn, cụ thể mức chênh lệch của mặt hàng dệt may là 11,5%, hàng thủy sản là 12,9%, gỗ và sản phẩm gỗ là 2,8%, máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện là 6,06%. Trong Hiệp định VKFTA mức độ cắt giảm và xóa bỏ thuế quan của Hàn Quốc còn lớn hơn nên dự kiến việc tận dụng ưu đãi sẽ tiếp tục được nâng lên.

Mức độ quy tắc xuất xứ là mức độ phức tạp, khó khăn về điều kiện để một hàng hóa được công nhận là có xuất xứ. Một trong những nguyên nhân tỷ lệ tận dụng ưu đãi trong AKFTA cao là do quy tắc xuất xứ của AKFTA tương đối lỏng nên doanh nghiệp dễ dàng xin được C/O. Quy tắc xuất xứ áp dụng trong AKFTA đã được xây dựng theo cách nhằm tăng cường khả năng tận dụng các cơ hội trong FTA bằng việc cho phép nhà xuất khẩu một sự linh hoạt trong việc chứng minh xuất xứ của hàng hóa. Sự linh hoạt này giúp các sản phẩm dễ dàng hơn trong việc đáp ứng xuất xứ so với việc chỉ áp dụng một quy tắc duy nhất.

Bảng 4: Thống kê về mức độ quy tắc xuất xứ

Mặt hàng xuất khẩu

Mã HS

Quy tắc xuất xứ cụ thể mặt hàng theo AKFTA

Hàng dệt, may

61-63

RVC 40% hoặc quy tắc hàng dệt may;
CC, với điều kiện sản phẩm được cắt và khâu tại bất kì nước thành viên nào;

CC với quy tắc hàng dệt may hoặc RVC 40%.

Hàng thủy sản

03

WO; WO-AK; RVC 40%;

Gỗ và sản phẩm gỗ

44

WO; RVC 40%; CTH

Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện

85

CTSH hoặc RVC 45%;
CTH hoặc RVC 40%;
CHSH hoặc RVC 40%;
CTSH hoặc RVC 40% hoặc Quy tắc hàng điện tử;

Nguồn: Thống kê của tác giả dựa trên Hiệp định AKFTA.

Thống kê trên cho thấy mặt hàng như dệt may với các tiêu chí RVC 40% hoặc quy tắc hàng dệt may; chuyển đổi Chương (CC) với điều kiện sản phẩm được cắt và khâu tại bất kì nước thành viên nào. Các sản phẩm điện tử với các tiêu chí RVC 40% hoặc chuyển đổi Nhóm (CTH); RVC 40%  hoặc chuyển đổi phân nhóm (CTSH)… đây là những tiêu chí mà doanh nghiệp Việt Nam hoàn toàn có thể chứng minh được xuất xứ.

Thống kê cũng cho thấy, có mặt hàng chỉ có một tiêu chí để chứng minh hàng hóa có xuất xứ tuy nhiên cũng có những mặt hàng doanh nghiệp có thể lựa chọn các phương pháp khác nhau để xác định xuất xứ của hàng hóa.

Ngoài ra sự linh hoạt (lỏng) của quy tắc xuất xứ trong AKFTA cũng được thể hiện ở việc có quy tắc xuất xứ chung cho phép doanh nghiệp lựa chọn hoặc hàm lượng RVC 40% hoặc CTH (chuyển đổi mã HS ở cấp 4 số).

2. Những điểm khác biệt về Quy tắc xuất xứ giữa AKFTA và VKFTA.

VKFTA và AKFTA là hai Hiệp định hoàn toàn riêng biệt, tuy nhiên Việt Nam và Hàn Quốc đều là thành viên của cả hai Hiệp định này và thị trường mà Việt Nam nhắm tới trong cả hai Hiệp định đều là thị trường Hàn Quốc. Như đã trình bày ở trên, các cam kết thuế quan trong VKFTA được  xây dựng trên nền các cam kết thuế quan trong AKFTA, nhưng với mức độ tự do hóa cao hơn. VKFTA sẽ cắt giảm thêm một số dòng thuế mà trong  AKFTA chưa được  cắt giảm hoặc mức độ cắt giảm còn hạn chế. Cùng với đó Quy tắc xuất xứ cũng như một số quy định khác trong 2 Hiệp định ít nhiều sẽ có sự khác biệt.

Bảng 5: Những điểm khác biệt về Quy tắc xuất xứ trong AKFTA và VKFTA

Quy định về QTXX

AKFTA

VKFTA

Form C/O

Các nước Asean và Hàn Quốc đều cấp 1 mẫu C/O AK.

-Việt Nam cấp mẫu VK

- Hàn Quốc cấp mẫu KV

Cấp C/O

VN cấp C/O giấy, Hàn Quốc cấp C/O với con dấu và chữ ký điện tử, sắp tới sẽ được sửa chữa.

