JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU
Phân tích - Bình luậnAEC và những tác động đối với một số lĩnh vực trọng yếu

AEC và những tác động đối với một số lĩnh vực trọng yếu

AEC-TPP

GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CỘNG ĐỒNG KINH TẾ ASEAN

Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) là một khối kinh tế khu vực của các quốc gia thành viên ASEAN. AEC là một trong ba trụ cột quan trọng của Cộng đồng ASEAN nhằm thực hiện các mục tiêu đề ra trong Tầm nhìn ASEAN 2020. Hai trụ cột còn lại là: Cộng đồng An ninh ASEAN và Cộng đồng Văn hóa-Xã hội ASEAN.

Trong khuôn khổ Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 27 tại Malaysia, ngày 22-11-2015, các nhà lãnh đạo ASEAN đã ký Tuyên bố Kuala Lumpur 2015 về thành lập Cộng đồng ASEAN vào ngày 31 tháng 12 năm 2015. Tuyên bố Hòa hợp ASEAN II nhấn mạnh: Cộng đồng Kinh tế ASEAN là việc thực hiện mục tiêu cuối cùng của hội nhập kinh tế trong "Tầm nhìn ASEAN 2020", nhằm hình thành một khu vực kinh tế ASEAN ổn định, thịnh vượng và có khả năng cạnh tranh cao, trong đó hàng hóa, dịch vụ, đầu tư sẽ được chu chuyển tự do, và vốn được lưu chuyển tự do hơn, kinh tế phát triển đồng đều, đói nghèo và chênh lêch kinh tế-xã hội được giảm bớt vào năm 2020. Kế hoạch trung hạn 6 năm lần thứ hai của ASEAN (2004-2010)- Chương trình Hành động Vientian- đã xác định rõ hơn mục đích của AEC là: tăng cường năng lực cạnh tranh thông qua hội nhập nhanh hơn, nhằm thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế của ASEAN.

Các biện pháp chính mà ASEAN sẽ cần thực hiện để xây dựng một thị trường ASEAN thống nhất bao gồm: hài hòa hóa các tiêu chuẩn sản phẩm (hợp chuẩn) và qui chế, giải quyết nhanh chóng hơn các thủ tục hải quan và thương mại, và hoàn chỉnh các quy tắc về xuất xứ.

Các biện pháp để xây dựng một cơ sở sản xuất ASEAN thống nhất sẽ bao gồm: củng cố mạng lưới sản xuất khu vực thông qua nâng cấp cơ sở hạ tầng, đặc biệt là trong các lĩnh vực năng lượng, giao thông vận tải, công nghệ thông tin và viễn thông, và phát triển các kỹ năng thích hợp.

Các biện pháp nói trên đều đã và đang được các nước thành viên ASEAN triển khai trong khuôn khổ các thỏa thuận và hiệp định của ASEAN. Như vậy, AEC chính là sự đẩy mạnh những cơ chế liên kết hiện có của ASEAN, như Hiệp định Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN (AFTA), Hiệp định Khung ASEAN về Dịch vụ (AFAS), Khu vực Đầu tư ASEAN (AIA), Hiệp định Khung về Hợp tác Công nghiệp ASEAN (AICO), Lộ trình Hội nhập Tài chính và Tiền tệ ASEAN, v.v…, để xây dựng ASEAN thành "một thị trường và cơ sở sản xuất thống nhất". Nói cách khác, AEC là mô hình liên kết kinh tế khu vực dựa trên và nâng cao những cơ chế liên kết kinh tế hiện có của ASEAN có bổ sung thêm hai nội dung mới là tự do di chuyển lao động và di chuyển vốn tự do hơn.

Các ngành ưu tiên hội nhập gồm: 7 ngành sản xuất hàng hóa là nông sản, thủy sản, sản phẩm cao su, sản phẩm gỗ, dệt may, điện tử, ô tô; 2 ngành dịch vụ là hàng không và e- ASEAN (hay thương mại điện tử); và, 2 ngành vừa hàng hóa vừa dịch vụ là y tế và công nghệ thông tin. Tháng 12 năm 2006, tại Hội nghị Bộ trưởng Kinh tế ASEAN, các bộ trưởng đã quyết định đưa thêm ngành hậu cần vào danh mục ngành ưu tiên hội nhập. Như vậy, tổng cộng có 12 ngành ưu tiên hội nhập. Các ngành nói trên được lựa chọn trên cơ sở lợi thế so sánh về tài nguyên thiên nhiên, kỹ năng lao động, mức độ cạnh tranh về chi phí, và mức đóng góp về giá trị gia tăng đối với nền kinh tế ASEAN. Các nước Brunei, Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore, Thái Lan sẽ hạ thuế quan đối với các sản phẩm của 12 ngành ưu tiên xuống 0% vào năm 2007, trong khi đối với các nước còn lại sẽ là năm 2012

