JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU
Phân tích - Bình luậnCÁC GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY VƯỢT QUA RÀO CẢN KHI VIỆT NAM KÝ KẾT CÁC HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI SONG PHƯƠNG VÀ ĐA PHƯƠNG

CÁC GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY VƯỢT QUA RÀO CẢN KHI VIỆT NAM KÝ KẾT CÁC HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI SONG PHƯƠNG VÀ ĐA PHƯƠNG

trade-2

Trong quan hệ thương mại quốc tế hiện nay, xu hướng tăng cường đàm phán, ký kết và triển khai rộng rãi các FTA sẽ dẫn đến vai trò các hàng rào thuế quan ngày càng giảm, ngược lại các biện pháp phi thuế quan lại trở nên phổ biến hơn.

Vấn đề đặt ra là các rào cản kỹ thuật liệu có trở thành công cụ hữu hiệu hỗ trợ hàng xuất khẩu cũng như quản lý hàng nhập khẩu của Việt Nam hay không? Trong khi hàng hóa xuất khẩu của doanh nghiệp nội địa đối mặt với các thách thức từ rào cản phi thuế quan tại các nước nhập khẩu, thì hàng rào kỹ thuật trong nước dường như chưa đủ sức bảo vệ nhà sản xuất và người tiêu dùng trước hàng nhập khẩu kém chất lượng. Để cải thiện tình trạng này, không chỉ đặt trách nhiệm lên một vài cơ quan quản lý mà cần có sự hiệp lực của nhiều bên, trong đó vai trò quan trọng nhất vẫn là nhà sản xuất, với sự hỗ trợ hiệu quả của Nhà nước.

1.  Một số vấn đề cơ bản:

Rào cản thương mại có nhiều hình thức thể hiện rất phong phú, đa dạng. Các Hàng rào kỹ thuật trong thương mại (Technical Barriers to Trade) là một trong những rào cản thương mại điển hình và khá phức tạp đối với các nhà xuất khẩu.

image001

Sơ đồ các hình thức rào cản thương mại

Theo phạm vi hẹp, đối tượng điều chỉnh của TBT là các quy chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn và quy trình đánh giá sự phù hợp. Tiêu chuẩn và quy định là những công cụ cần thiết nhằm phục vụ an toàn và sức khỏe con người, bảo vệ môi trường, vật nuôi cây trồng, lợi ích người tiêu dùng và an ninh quốc phòng. Mỗi quốc gia đều xây dựng cho mình một hàng rào kỹ thuật hợp pháp, nhằm đảm bảo cung ứng các hàng hóa đạt yêu cầu chất lượng. Nhưng chúng có thể là gánh nặng chi phí và là vấn đề phức tạp đối với doanh nghiệp, đồng thời có xu hướng phát sinh và lạm dụng một cách tinh vi để trở thành rào cản thương mại. Vì vậy, tính minh bạch, dựa trên các tiêu chuẩn quốc tế có liên quan, và không phân biệt đối xử, là rất quan trọng.

Theo Tổng giám đốc WTO Roberto Azevêdo, sau 20 năm triển khai thực hiện Hiệp định TBT, Ủy ban TBT của WTO đã nhận được 25.000 thông báo các biện pháp mới hoặc thay đổi, bổ sung các biện pháp hiện có. Và các thành viên đã tiến hành xây dựng hướng dẫn áp dụng Hiệp định - điều đó đã giúp TBT đi vào cuộc sống và được ứng dụng thực tế. Ủy ban TBT đã xây dựng và áp dụng chức năng phòng ngừa trước rất quan trọng. Trong suốt sự tồn tại của mình, Uỷ ban TBT đã xử lý 471 mối quan ngại thương mại cụ thể - là lĩnh vực rất có khả năng xảy ra những bất đồng. Tuy nhiên, chỉ có 05 tranh chấp liên quan đến TBT, và hiện chỉ có một đang phải giải quyết[1]. Số lượng tranh chấp có liên quan thực tế rất ít cho thấy hiệu quả của việc triển khai áp dụng Hiệp định TBT.