C/O có thể được cấp theo cách truyền thống tại các Tổ chức cấp C/O của cơ quan Chính phủ hoặc được ký, đóng dấu và in điện tử.

Thời gian lưu trữ hồ sơ

03 năm kể từ ngày cấp C/O.

05 năm kể từ ngày cấp C/O.

Thời hạn xác minh C/O

6 tháng

10 tháng

Tổ chức cấp C/O

Cập nhật danh sách, tên, địa chỉ, mẫu chữ ký của người được ủy quyền ký C/O và mẫu con dấu chính thức của Tổ chức cấp C/O.

Cập nhật danh sách tên và mẫu con dấu của Tổ chức cấp C/O.

Miễn nộp C/O

Hàng hóa không quá 200 USD.

Hàng hóa không quá 600 USD.

Tiêu chí xuất xứ

- WO

- WO

- Non-WO: gồm tiêu chí chung (CTH hoặc RVC 40%) và PSR (chỉ gần 500 dòng thuế)

- Non-WO: không có tiêu chí chung, PSR (Chương 01-97) hơn 5000 dòng thuế.

- Không có PE

- Có PE (điểm c, khoản 1, Điều 3.1 Chương quy tắc xuất xứ)

Hạt điều đã bóc vỏ

WO-AK

CTSH (công đoạn đơn giản “Bóc vỏ đơn giản, trích hạt, hoặc làm tróc hạt không áp dụng cho 0801.32)

Cà phê đã rang (0901.21, 0901.22)

RVC 45%

CTSH

Dệt may (Chương 50-63)

-

- PSR tương đương AKFTA

Deminimis đối với hàng dệt may.

Trọng lượng của nguyên liệu không có xuất xứ =< 10% tổng trọng lượng hàng hóa.

- Trọng lượng của nguyên liệu không có xuất xứ =< 10% tổng trọng lượng hàng hóa hoặc;

- Trị giá của nguyên liệu không có xuất xứ =< 10% trị giá FOB của hàng hóa.

Nguồn: Cục Xuất nhập khẩu - Bộ Công Thương

II. Khuyến nghị cho doanh nghiệp vận dụng Quy tắc xuất xứ nhằm tận dụng ưu đãi từ FTA Việt Nam – Hàn Quốc và ASEAN - Hàn Quốc.

Trên thực tế, nhiều doanh nghiệp không vận dụng ưu đãi từ FTA khi xuất nhập khẩu do không đáp ứng được quy tắc xuất xứ. Việc không đáp ứng quy tắc xuất xứ có thể do không thực hiện đầy đủ các công đoạn gia công, chế biến cần thiết đối với các đầu vào nhập khẩu hoặc chi phí hành chính để có C/O quá cao. Để có được C/O cho hàng hóa xuất khẩu, các doanh nghiệp phải chuẩn bị đầy đủ giấy tờ cần thiết theo yêu cầu của cơ quan cấp C/O. Do phải tốn kém chi phí để chuẩn bị các giấy tờ trên, các doanh nghiệp chỉ xin C/O nếu biên độ ưu đãi tức là chênh lệch giữa thuế MFN và thuế FTA ưu đãi đủ lớn. Do đó việc đầu tiên doanh nghiệp cần làm là so sánh mức độ chênh lệch giữa ba loại thuế: thuế MFN; thuế AKFTA và thuế VKFTA. Nếu mức chênh lệch này đem lại lợi ích lớn hơn so với chi phí bỏ ra thì doanh nghiệp tiến hành các công đoạn để hàng hóa đáp ứng xuất xứ và xin C/O phù hợp.

Do tính chất linh hoạt về Quy tắc xuất xứ trong VKFTA, một loại mặt hàng, ngoại trừ hàng có xuất xứ thuần túy và hàng được sản xuất toàn bộ tại lãnh thổ của Bên xuất khẩu chỉ từ các nguyên liệu có xuất xứ từ Việt Nam  hoặc Hàn Quốc thì các mặt hàng trong danh mục PSR (Phụ lục 3-A) hầu hết đều có 2 cách tính để xác định xuất xứ. Doanh nghiệp có thể lựa chọn tiêu chí RVC hoặc CTC (chuyển đổi mã số HS).

Ví dụ về cách lựa chọn tiêu chí để xác định xuất xứ cho hàng hóa

Một công ty ở Việt Nam sản xuất máy hút bụi để bán trên thị trường Hàn Quốc. Máy hút bụi do công ty sản xuất có mã HS thuộc phân nhóm 8508.11. Trong VKFTA hàng hóa này muốn được công nhận là có xuất xứ  thì phải đáp ứng 1 trong 2 tiêu chí sau: CTSH (chuyển đôi mã số HS ở cấp 6 số) hoặc RVC 40%.