ĐÁNH GIÁ TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP AEC

Xác định mức độ hiện tại của tiến trình hội nhập hướng đếnviệc biến ASEAN thành một thị trường và một cơ sởsản xuất chung duy nhất (đây cũng là nội dung trụ cột trong kế hoạch AEC) không phải là một nhiệm vụ dễ dàng. Từng lĩnh vực trong năm lĩnh vực chính (cụ thể gồm hàng hóa, dịch vụ,đầu tư, vốn và lao động lành nghề) đều có danh sách chi tiết về các hành động, sáng kiến, và mục tiêu cần đạt được vào những mốc thời gian cụ thể. Ban Thư ký ASEAN đã đưa raBiểu đánh giá thực hiện AEC, và trong bản cập nhật mới nhất vào​​tháng 10/2013, biểu đánh giá này cho biết đã đạt được 79,7% chỉ tiêu kế hoạch. Sau đó, các nước ASEAN cũng đã có khá nhiều nỗ lực đẩy mạnh tiến trình hội nhập, trong đó có việc ký kết Biên bản ghi nhớ cho Khuôn khổ kế hoạch đầu tư chung của ASEAN vào năm 2013 theo nội dung trụ cột trong bản kế hoạch AEC.

Mặc dùcác chỉ số mà Biểu đánh giá cung cấp khá rộng, nhưng nó vẫn có những hạn chế nhất định trong việc đánh giá vấn đề thực hiện AEC, vì nó thiếu tính cụ thể và người xem biểu đánh giá phải tự diễn giải các ý nghĩa sâu hơn của các con số và đề mục. Hơn nữa, Biểu đánh giá không thể hiện được cách thức thực hiện AEC ở từng lĩnh vực. Trong một số trường hợp, biểu đánh giá này chỉ đơn giản ghi nhận việc chính phủ các nước đã nhất trí thông qua một chính sách nào đó, chứ không ghi nhận việc chính sách này có được áp dụng hoặc được đưa vào luật pháp của từng nước hay không. Các dữ liệu được sử dụng để tính toán mức độ tiến bộ cũng dựa trên bản tự đánh giá do các nước thành viên cung cấp. Ban Thư ký ASEAN đang nghiên cứu một hệ thống giám sát dựa trên kết quả nhằm bổ sung phương pháp tiếp cận hiện tại.

Chúng tôi đã tiến hành đánh giá dựa trên từng lĩnh vực, trong đó những khu vực tồn tại cácrào cản hội nhập sẽ được làm rõ. Phân tích này nhằm phản ánh tình trạng hội nhập “trên bề mặt”, tức là chỉ hội nhập về khía cạnh hàng hóa, dịch vụ, đầu tư và lao động có tay nghề cao chứ không có sự tiến bộ trong việc áp dụng các chính sách như trong nội dung của Kế hoạch AEC đã đề cập. Thuế quan được loại bỏ trên nhiều loại hàng hoá, nhưng các loại rào cản vẫn là một trở ngại đối với thương mại tự do, và tiến bộ về tự do hóa dịch vụ và đầu tư là khá chậm (Bảng 1). Ngày nay, các hoạt động xuyên biên giới là vô cùng quan trọng đối với vấn đề hội nhập sâu rộng. Ví dụ, trong lĩnh vực ô tô, các biện pháp phi thuế quan như giấy phép nhập khẩu và biện pháp kiểm soát số lượng có thể hạn chế khả năng phát triển của nhà sản xuất.

P86

1 Dựa trên đánh giá của Indonesia, Malaysia, Philippines, Thái Lan, Việt Nam. Các nước Brunei, Campuchia, Lào, Myanmar bị loại trừ trong bản trên do thiếu dữ liệu đầy đủ; Singapore bị loại trừ để tránh thiên vị đối với các nền kinh tế phát triển.

2 Bao gồm phí hành chính, giấy chứng nhận phê duyệt, giấy phép nhập khẩu, biện pháp kiểm soát số lượng, các loại thuế nội địa, và các biện pháp cấm.

3 Bao gồm khai thác khoáng sản, dầu mỏ và khí đốt.

4Sự sẵn sàng về phương diện kỹ thuật sốthông qua kết nối,hàm lượng nội địa, thương mại điện tử, thị trường chung cho hàng hóa và dịch vụ ICT, phát triển kỹ năng, chính phủ điện tử.

5Các ngành không nằm trong thỏa thuận công nhận lẫn nhau.

Nguồn: cơ sở dữ liệu tích hợp của Viện McKinsey Global

Lưu ý phía trên là chỉ là ý kiến đánh giá riêng của chúng tôi, dựa trên một số liệu của một bộ phận nhỏ của mỗi ngành để xác định mức độ hội nhập chung của từng ngành, nhưng thực ra có một số các yếu tố nhất định có tầm quan trọng nhiều hơn các yếu tố khác. Khảo sát của chúng tôi về các công ty (được thảo luận dưới đây) cho thấy các doanh nghiệp lo ngại về vấn đề rào cản nhiều hơn các vấn đề khác. Ngoài ra, do việc tiếp cận các dữ liệu bị hạn chế, vì vậy chúng tôi đã phải dựa vào các nguồn dữ liệu được công bố công khai.