2.  Bối cảnh mới về hội nhập kinh tế quốc tế:

2.1.  Xu hướng tham gia các FTA của Việt Nam:

Sau khi gia nhập WTO, Việt Nam tích cực tham gia đàm phán FTA song phương và khu vực. Mặc dù là quốc gia đang phát triển (trong nhóm CLMV của ASEAN), nhưng so sánh với các nước trong khu vực thì Việt Nam có tốc độ hội nhập và mức độ liên kết kinh tế với các thị trường lớn trên thế giới chỉ sau Singapore. Tính đến nay, Việt Nam đã ký kết, kết thúc và và tham gia đàm phán 15 FTA chính, bao gồm:

    a/   Ký kết và thực thi: 08 FTA

Hiệp định Khu vực Tự do Thương mại ASEAN (AFTA);

05 FTA giữa ASEAN với các đối tác (ASEAN+), gồm:

  • FTA giữa ASEAN và Trung Quốc (ACFTA);
  • FTA giữa ASEAN và Hàn Quốc (AKFTA);
  • FTA giữa ASEAN và Nhật Bản (AJFTA);
  • FTA giữa ASEAN và Ấn Độ (AIFTA); và
  • FTA giữa ASEAN và Australia – New Zealand (AANZFTA).

02 Hiệp định Thương mại song phương:

  • Hiệp định Đối tác Kinh tế toàn diện Việt Nam - Nhật Bản (VJEPA);
  • Hiệp định thương mại tự do song phương Việt Nam – Chile;

    b/   Ký kết nhưng chưa có hiệu lực: 02 FTA

Hiệp định TM tự do Việt Nam – Hàn Quốc, ký kết 05/5/2015; dự kiến có hiệu lực từ 01/01/2016;

Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Liên minh Kinh tế Á Âu (29/5/2015)

    c/   Kết thúc đàm phán: 02 FTA thế hệ mới

FTA giữa Việt Nam và Liên minh Châu Âu (EVFTA), công bố kết thúc đàm phán ngày 04/8/2015;

Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) tuyên bố kết thúc đàm phán ngày 05/10/2015.

    d/   Đang đàm phán:

FTA với Khối Thương mại tự do Châu Âu (EFTA) gồm 4 nước ngoài EU: Na uy, Thụy sĩ, Ai-xơ-len và Lich-ten-xtanh. 

Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP).

Một số ASEAN+ khác (ví dụ với Hongkong)

    e/   Ngoài ra, Việt Nam tham gia thành lập Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) vào cuối năm 2015.

Như vậy, Việt Nam đã và sẽ có các mối quan hệ kinh tế sâu rộng với ít nhất 56 quốc gia và vùng lãnh thổ, chiếm phần lớn quan hệ thương mại của Việt Nam. Các FTA góp phần quan trọng cho việc hội nhập kinh tế quốc tế phát triển theo chiều sâu và ảnh hưởng tích cực đến thu hút FDI và hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam.

Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa năm 2014 đã đạt trên 150 tỷ USD, đưa tỷ lệ kim ngạch xuất khẩu hàng hóa/GDP năm 2014 đã đạt 89,3%. Nếu tính cả xuất và nhập khẩu/GDP đạt 159,5%; nếu tính thêm XNK dịch vụ thì đạt 173,4%, nằm trong tốp 5 nước có độ mở nền kinh tế cao nhất thế giới. Tuy nhiên, cần lưu ý là khu vực FDI đang dẫn đầu về xuất khẩu và kim ngạch xuất khẩu đã vượt 2/3 cả nước (68%/năm 2014, năm 2013 là 66,8%), trong khi chỉ đóng góp 2,7% về số lượng doanh nghiệp, sử dụng 26,6% lao động và 19,1% vốn, tạo 25% tổng doanh thu (số liệu 2013)[2]. Tình hình xuất khẩu đang phụ thuộc rõ rệt vào khu vực FDI cộng với sự yếu kém của doanh nghiệp trong nước đang đặt ra thách thức lớn về sự phát triển bền vững, tự chủ của nền kinh tế. Vấn đề này thuộc quan điểm phát triển các thành phần kinh tế, nên không thảo luận tại Hội thảo này.

Theo quan điểm cá nhân, phần lớn các doanh nghiệp FDI đều tham gia chuỗi giá trị khu vực hoặc toàn cầu, có đầu ra rõ ràng; khu vực FDI không chỉ ít phụ thuộc vào chính sách mà còn ít phụ thuộc vào các hàng rào kỹ thuật tại các nước nhập khẩu. Do đó, chủ yếu công tác hỗ trợ thực thi TBT nhắm tới các doanh nghiệp trong nước, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa.