 Công ty của Việt Nam nhập 3 nguyên liệu từ các nước khác là lò xo cuộn bằng thép (HS 7320.20) giá 100.000 đồng từ Trung Quốc, động cơ điện (HS 8412.10) giá 800.000 đồng từ Nhật Bản và vòng bi (HS 8482.10) giá 200.000 đồng từ Đức. Công ty tự sản xuất các  phụ tùng khác từ các nguyên liệu trong nước hoặc từ Hàn Quốc có trị giá 500.000 đồng, chi phí lao động để sản xuất ra 1 chiếc máy là 50.000 đồng, chi phí phân bổ là 50.000 đồng, chi phí vận chuyển là 5.000 đồng, lợi nhuận dự tính là 100.000 đồng. Vậy liệu chiếc máy hút bụi có đáp ứng tiêu chí xuất xứ?

RVC = 39%

Như vậy theo tiêu chí này thì sản phẩm máy hút bụi của công ty không đáp ứng Quy tắc xuất xứ.

  1. Tính theo tiêu chí CTSH (xem tại điểm 7 của Chú thích về Phụ lục 3-A)

Theo tiêu chí CTSH, các nguyên liệu không có xuất xứ  sử dụng trong quá trình sản xuất ra hàng hóa phải trải qua quá trình chuyển đổi mà HS ở cấp 6 số. Lò xo cuộn bằng thép có mã HS 7320.20, động cơ điện có mã HS 8412.10 và vòng bi có mã HS 8482.10 trong khi sản phẩm là máy hút bụi có mã HS là 8508.11

Như vậy áp dụng tiêu chí CTSH trong VKFTA, máy hút bụi xuất khẩu sang Hàn Quốc được coi là có xuất xứ của Việt Nam bởi các phụ tùng không có xuất xứ được nhập khẩu có mã HS ở cấp 6 số khác với mã HS của máy hút bụi.

Trong VKFTA cơ quan Hải quan Hàn Quốc có quyền hồi tố trong vòng 3 năm, nghĩa là trong vòng 3 năm kể từ ngày cấp C/O, Hải quan Hàn Quốc có quyền yêu cầu xác minh lại C/O do Việt Nam cấp cho doanh nghiệp. Chính vì vậy không phải hàng hóa đã xuất khẩu sang Hàn Quốc là đã xong mà phải 3 năm sau mới xong, doanh nghiệp cần phải lưu trữ đầy đủ hồ sơ  và đặc biệt là việc khai báo xuất xứ hàng hóa phải thật nghiêm túc và chính xác tránh trường hợp bị hồi tố do nghi ngờ.

Doanh  nghiệp  khi  xuất  khẩu  cũng cần  cân  nhắc  nên  sử  dụng  VKFTA  hay AKFTA có lợi hơn. Bởi vì:

-  Đa số các dòng thuế cam kết trong VKFTA thấp hơn so với AKFTA, tức là áp dụng mức thuế ưu đãi theo VKFTA sẽ có lợi hơn AKFTA, nhưng

-  Quy tắc xuất xứ trong VKFTA  thường khó đáp ứng hơn trong AKFTA,  một phần bởi vì VKFTA chỉ cho phép cộng gộp nguyên liệu có xuất xứ từ Việt Nam và Hàn Quốc, trong khi AKFTA cho phép cộng gộp nguyên liệu có xuất xứ từ cả 10 nước ASEAN và Hàn Quốc.

Đối với Hàng dệt may:

Trong Hiệp định VKFTA, mặt hàng dệt may được coi là mặt hàng có lợi thế lớn nhất. Ngay khi VKFTA có hiệu lực, hầu hết các mặt hàng dệt may từ Việt Nam vào Hàn Quốc sẽ được đưa về thuế suất 0% thay vì mức thuế suất MFN 8% đến 13%. Trong VKFTA cũng như AKFTA cho phép áp dụng De Minimis (De Minimis là quy tắc linh hoạt cho phép người dùng được vi phạm ở ngưỡng 10% (xem tại Điều 3.9 Chương Quy tắc xuất xứ).

Tuy nhiên De Minimis trong VKFTA có tính ưu việt hơn trong AKFTA đó là được phép vi phạm 10% đối với giá trị từ Chương 1 đến Chương 97 và 10% đối với giá trị hoặc trọng lượng trong các Chương dệt may (Chương 50 đến Chương 63).  Điều khoản linh hoạt cho phép doanh nghiệp không vì một lượng nhỏ bị vi phạm quy tắc xuất xứ mà không được hưởng ưu đãi. Tuy nhiên quy tắc này chỉ áp dụng với tiêu chí CTC, không áp dụng với tiêu chí RVC.