Tuy việc hội nhập hoàn toànvào năm 2015 là rất khó xảy ra, nhưng tiến trình hội nhập cũng thực sự đã đạt được nhiều tiến bộ. Trong đó, bước tiến đáng chú ý nhất là việc mạnh mẽ xóa bỏ thuế quan. Mức thuế suất bình quân tại5 nước thành viên ban đầu của AEC (gồm Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore và Thái Lan) đã hầu như bằng 0 từ năm 2010.

Nhưng tốc độ giảm bớt các loại rào cản lại chậm hơn so với việc xóa bỏ thuế quan. Theo kết quả khảo sát năm 2013, 38% các công ty đa quốc gia đang hoạt động tại khu vực Đông Nam Á cho biếtcác thủ tục hải quan trong khu vực này khôngthống nhất. Hơn 50% doanh nghiệp được khảo sát cảm thấy có rất ít tiến bộ trong việc hài hóa hóa các quy định về thương mại xuyên biên giới.Theo khảo sát, 5 lĩnh vực có mức độ hài hòa hóa qua biên giới thấp nhất tại khu vực ASEAN gồm lĩnh vực truyền thông và tiếp thị, bất động sản và xây dựng, hàng hóa và năng lượng, hàng tiêu dùng và chăm sóc sức khỏe, và cuối cùng là dược phẩm.

Tuy nhiên, đã có một số bước tiến nhỏ trong việc đồng nhất các tiêu chuẩn. Chẳng hạn, các nước ASEAN đã đồng ý loại bỏ các hạn chế thương mại đối với các thiết bị điện và điện tử bằng cách hài hòa hóa các yêu cầu kỹ thuật.Tiến trình hội nhập cũngdiễn ra nhanh hơn đối với các lĩnh vực hàng hóa thương mại (đặc biệt là đối với ô tô, dệt may, gỗ) so với các lĩnh vực dịch vụ (ví dụ như tài chính và chăm sóc sức khỏe). Trong một số ngành nhất định, chẳng hạn như mỹ phẩm và chiếu sáng, tiến độ hội nhập diễn ra đặc biệt mạnh mẽ.

Có 2 nhân tố quan trọng tạo động lực cho sự hội nhập. Nhân tố đầu tiên là suy nghĩ của các chủ doanh nghiệp. Trong một số lĩnh vực, hội nhập được xem là mang lại nhiều lợi ích tích cực, do đó các bên liên quan tại địa phương không phản đốisự thay đổi trong tiến trình hội nhập. Nhân tố thứ hai là liệu các doanh nghiệp chủ chốt trong một lĩnh vực nào đó có sẵn sàng dành nguồn lực để làm việc với các cơ quan chức năng nhằm thúc đẩy quá trình chuyển tiếp hay không. Ví dụ, trong ngành công nghiệp mỹ phẩm, Ủy ban Tư vấn về Tiêu chuẩn và Chất lượng ASEAN đã tích cực đặt nền móng 4 năm trước khiKế hoạch hài hòa các quy định về mỹ phẩm ASEAN – với mục đích xóa bỏ các rào cản kỹ thuật đối với các sản phẩm mỹ phẩm - được ký kết.  L'Oréal là một trong những bên tích cực thúc đẩy việc ký kết kế hoạch trên bằng cách tích cực hợp tác với các nhà lập pháp tại các nước cũng như ngành công nghiệp mỹ phẩm tại các địa phương. Theo kế hoạch trên, các sản phẩm được sản xuất hoặc bán tại bất kỳ quốc gia nào đã ký kết kế hoạch trên, đồng thời đáp ứng đầy đủ các yêu cầu quy định trong kế hoạch thì có thể tiếp cận trực tiếp với thị trường các nước thành viên khác. Các chính phủ đóng vai trò cơ bản trong việc thiết lập các điều kiện, trong đó có thể giúp tăng cường hoặc hạn chế dòng chảy của hàng hóa và dịch vụ, do đó sự tham gia của chính phủ là rất quan trọng trong việc loại bỏ các loại rào cản pháp lý.