2.2.  Quy định về TBT trong các FTA Việt Nam tham gia:

Về cơ bản, hầu hết FTA đã ký kết hoặc kết thúc đàm phán đều có chương về TBT và cơ bản dựa trên Hiệp định TBT của WTO. Các chương này thường có yêu cầu  chung là đảm bảo rằng các quy định kỹ thuật, tiêu chuẩn, và các thủ tục đánh giá sự hợp chuẩn không tạo ra các hàng rào không cần thiết trong thương mại.

Cụ thể:

- Các nước ASEAN đã nỗ lực hài hòa các tiêu chuẩn quốc gia với các tiêu chuẩn quốc tế và thi hành các Hiệp định thừa nhận lẫn nhau (MRAs) về đánh giá sự phù hợp để đạt được mục tiêu cuối cùng của mình là “một tiêu chuẩn, một thử nghiệm, được chấp nhận khắp nơi”, đối với một số ngành ưu tiên[3].

- Hiệp định Đối tác Kinh tế toàn diện Việt Nam - Nhật Bản (VJEPA) có Chương 6 - Các quy định Kỹ thuật, Tiêu chuẩn và các Thủ tục đánh giá hợp chuẩn.

- FTA Việt Nam - Chile có Chương 7 - Các Quy chuẩn kỹ thuật, Tiêu chuẩn và Quy định đánh giá sự phù hợp

- 02 FTA mới ký: Việt Nam - Hàn Quốc và Việt Nam - Liên minh Kinh tế Á Âu đều có Chương 6 - Hàng rào kỹ thuật trong thương mại

- FTA Việt Nam - Liên minh Châu Âu (EVFTA) có 1 Chương về Hàng rào kỹ thuật trong thương mại, trong đó quy định EU và Việt Nam đã nhất trí tăng cường các nguyên tắc của các hàng rào kỹ thuật TBT trong WTO trong các thỏa thuận thương mại. Đặc biệt, Việt Nam đã cam kết tăng cường việc sử dụng các tiêu chuẩn quốc tế trong việc soạn thảo các quy định TBT[4].

- Hiệp định TPP có Chương 8 - Hàng rào kỹ thuật trong thương mại cơ bản dựa trên Hiệp định TBT của WTO.

Đặc biệt trong 2 FTA thế hệ mới là TPP và EVFTA đều đặt ra những tiêu chuẩn cao và toàn diện về các điều kiện hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, trong đó có vấn đề lao động, sở hữu trí tuệ, môi trường và phát triển bền vững. Các doanh nghiệp muốn được hưởng ưu đãi thuế quan phải vượt qua các điều kiện này, bên cạnh các tiêu chuẩn rất cao về hàng hóa của thị trường Hoa Kỳ và EU.

2.3.  Xu hướng các rào cản thương mại:

Cùng với việc tham gia các FTA, các dòng thuế ngày càng giảm và hàng rào thuế quan không còn nhiều ý nghĩa. Đây cũng là xu hướng chung trong quan hệ thương mại giữa các nước trên thế giới.

Biểu đồ 1 - Xu hướng giảm thuế nhập khẩu và tăng rào cản phi thuế quan

image003

Trong khi đó, xu hướng áp dụng các biện pháp phi thuế quan ngày càng gia tăng:

Biểu đồ 2 - Số lượng các biện pháp TBT, 1995-2010

image005

Nguồn: http://www.voxeu.org/article/trade-barriers-beyond-tariffs-facts-and-challenges

Biểu đồ 3 - Các Thông báo mới về TBT theo các nhóm quốc gia, 1995-2014

image007

Nguồn: Báo cáo Đánh giá thường niên lần thứ 20 về tình hình thực hiện và hoạt động của Hiệp định TBT - Ủy ban TBT/WTO, 01/2015.

Biểu đồ trên cho thấy thông báo mới từ các nước đang phát triển trong năm 2014 chiếm gần 80% tổng số, trong khi các nước kém phát triển (LDCs) thông báo rất ít; các thông báo mới của các nước đã phát triển khá ổn định.

