JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU
Phân tích - Bình luậnTác động của TPP nhìn từ chương Quy tắc xuất xứ, Quy trình xác định xuất xứ và chương Dệt may

Tác động của TPP nhìn từ chương Quy tắc xuất xứ, Quy trình xác định xuất xứ và chương Dệt may

CO-xuatxu

Chương Xuất xứ quy định một cách phổ quát rằng chỉ có những hàng hóa nào có xuất xứ từ, tức là được sản xuất một cách thực chất tại các nước thành viên, mới được hưởng mức thuế ưu đãi của TPP.

Chương Quy định về xuất xứ  và Quy trình xác định xuất xứ (trong bài này được gọi tắt là chương Xuất xứ) trong TPP có các quy định về xuất xứ, xác định rõ thế nào là một hàng hóa có xuất xứ từ một thành viên TPP để được hưởng những lợi ích của TPP. Chương này cũng tạo ra một cơ chế để thực thi những quy định này. Nói cách khác, chương Xuất xứ này đảm bảo rằng mọi lợi ích của TPP chỉ dành cho các thành viên của nó. Bởi vậy, đây cũng là một chương rất quan trọng, mang tính cơ sở thiết yếu của TPP.

Trước tiên, chương Xuất xứ quy định một cách phổ quát rằng chỉ có những hàng hóa nào có xuất xứ từ, tức là được sản xuất một cách thực chất tại các nước thành viên, mới được hưởng mức thuế ưu đãi của TPP. Với mỗi loại hàng hóa cụ thể thì có quy định riêng về xuất xứ và quy trình cần thực hiện để chứng minh xuất xứ của hàng hóa đó là từ nước thành viên TPP.

Chương này nêu ra 3 định nghĩa dùng làm cơ sở để xác định một hàng hóa nào đó có phải là được sản xuất tại nước thành viên hay không. Theo định nghĩa thứ nhất, một hàng hóa được coi là có xuất xứ nội khối nếu nó được nuôi trồng, thu hái, hay đánh bắt được trong các nước thành viên. Theo đó, các sản phẩm như nông sản nuôi trồng hay cá đánh bắt được trên những con tầu của các nước thành viên sẽ được coi là có xuất xứ nội khối.

Với định nghĩa thứ hai, những hàng hóa nào được sản xuất bằng nguyên vật liệu có xuất xứ từ nội khối hoặc nguyên vật liệu thỏa mãn điều kiện về xuất xứ theo quy định để được hưởng ưu đãi thuế quan TPP thì cũng sẽ được coi là hàng hóa có xuất xứ nội khối. Định nghĩa thứ ba công nhận rằng hàng hóa nào thỏa mãn được điều kiện về xuất xứ áp dụng riêng cho hàng hóa đó như chủng loại và tỷ trọng nguyên vật liệu không có xuất xứ nội khối được sử dụng để sản xuất ra hàng hóa đó (hoặc những nguyên vật liệu này đã được gia công đáng kể để, về cơ bản, trở thành “hàng hóa TPP”) thì cũng sẽ được coi là hàng hóa có xuất xứ nội khối.

Chương Xuất xứ quy định các nước thành viên công nhận và đối xử như nhau với các nguyên vật liệu từ một thành viên nào đó như từ các thành viên khác khi những nguyên vật liệu này được dùng để sản xuất “hàng hóa TPP”. Như vậy, quy định này, còn được gọi là quy định về cộng gộp, có tác dụng khuyến khích các doanh nghiệp trong tổ chức chuỗi sản xuất và cung ứng nội khối thay vì sản xuất tại và sử dụng nguyên vật liệu được cung cấp từ bên ngoài khối.

Để tạo thêm công ăn việc làm và bảo vệ môi trường, chương Xuất xứ dành một điều khoản quy định và công nhận những vật liệu tái sử dụng có xuất xứ từ các nước thành viên và được dùng trong sản xuất một hàng hóa dưới dạng phục chế, tân trang như mới nào đó là vật liệu có xuất xứ nội khối để khuyến khích việc sản xuất nhiều hơn nữa các loại hàng hóa phục chế, tân trang này. Nhờ quy định này, các nhà sản xuất nội khối sẽ tăng cường sản xuất hàng phục chế, tân trang này thay vì đi nhập khẩu các vật liệu và linh kiện từ bên ngoài khối để sản xuất hàng mới tương ứng, làm lợi chung cho nền kinh tế của khối.