 

Mặc dù các hiệp định thương mại tự do trong khu vực giúp mức thuế thấp hơn, nhưng thật ra các hiệp định này vẫn chưa được tận dụng tốt. Một cuộc khảo sát của Economist Intelligence Unit cho thấy tỷ lệ trung bình của Indonesia, Malaysia, Singapore, và Việt Nam trong việc tận dụng các hiệp định thương mại tự do đã được ký kết chỉ có 26%. Nói cách khác, chỉ có 1/4 các nhà xuất khẩu tận dụng các hiệp định này.48Tỷ lệ tận dụng các hiệp định thương mại tự do của Malaysia là thấp nhất, chỉ có 16%, tiếp theo là Singapore với 21%, Việt Nam là 37%, và Indonesia ở mức 42%. Mặc dù tỷ lệ tận dụng trung bình đối với Khu vực thương mại tự do ASEAN cao hơn các hiệp định thương mại khác, nhưng cũng chỉ nằm ở mức 50%. Đối với Khu vực thương mại tự do ASEAN, Việt Nam có mức tận dụng cao nhất (65%), tiếp đó là Indonesia (51%), Singapore (43%), và Malaysia (39%).

Để hiểu lý do tại sao các doanh nghiệp không tận dụng các hiệp định nhiều hơn để gia tăng thương mại, chúng tôi đã khảo sát hơn 90 doanh nghiệp ở khu vực ASEAN (bao gồm cả các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các công ty địa phương, và đa quốc gia) và tiến hành nhiều cuộc phỏng vấn. Câu trả lời của các doanh nghiệp đãnêu bật một số rào cản cụ thể, chẳng hạn như hạn chế về đầu tư trực tiếp nước ngoài, các tiêu chuẩn và quy định không thống nhất và các quy trình thủ tục hải quan không hiệu quả. (Biểu đồ 1)

P87

Hạn chế về đầu tư nước ngoài khác nhau đáng kể giữa các nước và giữa các lĩnh vực trong ASEAN (Bảng2). Các lĩnh vực nằm trong mối quan tâmtrọng yếu của quốc gia, chẳng hạn như hàng không và viễn thông, có mức độ tự do hóa kém khá xa so với các lĩnh vực khác như logistics.

P88

TÁC ĐỘNG CỦA HỘI NHẬP KINH TẾ ASEAN THEO LĨNH VỰC

Trong khi những lợi ích kinh tế của hội nhập ASEAN đối với với nhiều khu vực và ngành nghề là rõ ràng nhưng mức độ hưởng lợi sẽ không được phân bố một cách đồng đều. Trong một số trường hợp, chuỗi sản xuất và chế biến khu vực sẽ được hình thành, có thể với các nước có thu nhập cao hơn như Indonesia, Malaysia và Thái Lan một cấu trúc chuỗi phức tạp hơn sẽ được tạo ra thì các nước có thu nhập thấp như Campuchia, Lào, Myanmar và Việt Nam có khả năng sẽ trở thành những trung tâm lắp ráp. Điều này tương tự như mô hình phát triển của ngành công nghiệp ô tô tại Liên minh châu Âu: các nhà sản xuất ô tô gia tăng năng lực sản xuất tại khu vực Đông Âu để tận dụng lợi thế lao động giá rẻ trong khi duy trì hoạt động chiến lược và nghiên cứu phát triển chuyên sâu ở các nước phát triển hơn trong khu vực. Đã có bằng chứng cho thấy việc gia tăng năng lực sản xuất và chuẩn bị cho quy trình sản xuất phức tạp hơn ở Đông Âu là nhằm bù đắp cho chi phí lương tăng.

Trong một số trường hợp khác có thể xảy ra kịch bản thắng-bại, theo đó các doanh nghiệp nào thể hiện tốt sẽ tiếp tục phát triển mạnh, doanh nghiệp nào hoạt động kém hiệu quả sẽ phải gặp thất bại. Mở cửa sẽ tạo ra môi trường quốc tế cạnh tranh và cuộc chiến giành thị phần do đó các doanh nghiệp cần chuẩn bị để có sự phản ứng một cách nhanh chóng. Các nghiên cứu từ Liên minh châu Âu cho thấy những lĩnh vực có quy mô lớn (như hàng không hay công nghiệp ô tô) có thể trải qua sự phân tách lớn trong bối cảnh cạnh tranh.

Lực đẩy chiến lược của mỗi công ty phụ thuộc vào tiến độ và những tác động theo ngành của quá trình hội nhập. Tiến trình hội nhập hiện nay được đánh giá dựa trên các biện pháp thuế quan, phi thuế quan, thủ tục thương mại, giới hạn trong lĩnh vực dịch vụ, giới hạn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và dịch chuyển lao động. Ảnh hưởng tiềm năng của quá trình hội nhập dựa trên các cuộc phỏng vấn doanh nghiệp và chuyên gia cùng với phân tích MGI. Nó bao gồm năng suất tiết kiệm theo quy mô, chi phí giao dịch, chi phí hậu cần, chi phí hàng tồn kho, tối ưu hóa chi phí cũng tăng cầu thông qua thâm nhập các thị trường mới. Tác động tiềm năng này không bao gồm những ảnh hưởng từ các thỏa thuận giữa các nước thành viên ASEAN với các quốc gia khác lẫn những ảnh hưởng thứ cấp từ hội nhập ngành (như thúc đẩy tăng trưởng kinh tế chung và hệ quả của tăng trưởng lên doanh thu ngành).