Về mục tiêu các thông báo mới, chủ yếu nhằm bảo vệ sức khỏe hoặc sự an toàn của con người, tiếp theo là ngăn ngừa các hành vi lừa đảo và bảo vệ người tiêu dùng; bảo vệ môi trường; và yêu cầu chất lượng, phù hợp với xu hướng yêu cầu từ 1995 đến nay. (Nguồn: Báo cáo Đánh giá thường niên TBT lần thứ 20, 01/2015)

Biểu đồ 4 - Mục tiêu các Thông báo mới, năm 2014

image009

Trong các thành viên của WTO, Hoa Kỳ và EU là 2 nước và khu vực áp dụng các rào cản kỹ thuật nhiều nhất.[5]

Về các biện pháp SPS cũng có xu hướng tăng lên tương tự:

Biểu đồ 5 - Số lượng các biện pháp SPS, 1995-2010

image011

Nguồn: http://www.voxeu.org/article/trade-barriers-beyond-tariffs-facts-and-challenges

Đánh giá chung xu hướng áp dụng TBT trên thế giới:

- Do chất lượng cuộc sống ngày càng tăng, do đó yêu cầu về tiêu chuẩn hàng hóa nhập khẩu trở nên khắt khe hơn, hướng tới bảo vệ lợi ích người tiêu dùng. Đặc biệt các nước EU, Hoa Kỳ, Nhật Bản ngày càng quan tâm đến vấn đề phát triển bền vững, nên có nhiều tiêu chuẩn mới phát sinh.

- Quy định và tiêu chuẩn hàng hóa tại các nước đang phát triển tiếp tục được hoàn thiện, thể hiện qua sự phong phú về các biện pháp TBT được công bố và chiếm tỷ lệ lớn nhất trong các nhóm quốc gia.

- Tỷ lệ các quan ngại thương mại khá thấp trong tổng số các biện pháp TBT được công bố (<1,9%) và các vụ tranh chấp liên quan là không đáng kể cho thấy có thể và cần tận dụng tốt hơn các hàng rào phi thuế quan trong quản lý xuất nhập khẩu.

- Việt Nam tham gia ký kết khá nhiều FTA, trong đó có những FTA chất lượng cao, đòi hỏi các tiêu chuẩn ngày càng phù hợp với khu vực và thế giới, kể cả các tiêu chuẩn chung về sản xuất kinh doanh để đảm bảo cạnh tranh bình đẳng.

3.  Một số nhận xét về tình hình thực thi Hiệp định TBT của Việt Nam

Việt Nam có 97% doanh nghiệp nhỏ và vừa, nếu tính cả các hộ sản xuất kinh doanh cá thể thì có đến 99.99% là doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ[6]; dẫn đến tình trạng chất lượng hàng hóa và thực thi Hiệp định TBT còn nhiều bất cập. Trong thời gian qua, hệ thống quản lý chất lượng đã triển khai nhiều Chương trình và đạt nhiều thành tựu, nhưng vẫn còn nhiều việc phải làm để đáp ứng yêu cầu hỗ trợ của các doanh nghiệp và yêu cầu hội nhập quốc tế.

Thứ nhất, tiêu chuẩn chất lượng hàng hóa chưa được chú trọng đúng mức. Đặc biệt hàng hóa nông sản không ổn định, thiếu đồng đều về chất lượng và các tiêu chuẩn; việc quản lý sử dụng chất cấm nhiều nơi còn khá tùy tiện (chất tạo nạc, dư lượng kháng sinh trong chăn nuôi; chất bảo vệ thực vật trong nông sản,…) ảnh hưởng trực tiếp đến người tiêu dùng trong nước. Có một tỷ lệ nhất định hàng hóa xuất khẩu bị trả về do không đảm bảo chất lượng và/hoặc gian dối, ảnh hưởng không nhỏ đến uy tín chung của ngành (ví dụ sản phẩm chè, một số mặt hàng thủy sản,…). Sản xuất chế biến chưa đồng bộ với việc quy hoạch xây dựng vùng nguyên liệu, dẫn đến đầu vào không đảm bảo số lượng và chất lượng.