Do đặc thù về địa lý của các thành viên TPP, theo đó hàng hóa phải được trung chuyển qua một số địa điểm có thể nằm ngoài khu vực TPP trước khi đến tay người tiêu dùng nội khối, nên chương Xuất xứ có điều khoản quy định rằng các thành viên phải công nhận xuất xứ nội khối của hàng hóa nội khối kể cả khi hàng hóa này đã được trung chuyển qua một hay vài nước phi thành viên khác. Một số điều kiện kèm theo cho sự công nhận này là hàng hóa đó vẫn phải nằm trong kho ngoại quan của nước trung chuyển phi thành viên, không được gia công chế biến gì thêm ngoài những công đoạn như dỡ hàng, chất hàng lên tàu, nhập kho, dán nhãn và đóng dấu xuất xứ theo yêu cầu của nước nhập khẩu, hoặc các công đoạn bảo quản v.v...

Về quy trình xác định xuất xứ nội khối, nhằm giảm thiểu chi phí, thời gian và sự phức tạp trong khâu xác nhận xuất xứ cho các doanh nghiệp, đặc biệt cho những doanh nghiệp vừa và nhỏ, chương Xuất xứ đưa ra một hệ thống chung áp dụng trong toàn khối về việc chứng minh và kiểm chứng xuất xứ nội khối của hàng hóa để tạo thuận lợi cho nhà nhập khẩu được hưởng thuế ưu đãi TPP khi có đầy đủ chứng từ theo quy định. Về phía cơ quan hải quan của nước nhập khẩu thành viên, họ được sử dụng các công cụ quy định trong chương Xuất xứ theo cách thích hợp nhất để kiểm chứng xuất xứ hàng hóa nhập khẩu, như yêu cầu cung cấp thông tin từ nhà nhập khẩu, nhà xuất khẩu, nhà sản xuất hay được đến thị sát cơ sở của nhà xuất khẩu hay sản xuất hàng hóa đó.

Ngoài ra, nhìn trước khả năng sẽ có thay đổi trong tương lai về dây chuyền cung ứng và quy trình sản xuất, chương Xuất xứ quy định các nước thành viên sẽ nhóm họp thường xuyên để đưa ra các cải thiện về công tác quản lý xuất xứ hàng hóa cho phù hợp với thực tiễn.

Tóm lại, một trong những điểm mới trong quy định về xuất xứ trong khuôn khổ TPP là việc công nhận sự cộng gộp các công đoạn sản xuất hay nguyên vật liệu được tạo ra và sử dụng tại các nước thành viên trong cấu thành của một hàng hóa nào đó là các công đoạn hay vật liệu nội khối để hàng hóa đó được hưởng ưu đãi thuế quan TPP tại nước nhập khẩu trong khối. Quy định này sẽ khuyến khích và giữ chân các nhà sản xuất của các thành viên TPP tổ chức dây chuyền sản xuất và cung ứng ngay tại khối thay vì sản xuất hoặc nhập khẩu nguyên vật liệu bên ngoài khối, từ đó tạo thêm công ăn việc làm và thu nhập cho các ngành sản xuất hàng hóa này ở các nước thành viên.

Một điểm mới khác trong chương Xuất xứ là quy định rõ một quy trình đơn giản và minh bạch để chứng minh xuất xứ nhằm hưởng ưu đãi thuế quan TPP. Điều này có ý nghĩa rất quan trọng và là khác biệt lớn với các hiệp định thương mại tự do (FTA) có các nước thành viên cũng đồng thời là thành viên của các FTA khác với những quy định khác biệt về xuất xứ. Sự khác biệt trong quy định về xuất xứ này nhiều lúc gây khó khăn cho việc xin hưởng ưu đãi thuế FTA của nhà nhập khẩu, ví dụ, với những hàng hóa trải qua các công đoạn chế biến tại các nước thành viên của các FTA khác, không có liên quan với nhau. Khắc phụ được trở ngại về chứng minh xuất xứ này sẽ là động lực lớn thúc đẩy dòng chảy sản xuất và thương mại và nhờ đó tăng cường thịnh vượng trong khối TPP.