Ảnh hưởng của hội nhập cộng đồng kinh tế ASEAN theo lĩnh vực

P89

Lĩnh vực dịch vụ tài chính

Các nước ASEAN đang tập trung cao độ vào thị trường dịch vụ tài chính, với ba đối thủ hàng đầu, chiếm 40-50% tổng tài sản (trừ Việt Nam). Tuy nhiên, ngành ngân hàng của khu vực vẫn bị phân tán do sự không tương thích về quy định giữa các quốc gia. Các quốc gia có thu nhập thấp vẫn đang phát triển cơ sở hạ tầng tài chính, khuôn khổ pháp lý và nâng cao khả năng. Đặc biệt tại Campuchia, Thái Lan, Indonesia thị phần ngân hàng của các nước ASEAN vẫn rất thấp trong khi thị trường chi phối lớn bởi các ngân hàng nước ngoài. Điều này dẫn đến kết quả là quy mô tổng tài sản thấp và ảnh hưởng đến tính thanh khoản của hệ thống gây khó khăn cho các tổ chức tài chính khu vực cạnh tranh trên thị trường tài chính thế giới. Nó cũng làm các tổ chức này dễ bị tổn thương trước những cú sốc bên ngoài.

Kiểm soát và các biện pháp hạn chế hoạt động của các ngân hàng nước ngoài tại thị trường trong nước cũng cản trở sự hội nhập của ngành ngân hàng khu vực. Ngoài việc hạn chế cấp phép, quy định về quyền sở hữu… các biện pháp hạn chế còn áp dụng đối với lao động có kỹ năng và thông tin.

Hội đồng kinh doanh AEC nhận định rằng dịch vụ tài chính tách biệt với các lĩnh vực dịch vụ khác và khuyến nghị rằng tự do hóa lĩnh vực tài chính không nhất thiết phải đồng bộ giữa các nước với nhau vì ưu tiên của chính phủ là ổn định tài chính. Thống đốc ngân hàng Trung ương các nước ASEAN đã tán thành khuôn khổ hội nhập ngân hàng ASEAN vào tháng 4 năm 2011, tuy nhiên tiến triển hiện vẫn rất chậm chạp do nhiều vấn đề nhạy cảm. Ngoài việc thiết lập tiêu chuẩn các ngân hàng đạt chất lượng, các nghiên cứu học thuật cũng đề ra 5 khu vực cần phải hài hòa bao gồm: chuẩn mực kế toán ngân hàng, yêu cầu công bố thông tin; yêu cầu vốn tối thiểu; hành động khắc phục; phương pháp giải quyết phá sản trong lĩnh vực ngân hàng và các biện pháp chống rửa tiền và bảo vệ người tiêu dùng.

Tương tự, trên thị trường vốn Khuôn khổ Đầu tư ASEAN cho phép các nhà quản lý quỹ cung cấp trực tiếp sản phẩm đến các nhà đầu tư nhỏ lẻ thông qua tiến trình sắp xếp hợp lý. Nhưng chỉ có Malaysia, Singapore và Thái Lan đã chọn tham gia, mặc dù khuôn khổ đã được Bộ trưởng Tài chính các nước ASEAN thông qua vào năm 2009.

Kết nối giao dịch ASEAN được công bố vào tháng 9 năm 2012, tích hợp thị trường chứng khoán Malaysia, Singapore và Thái Lan để tạo ra một nền tảng duy nhất cho giao dịch chứng khoán ASEAN. Nhưng 2 trong số các thị trường tài chính lớn nhất của khu vực là Indonesia và Philippines cho đến nay đã hoãn kế hoạch kết nối.

Lĩnh vực hàng không

Ngành hàng không là một trong những ngành dịch vụ ưu tiên trong mục tiêu hội nhập của các nước Đông Nam Á. Ngành này có sự tăng trưởng mạnh mẽ trong 10 năm qua, được thúc đẩy bởi sự xuất hiện của một số hãng hàng không giá rẻ như Lion Air, AirAsia hay Tiger Airways với việc loại bỏ dần yêu cầu thị thực đối với khách du lịch ngắn hạn là công dân của ASEAN. Về phía khách hàng, cạnh tranh đã liên tục đẩy giá vé xuống mức hợp lý, tạo ra nhu cầu mới và biến du lịch nội khối ASEAN trở thành một trong những thị trường tăng trưởng nhanh nhất trên toàn cầu trong vòng 5 năm qua. Theo Amadeus - một công ty công nghệ du lịch, chi phí hàng không thấp của các nước Ấn Độ, Indonesia, Malaysia và Thái Lan đã đóng góp hơn 50% vào tăng trưởng công suất tàu bay toàn cầu trong nửa đầu năm 2013.