Về sản xuất công nghiệp, tỷ lệ doanh nghiệp trên địa bàn TP.HCM áp dụng các biện pháp quản lý tiến tiến và cải tiến chất lượng còn thấp. Trong ngành giày da, chỉ có rất ít doanh nghiệp áp dụng các phương pháp quản lý sản xuất hiện đại như ISO (17%), 5S (7%), Kaizen (3%), LEAN (4%). 60,83% doanh nghiệp cơ khí không áp dụng các biện pháp quản lý hiện đại; doanh nghiệp cao su-nhựa cũng chủ yếu quản lý theo kinh nghiệm (60%)[7]

Thứ hai, việc tiếp cận thông tin về các quy định, tiêu chuẩn và TBT còn hạn chế. Rào cản phi thuế quan trong đó có các tiêu chuẩn, quy định chất lượng tại các thị trường xuất khẩu của Việt Nam rất đa dạng và phức tạp. Việc tiếp cận và vận dụng các thông tin này đối với phần lớn doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam nói chung và TP.HCM nói riêng là rất khó khăn. Từ đó, doanh nghiệp sẽ lúng túng trong việc đáp ứng các tiêu chuẩn hàng hóa nhập khẩu tại các thị trường, nhất là các thị trường khó tính, có hệ thống các tiêu chuẩn khắt khe.

Thứ ba, hệ thống các tiêu chuẩn, quy chuẩn hoàn thiện còn chậm. Theo thông tin từ Hội nghị, Tổng kết Thập niên Chất lượng lần thứ hai (2006-2015) và tổng kết giai đoạn I (2010-2015) Chương trình Quốc gia năng suất chất lượng (Chương trình 712) ngày 15/09/2015, trong 5 năm qua Chương trình đã xây dựng và công bố 4.485 tiêu chuẩn quốc gia, đưa tổng số tiêu chuẩn quốc gia hiện hành lên 8.800 TCVN, tỷ lệ hài hòa với tiêu chuẩn quốc tế và khu vực đạt 45%. Các quy chuẩn kỹ thuật địa phương chậm xây dựng để bảo hộ hàng trong nước và bảo vệ người tiêu dùng. Với nguyên tắc không phân biệt đối xử, sẽ xảy ra mâu thuẫn khi tăng cường xây dựng và quản lý các tiêu chuẩn về chất lượng, trong khi nhiều hàng hóa sản xuất của các doanh nghiệp nội địa còn chưa đảm bảo chất lượng và ổn định.

Thứ tư, hệ thống các phòng xét nghiệm, thử nghiệm (LAB) để kiểm định chất lượng còn khá phân tán và cơ bản chưa đáp ứng yêu cầu. Ví dụ, việc phát hiện các độc chất từ đó xây dựng các rào cản về tiêu chuẩn các hóa chất/phụ gia trong các thực phẩm phụ thuộc vào khả năng xét nghiệm của các LAB. Nếu các LAB không đủ khả năng tìm ra các chất độc hại thì sẽ không kiểm soát được hàng nhập khẩu kém chất lượng tràn lan trên thị trường. Việc xây dựng quy chuẩn địa phương về dư lượng hóa chất để quản lý quả táo nhập khẩu (chủ yếu từ Trung Quốc) trong thời gian qua tại thành phố Hồ Chí Minh là một ví dụ điển hình: không chỉ chưa có giải pháp kiểm soát từ nguồn, mà còn hầu như không phát hiện được các chất bảo quản độc hại (mặc dù táo có thể để 6 tháng không bị hư), từ đó khó có căn cứ để kiểm soát và/hoặc ngăn chặn. Một số mặt hàng nhập khẩu khác cũng có tình trạng tương tự. Cũng có thông tin trên thị trường có tới 2.000 loại hóa chất bảo quản, nhưng Việt Nam mới chỉ kiểm nghiệm được 600 loại [8].

Thứ năm, một số chính sách quản lý và hỗ trợ của Nhà nước liên quan còn bất cập.

Chính sách về quản lý nhập khẩu còn chậm triển khai và chưa tương xứng với lộ trình mở cửa thị trường. Hiện nay, Việt Nam đang thực hiện nghiêm túc việc cắt giảm thuế quan theo lộ trình cam kết khi tham gia các FTA. Trong đó, dự tính trong thời gian tới 80% dòng thuế nhập khẩu sẽ bị xóa bỏ, thậm chí Bộ Tài chính dự kiến không quy định Biểu khung thuế nhập khẩu nữa. Tuy nhiên, việc xây dựng, triển khai áp dụng các biện pháp phi thuế quan lại khá chậm và không tương xứng. Việt Nam gia nhập WTO từ 01/2007 đồng thời ký kết nhiều FTA, nhưng đến tháng 8/2015, Thủ tướng Chính phủ mới có Quyết định số 1233/QĐ-TTg phê duyệt Đề án quản lý nhập khẩu đến 2020 phù hợp với các cam kết quốc tế với mục tiêu xây dựng bộ công cụ các biện pháp quản lý nhập khẩu. Trong đó, nội dung thực chất mới là các định hướng, yêu cầu, còn việc triển khai các biện pháp cụ thể tiếp tục phụ thuộc vào các Bộ ngành, theo các nhóm nhiệm vụ đề ra. Đây là hướng đi đúng, nhưng cần đẩy nhanh tiến độ.