Quy tắc De Minimis trong tiêu chí CTC

Chương dệt may (Chương 50-63)

  1. Trị giá FOB của sản phẩm cuối cùng = 1000 USD
  2. Trọng lượng của sản phẩm cuối cùng = 1000 kg
  3. Trị giá FOB của sản phẩm cuối cùng = 1000 USD

Giá trị nguyên liệu đầu vào không trải qua CTC ≤ 100 USD

Hoặc

Trọng lượng của nguyên liệu đầu vào không trải qua CTC ≤ 100 kg

Các chương còn lại

Giá trị nguyên liệu đầu vào không trải qua CTC ≤ 100 USD

Đối với mặt hàng tôm:

Đối với một số mặt hàng tôm có mã HS 0306.16.1090; 0306.16.9090; 0306.17.1090; 0306.17.9090; 0306.26.1000; 0306.27.1000; 1605.21.9000 thuế suất trong hạn ngạch của cả hai Hiệp định đều là 0%, Hàn Quốc cấp hạn ngạch trong AKFTA cho 10 nước ASEAN là 5000 tấn, trong VKFTA Hàn Quốc cấp hạn ngạch cho Việt Nam là 10000 tấn trong năm đầu tiên có hiệu lực và tăng thêm 1000 tấn cho mỗi năm sau đó và tối đa là 15000 tấn (hạn ngạch và các mặt hàng tôm được quy định tại Phụ lục 2-A-1 về Quản lý hạn ngạch thuế quan của Hàn Quốc trong VKFTA). Hiện nay, khi VKFTA chưa có hiệu lực, Việt Nam tận dụng được khoảng 2500 tấn trong hạn ngạch 5000 tấn mà Hàn Quốc cấp cho 10 nước ASEAN. Như vậy để tận dụng được tối đa lợi ích từ các hạn ngạch này, các doanh nghiệp Việt Nam nên sử dụng C/O AKFTA trước, cho đến khi hết hạn ngạch 5000 tấn trong AKFTA rồi mới chuyển sang dùng C/O VKFTA.

Đối với mặt hàng điều:

Trong AKFTA và nhiều FTA khác, quy tắc xuất xứ dành cho hạt điều là xuất xứ thuần túy, tức là toàn bộ công đoạn trồng, thu hoạch, chế biến, đóng hộp diễn ra trên lãnh thổ Việt Nam. Tuy nhiên, có những thời điểm doanh nghiệp Việt Nam phải nhập khẩu nguyên liệu từ các nước để bóc tách, sấy… rồi xuất khẩu, với những công đoạn như vậy sản phẩm hạt điều sẽ không được coi là có xuất xứ. Trong VKFTA, hạt điều có quy tắc xuất xứ lỏng hơn, tức là doanh nghiệp nhập khẩu bất kỳ ở đâu về chế biến  công đoạn đơn giản “Bóc vỏ đơn giản, trích hạt, hoặc làm tróc hạt (không áp dụng cho 0801.32) những sản phẩm qua công đoạn chế biến sẽ được coi là có xuất xứ..

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Stefano Inama, Ho Quang Trung, Tran Ba Cuong, Phan Sinh (2011), “Báo cáo đánh giá tác động của quy tắc xuất xứ trong các Hiệp định thương mại tự do của Việt Nam”, EU-MUTRAP III, Hà Nội.

Trung tâm WTO và hội nhập, VCCI (2015), “Tóm tắt Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - Hàn Quốc”, Hà Nội.

Trịnh Thị Thu Hiền (2014), “Hỗ trợ xuất khẩu cho doanh nghiệp thông qua tận dụng ưu đãi FTA”, Hà Nội.

Veena Jha, Francesco Abbate, Nguyễn Hoài Sơn, Phạm Anh Tuấn, Nguyễn Lê Minh (2011), “Báo cáo tác động của Hiệp định thương mại tự do ASEAN – Hàn Quốc đối với kinh tế Việt Nam”, EU-MUTRAP III, Hà Nội.

Vũ Xuân Hưng (2015), “Làm gì để hưởng ưu đãi thuế quan trong VKFTA”, Hội thảo giới thiệu Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Hàn Quốc, Thành phố Hồ Chí Minh.

The ASEAN Secretariat (2012), “Primer on Rules of origin: Asean – Australia – New Zealand Free trade area”, Jakarta, Indonesia.

Ngọc Thành - TT WTO

Từ khóa: Quy tắc xuất xứ, Hiệp định thương mại tự do Việt Nam-Hàn Quốc, ASEAN-Hàn Quốc, khuyến nghị, doanh nghiệp

Chuyên mục RCEP

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Phân tích - Bình luận

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Thư viện hội nhập

thu vien

Xem nhiều nhất


phong ve thuong mai

Video

Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field

Liên kết

 

Lượt truy cập

008751657
Go to top