Với chính sách mở cửa bầu trời nhiều đường bay giữa các thủ đô và các thành phố phụ cận trong ASEAN đã được mở ra, khuyến khích sự cạnh tranh giữa các hãng hàng không mới và các hãng hàng không truyền thống của mỗi quốc gia.  

Tuy nhiên, hội nhập trong lĩnh vực hàng không vẫn đang trong quá trình tiến triển. Việc đi lại của công dân giữa các quốc gia ASEAN đã trở nên dễ dàng hơn nhưng vẫn còn nhiều rào cản. Myanmar là một ví dụ khi nước này chưa ký kết hiệp định miễn thị thực du lịch với Indonesia, Malaysia, Singapore và Thái Lan. Mục tiêu đầy tham vọng là thiết lập lên một khu vực sử dụng một thị thực chung ASEAN có thể sẽ cần thêm một thời gian nữa trước khi trở hiện thực.

Về phía cung cũng đang tồn tại một số rào cản. Các tuyến bay nội địa chỉ mở cửa cho các hãng hàng không thuộc quốc gia đó. Hiệp định ASEAN về dịch vụ Hàng không và Hiệp định ASEAN về tự do hóa đầy đủ dịch vụ hàng không cho phép các hãng hàng không có thể phục vụ bất cứ đường bay quốc tế nào trong ASEAN nhưng không áp dụng cho các đường bay nội địa. Điều này vẫn là hạn chế nếu so với mô hình “bầu trời mở” của châu Âu.  

Quy định này đã buộc các nhà khai thác hàng không phải thiết lập các công ty độc lập tại từng nước ASEAN nếu muốn thâm nhập vào thị trường nội địa của nhau. Hạn chế này cản trở các hãng hàng không ASEAN đạt được lợi thế theo quy mô trong khu vực mà những hãng hàng không của EU có được. Bên cạnh đó, còn có những hạn chế về quyền bay giữa các thành phố lớn và thiếu các tiêu chuẩn chung của khu vực về kỹ thuật và kiểm soát không lưu.

Ngoài ra, các hãng hàng không ASEAN cũng đang phải giải quyết vấn đề dư thừa công suất và chi phí đầu tư cao. Một số hãng đã thua lỗ nặng nề trong những năm gần đây. Hợp nhất với các hãng trong khu vực hoặc ngoài khu vực có thể là giải pháp cuối cùng cho vấn đề này. Tuy nhiên, tại ASEAN cũng như trên thế giới, hàng không là lĩnh vực được bảo vệ cao vì liên quan đến hình ảnh quốc gia, đặc biệt trong việc thúc đẩy du lịch do vậy sáp nhập đầy đủ là hết sức phức tạp nếu không có nhiều hơn nữa tự do hóa trên phạm vi toàn cầu. Cấu trúc đặc biệt như cách mà hãng hàng không Air France của pháp và KLM của Mỹ Latin thực hiện có thể là một giải pháp để tham khảo.

Lĩnh vực năng lượng

Nhu cầu năng lượng trong ASEAN dự báo sẽ tăng khoảng 80% đến năm 2035, mức tăng tương đương với nhu cầu tiêu thụ năng lượng hiện nay của Nhật Bản. Kế hoạch hành động ASEAN về hợp tác năng lượng 2010-2015 đã nỗ lực để giải quyết vấn đề này. Kế hoạch này phác thảo mối quan hệ hợp tác để phát triển mạng lưới điện và các đường ống dẫn khí xuyên ASEAN, tất cả đều liên quan đến việc xây dựng kết nối sẽ hạ tầng xuyên biên giới. Để thực hiện sáng kiến ​​này vẫn còn nhiều việc phải làm, chẳng hạn như hài hòa các tiêu chuẩn kỹ thuật, loại bỏ dần trợ giá với người dùng cuối, đảm bảo lưới điện của bên thứ ba, khả năng kết nối đường dẫn khí và thiết lập quy định của cả khu vực. Tuy nhiên, kế hoạch đầy tham vọng này dự kiến sẽ chỉ đáp ứng một phần nhu cầu trong tương lai ​​của ASEAN.

Xây dựng một mạng lưới cung cấp năng lượng đáng tin cậy đến bất kỳ đâu trong ASEAN đòi hỏi nỗ lực phối hợp trên nhiều mặt trận khác nhau: thiết lập hệ thống kết nối, cơ cấu hợp tác kinh doanh để duy trì và vận hành hệ thống, hài hòa các tiêu chuẩn kỹ thuật vận chuyển khí đốt.