Một vấn đề khác là chính sách hỗ trợ doanh nghiệp áp dụng quy trình nâng cao chất lượng sản phẩm chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế của các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Ví dụ kinh phí hỗ trợ doanh nghiệp xây dựng và áp dụng các ISO và các biện pháp quản lý tiên tiến khác (30 tr.đ/doanh nghiệp) chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ trong chi phí thực tế; hay việc áp dụng VietGAP, GlobalGAP,… có chi phí rất cao so với các Hợp tác xã, nông hộ hay doanh nghiệp nhỏ và vừa (lại phải nộp định kỳ hàng năm). Điều này cũng góp phần lý giải tỷ lệ áp dụng các biện pháp quản lý tiên tiến và quản lý chất lượng tại các doanh nghiệp còn ở mức thấp. Mặt khác, các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp khác hiện nay cũng thiếu sự gắn kết với nhau để hướng tới nâng cao năng lực cạnh tranh thực sự của các doanh nghiệp.

Thứ sáu, vai trò của các Hội ngành nghề chưa thể hiện rõ trong việc hỗ trợ các doanh nghiệp thực hiện tiến trình hội nhập. Đặc biệt, việc xây dựng các tiêu chuẩn đặc thù và áp dụng trong ngành chưa thấy sự tích cực và chủ động của Hội ngành nghề. Khung pháp lý về ban hành các tiêu chuẩn, quy chuẩn cũng dành dư địa cho cơ quan quản lý Nhà nước (cấp Quốc gia, địa phương) nhiều hơn là các Hội/Hiệp hội. Sự liên kết giữa các nhà khoa học với doanh nghiệp (và cả nông dân) trên thực tế còn chưa hiệu quả.

4.  Một số đề xuất về giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp vượt qua rào cản phi thuế quan

Trong bối cảnh các hàng rào thuế quan ngày càng giảm vai trò trong quan hệ thương mại quốc tế hiện nay, đồng thời trong nước Đề án thực thi Hiệp định hàng rào kỹ thuật trong thương mại giai đoạn 2011 – 2015 ban hành theo Quyết định số 682/QĐ-TTg ngày 10/5/2011 của Thủ tướng Chính phủ cơ bản sắp kết thúc. Rút kinh nghiệm việc xây dựng và triển khai Quyết định 682, giai đoạn tới cần có định hướng rõ ràng hơn và tập trung vào việc xây dựng các hàng rào phi thuế quan trong nước nhằm mục tiêu nâng cao các chuẩn mực sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, nâng cao và ổn định chất lượng hàng hóa, dịch vụ từ đó tăng cường khả năng cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng. Một số giải pháp hỗ trợ đề xuất trong giai đoạn tới như sau:

4.1.  Hỗ trợ đồng bộ để nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp:

Các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp trên địa bàn Thành phố hiện nay tập trung vào vấn đề tài chính, tín dụng (hoặc quy đổi thành tiền), với các thủ tục nhiêu khê mà thiếu sự đồng bộ và thiếu sự hỗ trợ đến kết quả cuối cùng. Do đó, để nâng cao hiệu quả đề nghị có sự gắn kết chặt chẽ của các chương trình hỗ trợ và định hướng theo kết quả đầu ra. Cụ thể: đối với các ngành ưu tiên trong Chương trình kích cầu hoặc Chương trình hỗ trợ đổi mới máy móc/công nghệ của Thành phố, doanh nghiệp tham gia Chương trình ngoài việc được hưởng lãi suất ưu đãi, còn được yêu cầu hỗ trợ về xây dựng và áp dụng các biện pháp quản lý tiên tiến (ISO, 5S, JIT,…) hoặc các biện pháp quản lý chất lượng khác; được tham gia đào tạo nâng cao trình độ doanh chủ hay lao động/nhân viên; hỗ trợ xúc tiến thương mại. Song song một hướng tiếp cận khác là nếu doanh nghiệp đã đạt được một số tiêu chí về quản lý chất lượng,... sẽ dễ dàng được hưởng ưu đãi từ các Chương trình này. Mục tiêu cuối cùng là tạo ra một mô hình sản xuất kinh doanh với chất lượng ổn định, có sự cạnh tranh bứt phá và có thể nhân rộng mô hình.