Lĩnh vực tự động

Ngành ô tô đã được hưởng lợi từ hội nhập đặc biệt là từ việc cắt giảm thuế quan trong ASEAN-5 (Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore và Thái Lan). Nhưng lĩnh vực này vẫn còn đối mặt với các rào cản phi thuế quan như giấy phép nhập khẩu (bao gồm các biện pháp kiểm soát số lượng và giấy phép sản phẩm nhạy cảm), các khoản thuế tiêu thụ đặc biệt, quy chuẩn kỹ thuật (bao gồm tiêu chuẩn chất lượng và quy định về hàm lượng xả thải) và các quy định cấm khác.

Hội nhập sâu hơn sẽ giúp ngành công nghiệp ô tô đạt được lợi thế lớn hơn về quy mô, có thể tiết kiệm chi phí từ 10-15%. Lưu ý rằng các hãng ô tô ASEAN sở hữu năng lực sản xuất dưới 100.000 xe mỗi năm, thấp hơn so với ngưỡng hiệu quả của ngành công nghiệp này. Điều này chỉ có thể được giải quyết bằng cách liên kết sản xuất giữa các quốc gia, mặc dù sự nhạy cảm chính trị có thể buộc các nhà sản xuất phải tìm cách gia tăng công suất tại những khu vực có lợi thế hơn là dịch chuyển sản xuất. Thái Lan hiện đang ở vị trí tốt để hưởng lợi từ sự tăng trưởng của thị trường chung. Phân tích của hãng McKinsey cho thấy mặc dù chi phí sản xuất ô tô tại Thái Lan cao hơn 20-25% so với Indonesia và Việt Nam nhưng nước này đang được hưởng lợi do hệ thống công nghiệp phụ trợ phát triển mạnh mẽ.

Trên toàn khu vực ASEAN, các chuyên gia dự đoán rằng tăng trưởng của ngành ô tô sẽ được thúc đẩy bởi nhu cầu của Myanmar và các khu vực mới nổi khác. Trong dài hạn, sự tăng trưởng này sẽ tạo ra các trung tâm sản xuất mới giúp ASEAN đạt được năng lực sản xuất khả dụng.

Lĩnh vực viễn thông

Viễn thông không phải là một trong những lĩnh vực ưu tiên được xác định trong kế hoạch AEC nhưng tiến trình hội nhập vẫn tác động đến ngành này theo theo nhiều cách khác nhau. Đầu tiên, các quan chức AEC đang thảo luận kế hoạch giảm giá chuyển vùng trong ASEAN thông qua các khuôn khổ pháp lý hiện có. Ảnh hưởng tiềm năng lên lợi nhuận ngành là không chắc chắn và phụ thuộc vào mức độ và lưu lượng kết nối khi giá chuyển vùng giảm. Ví dụ, tại Trung Quốc khi cước chuyển vùng giảm thì sau đó lưu lương chuyển vùng đã tăng 46%.  Diễn biến này trong ASEAN cho đến nay vẫn chưa có nhiều tiến triển khả quan do sự phức tạp của hệ thống quản lý giữa các quốc gia. Trong khi đó, một hội thảo chung giữa ASEAN và EU về chuyển vùng dữ liệu và giọng nói được tổ chức vào tháng 9/2012 đã kết luận rằng các thỏa thuận song phương giữa các quốc gia thành viên ASEAN nhằm giảm chi phí chuyển vùng di động sẽ là một giải pháp ngắn hạn thích hợp. Hành động này cũng đã được Singapore và Malaysia triển khai vào năm 2011.

Thứ hai, quy mô thực sự có ảnh hưởng đáng kể trong lĩnh vực viễn thông. Ví dụ, hãng Telefónica hoạt động tại 24 quốc gia, hiện diện mạnh mẽ tại châu Âu và châu Mỹ Latin. Telefónica hy vọng sẽ tiết kiệm được gần 2 tỷ USD trong dài hạn từ mô hình hoạt động tích hợp mới, trong đó 10-15% đến từ bộ phận dịch vụ chia sẻ công nghệ và 55-65% đến từ hoạt động kết nối. Trong khi đó, tại ASEAN, quy định về sở hữu nước ngoài, các biện pháp giới hạn hoạt động cản trở các công ty đạt được sự hiệu quả từ hoạt động xuyên biên giới. Ví dụ, Indonesia hạn chế tỷ lệ sở hữu đối với các hãng viễn thông nước ngoài là dưới 49% đối với viễn thông cố định và 65% đối với viễn thông di động. Hay tại Philippines, cả điện thoại di động và cố định được coi là tiện ích công cộng, với vốn chủ sở hữu nước ngoài giới hạn ở mức 40%.

Tự do hơn nữa các hạn chế này sẽ tăng cường cạnh tranh quốc tế và thúc đẩy cho lĩnh vực thông tin và truyền thông (ICT) trên toàn khu vực ASEAN. 