Muốn Chương trình hỗ trợ hiệu quả phải có khảo sát, tư vấn cụ thể doanh nghiệp khi tham gia Chương trình, xác định khả năng và điểm mạnh, điểm yếu của doanh nghiệp và nhu cầu thực tế để xây dựng "gói hỗ trợ" phù hợp. Đồng thời phải tổ chức lại đội ngũ cán bộ hỗ trợ doanh nghiệp hiện nay, không thể tản mạn, rời rạc ở các đơn vị khác nhau, mà phải thống nhất trong một tổ chức/Trung tâm hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa đủ mạnh, xứng tầm quy mô kinh tế của Thành phố. Nên học tập Đài Loan về tổ chức hệ thống các đơn vị hỗ trợ mạnh cho doanh nghiệp nhỏ và vừa. Đồng thời cần liên hệ/kết nối và tận dụng các chuyên gia Nhật Bản (đã về hưu) có kinh nghiệm về quản lý chất lượng để hỗ trợ các doanh nghiệp. Sự liên kết giữa các nhà khoa học (các Viện, trường Đại học) và doanh nghiệp cần được quan tâm nhằm bổ sung và khai thác thế mạnh của mỗi bên.

Đối với các doanh nghiệp khởi nghiệp (start-up), tập trung hỗ trợ phương thức quản trị bài bản và chuẩn mực để "làm đúng ngay từ đầu". Chú ý liên kết Chương trình khuyến khích trong các ngành sáng tạo, hiện nay do ADB đang triển khai xây dựng và hỗ trợ riêng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, với đối tác trọng tâm là TP.HCM.

Đồng thời, đặt ra yêu cầu doanh nghiệp phải có sự nỗ lực nhằm đạt các kết quả cụ thể đầu ra (ví dụ trình độ nhân lực, năng suất, chất lượng sản phẩm, hiệu quả đầu tư,…) sau khi loại trừ các yếu tố rủi ro. Các gói hỗ trợ này có thể triển khai thông qua Hội ngành nghề, để nâng cao vị thế của các Hội, đồng thời có các thông tin phản hồi chính xác về doanh nghiệp.

Các Chương trình hỗ trợ nâng cao chuẩn mực trong sản xuất kinh doanh và năng lực cạnh tranh chính là sự chuẩn bị rất cần thiết cho việc triển khai các Hiệp định Thương mại tự do thế hệ mới mà Việt Nam đang tham gia như TPP, Việt Nam - EU,…

4.2.  Xây dựng và áp dụng hệ thống hàng rào phi thuế quan trong điều kiện mới:

Tăng cường xây dựng các tiêu chuẩn, quy chuẩn địa phương theo Chương trình 712 giai đoạn 2016-2020, hướng tới các tiêu chuẩn quốc tế và khu vực theo yêu cầu các Chương về TBT của các FTA. Đẩy mạnh việc xây dựng hệ thống các Phòng thí nghiệm, thử nghiệm (LAB) hiện đại, đảm bảo theo các chuẩn mực quốc tế, nhằm hỗ trợ tích cực cho việc xây dựng các rào cản kỹ thuật trong thương mại, góp phần quan trọng vào kiểm soát chất lượng hàng hóa nói chung và là công cụ để kiểm soát hiệu quả hàng nhập khẩu. Theo một số thông tin, hiện nay chuỗi các LAB hiện đại này đang được đầu tư, vấn đề là chính sách sử dụng/vận dụng hiệu quả từ phía Nhà nước (Trung ương và Thành phố). Về nguyên tắc, hệ thống LAB còn hỗ trợ tích cực cho các doanh nghiệp xuất khẩu kiểm soát dư lượng hóa chất đối với hàng hóa xuất khẩu (hàng tiêu dùng hay thực phẩm).

Với việc triển khai chương trình hỗ trợ nâng cao chất lượng của doanh nghiệp song song với nâng cao hàng rào về tiêu chuẩn sẽ hình thành được hệ thống rào cản nhằm bảo hộ các nhà sản xuất trong nước và quyền lợi người tiêu dùng. Quản lý chặt và xử nghiêm các nguồn phát sinh hàng hóa chất lượng kém, giả, đặc biệt là "thực phẩm bẩn" trước hết nhằm bảo vệ sức khỏe người dân và giống nòi dân tộc.

4.3.  Tăng cường cung cấp thông tin về rào cản phi thuế quan cho doanh nghiệp có hiệu quả:

Như trên đã phân tích, doanh nghiệp nhỏ và vừa hiện nay khó tiếp cận các thông tin về rào cản phi thuế quan nói chung và các tiêu chuẩn, quy định của các nước nói riêng. Trong khi đó, việc cung cấp thông tin cho các doanh nghiệp là biện pháp hỗ trợ cho phép (hộp xanh), do đó cần tích cực đẩy mạnh hoạt động hỗ trợ thông tin thị trường và rào cản cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu. Cần xác định đây là một trong những chương trình hỗ trợ trọng tâm, triển khai một bước đi trước các chương trình xúc tiến thương mại hiện nay, giúp các doanh nghiệp có thông tin bài bản về thị trường và các rào cản, xác định rõ định hướng thị trường để hoạt động xúc tiến hiệu quả hơn. Triển khai xây dựng một cổng thông tin về thị trường ngành hàng/quốc gia, vùng lãnh thổ và các rào cản để cung cấp cho các doanh nghiệp có nhu cầu.

4.4.  Nâng cao vai trò của các Hội/Hiệp hội doanh nghiệp, ngành nghề:

Đối với việc xây dựng và áp dụng các tiêu chuẩn hàng hóa, cần tăng cường giao cho các Hội/Hiệp hội ngành nghề, vì các Hội nắm rõ tình hình sản xuất, thị trường, thực trạng các doanh nghiệp trong ngành, đồng thời việc kiểm soát áp dụng các tiêu chuẩn cho các doanh nghiệp cũng vì lợi ích của cả ngành. Các Hội ngành nghề cũng là đơn vị đi đầu trong việc tập hợp sức mạnh của các doanh nghiệp nhằm giải quyết các vụ việc phòng vệ thương mại phát sinh khi Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộng vào các nền kinh tế thế giới. Các Hội/Hiệp hội cần tham gia tích cực vào công tác quy hoạch các ngành nghề/lĩnh vực hoặc cây trồng/vật nuôi để đảm bảo sự tham gia hiệu quả của các doanh nghiệp trong ngành.

Th.S Phạm Bình An - GĐ Trung tâm WTO thành phố HCM

Từ khóa: Giải pháp, thúc đẩy, vượt qua rào cản, Việt Nam, ký kết, hiệp định thương mại, song phương, đa phương


[1] http://hoinhap.org.vn/tin-tuc/10673-cac-chinh-phu-doanh-nghiep-hoc-gia-va-nguoi-tieu-dung-chia-se-ve-20-nam-hiep-dinh-tbt.html

[2] Theo http://fia.mpi.gov.vn/TinBai/2569/Tinh-hinh-DTNN-tai-Viet-Nam-nam-2014 và Niên giám Thống kê Tóm tắt 2014.

[3] Sổ tay tham khảo Tiêu chuẩn, Đo lường và Đánh giá sự phù hợp và Hiệp định TBT, 2008

[4] Bản Memo - European Commission, 04/8/2015

[5] Tiêu chuẩn kỹ thuật - Rào cản đối với xuất khẩu của Việt Nam của ThS.Phan Thị Ái - Khoa KT-QTKD/ĐH Hà Tĩnh, tháng 10 2015.

[6] Theo Báo cáo của VCCI tại Hội nghị trực tuyến toàn quốc quán triệt Chỉ thị 15/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về tiếp tục thực hiện Nghị quyết 22 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế.

[7] Báo cáo Tóm tắt giai đoạn 1 - Đề án phát triển Công nghiệp hỗ trợ trên địa bàn TP.HCM giai đoạn 2015-2020, định hướng đến 2025 do Trường ĐH Kinh tế và Viện Nghiên cứu phát triển thành phố thực hiện, 9/2015.

[8] http://m.vietnamnet.vn/vn/kinh-te/272669/moi-bo-truong-tien--bo-truong-phat-bua-com-lanh-song-lung.html

Chuyên mục RCEP

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Phân tích - Bình luận

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Thư viện hội nhập

thu vien

Xem nhiều nhất


phong ve thuong mai

Video

Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field

Liên kết

 

Lượt truy cập

008750324
Go to top