Lĩnh vực hàng tiêu dùng

Hiện ASEAN đã có nhiều tiến bộ đáng kể trong việc cắt giảm thuế quan đối với hàng hóa tiêu dùng. Nhưng sự khác biệt về tiêu chuẩn trên thị trường khu vực cũng như các rào cản phi thuế khác tiếp tục đặt ra những thách thức cho cả sản xuất và phân phối. Các công ty phải có giấy phép nhập khẩu, giấy chứng nhận tiêu chuẩn, hạn ngạch, nộp thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế tiêu thụ hàng xa xỉ thông qua các kênh nhập khẩu bị giới hạn.

Quy chuẩn kỹ thuật liên quan đến chất lượng hàng hóa được Bộ Y tế kiểm tra, thanh tra, kiểm dịch, dán nhãn có thể thay đổi từ nước này sang nước khác trong khu vực. Ví dụ, hàng hóa phải trải qua một loạt tiêu chuẩn để được chứng  nhận Halal tại Malaysia nhưng một bộ tiêu chuẩn khác sẽ được áp dụng tại Indonesia. Thủ tục giấy tờ để có được các chứng nhận này cũng là một gánh nặng đáng kể.

Ngành hàng tiêu dùng sẽ đạt được nhiều lợi ích kinh tế từ một thị trường thống nhất hơn nhờ vào tiết kiệm chi phí vận tải và lưu kho cũng như khi các thủ tục hành chính được sắp xếp một cách hợp lý. Trong nhiều trường hợp, quy mô sẽ rất có lợi. Các công ty chuyên về thực phẩm dễ bị hư hỏng hoặc thực phẩm chuyên biệt gắn với mỗi khu vực (nằm trong danh mục hàng hóa thực phẩm và đồ uống) có thể không có khả năng được củng cố tiêu chuẩn như ngành công nghiệp ô tô do sự đa dạng về sản phẩm và nguồn nguyên liệu đầu vào. Tuy nhiên, các công ty đã có “thương hiệu quốc gia” rõ ràng có cơ hội mở rộng thị trường dễ dàng hơn, nhanh hơn, tiết kiệm hơn do tận dụng được tài sản, kiến thức và quy mô mang tính địa phương. Thị trường hàng tiêu dùng ASEAN đang được thống trị bởi các công ty đa quốc gia trong khi số lượng các nhà sản xuất có tính địa phương là tương đối ít.

Các rào cản thâm nhập nặng nề về thủ tục hành chính, kéo dài thường là quá cao không chỉ đối với các sản phẩm thịt. Do đó tinh giản thủ tục và hài hòa tiêu chuẩn quy định trên toàn ASEAN sẽ thúc đẩy năng xuất của khu vực.  

Kết luận

Về tổng thể, các nước ASEAN  đã tiến tới các cam kết hội nhập khu vực với phạm vi khá rộng nhưng chủ yếu tập trung vào tự do hóa thương mại hàng hóa. Các lĩnh vực khác như tự do hóa đầu tư và thương mại dịch vụ vẫn còn tương đối hạn chế.  Đáng chú ý là tăng trưởng kinh tế cao và nền kinh tế tiên tiến hơn không hẳn đã đi kèm với môi trường kinh doanh thông thoáng hơn. Những nỗ lực trong tương lai trong quá trình hình thành AEC cũng bị thách thức bởi những bất cập về thể chế và sự khác biệt  đáng kể giữa các nước thành viên ASEAN, cũng như sự xuất hiện của các vấn đề mới, phức tạp, bao gồm cả các  vấn  đề về tranh  chấp  lãnh  hải,  và  các  vấn  đề an  ninh  phi  truyền  thống.

Hội nhập có hiệu quả hơn và sâu rộng hơn trong khuôn khổ ASEAN sẽ mang lại lợi ích cho 

Việt Nam. Theo  đó, Việt Nam cần chủ động thực thi các biện pháp để đảm bảo hội nhập ASEAN diễn ra suôn sẻ, không chỉ cho bản thân mà còn cho các nước thành viên ASEAN khác.

Tài liệu tham khảo

Lê Triệu Dũng, 2015: Cộng đồng Kinh tế ASEAN 2015: Tác động, cơ hội và thách thức,  Kỷ   yếu Hội thảo “Cộng đồng Kinh tế ASEAN – Cơ hội và Thách thức đối với doanh nghiệp Việt Nam”

Hoàng Văn Phương, 2014: Cộng đồng Kinh tế ASEAN: Cơ hội, thách thức đối với Doanh nghiệp Việt Nam, Tài liệu Hội thảo phổ biến về AEC và các FTA Việt Nam đang tham gia, Dự án EU-MUTRAP

Website www.trungtamwto.vn; www.asean.org; www.mckinsey.com 

Thanh Vy - TT WTO 

Từ khóa: AEC, những tác động, một số lĩnh vực trọng yếu, Việt Nam

Chuyên mục RCEP

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Phân tích - Bình luận

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Thư viện hội nhập

thu vien

Xem nhiều nhất


phong ve thuong mai

Video

Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field

Liên kết

 

Lượt truy cập

008753830
Go to top