Tác động của TPP nhìn từ chương Dệt may

Không phải ngẫu nhiên mà TPP dành riêng một chương quy định cho một mặt hàng cụ thể, hàng dệt may, trong số vô vàn chủng loại hàng hóa được sản xuất và trao đổi thương mại trong khu vực.

Và cũng không phải ngẫu nhiên mà chương này được xếp ngay sau những chương quan trọng bậc nhất trong thỏa thuận TPP như chương Hàng hóa và chương Xuất xứ.

Điều này là do bởi tầm quan trọng của hàng dệt may đối với nền kinh tế của một số nước thành viên. Với Mỹ, tuy là một thị trường nhập khẩu ròng hàng dệt may nhưng đồng thời ngành này cũng tạo ra nhiều trăm nghìn việc làm trong lòng nước Mỹ với giá trị sản lượng lên tới nhiều chục tỷ USD, và đóng góp hàng chục tỷ USD kim ngạch xuất khẩu hàng năm.

Mỹ còn nhắm đến lợi ích mang lại từ những nước thành viên TPP như Việt Nam, công xưởng gia công chủ yếu hàng dệt may cho toàn khu vực, thông qua quy tắc xuất xứ “Từ sợi trở đi” để khuyến khích Việt Nam nếu muốn gia tăng xuất khẩu hàng dệt may vào Mỹ và các thị trường thành viên khác thì phải sử dụng các sản phẩm đầu vào cho ngành dệt may như bông, sợi, đặc biệt những mặt hàng có công nghệ cao (như vật liệu tổng hợp và sợi carbon), cũng như các sản phẩm công nghệ và dịch vụ trong ngành này... vốn là thế mạnh của Mỹ (nhất là sau khi tính thêm yếu tố thuế suất 0% so với mức thuế nhập khẩu cao đánh vào các sản phẩm đầu vào nhập khẩu ngoại khối).

Ngược lại, ngành này cũng là một mỏ vàng tiềm năng cho Việt Nam, và cũng là một trong những lý do chính để Việt Nam quyết tâm đàm phán và gia nhập TPP.

Chương Dệt may quy định việc xóa bỏ ngay lập tức thuế quan khi TPP có hiệu lực lên hàng dệt may nhập khẩu vào một nước thành viên từ các nước thành viên khác, trừ một số mặt hàng thuộc diện nhạy cảm cần có lộ trình xóa bỏ thuế theo thỏa thuận giữa các thành viên.

Điều kiện để được hưởng ưu đãi này là phải đáp ứng được quy tắc “Từ sợi trở đi”, yêu cầu hàng dệt may xuất khẩu trong khối phải sử dụng sợi và vải nội khối để được hưởng thuế suất ưu đãi TPP. Quy tắc này cũng là một bước cụ thể hóa quy tắc xuất xứ nói chung của TPP nhằm khuyến khích các nhà sản xuất thiết lập chuỗi cung ứng và sản xuất trong nội khối để tạo công ăn việc làm và thu nhập cho các chủ thể kinh tế liên quan trong các nước thành viên.

Có một số trường hợp loại trừ với quy tắc này khi nguồn cung cho một chủng loại sợi và vải nào đó từ nội khối không đủ cho nhu cầu sản xuất hàng may mặc trong nội khối. Khi đó, “Danh sách nguồn cung thiếu hụt” cho phép các nhà sản xuất sử dụng những sản phẩm tương ứng theo quy định có nguồn gốc từ bên ngoài khối mà vẫn được hưởng thuế suất ưu đãi TPP.

Với Việt Nam, có thể nói điều khoản về “Danh sách nguồn cung thiếu hụt” là một điều cứu rỗi lớn. Bởi, điểm yếu của ngành dệt may Việt Nam là ngành sản xuất sản phẩm thượng nguồn như sơ, tơ, sợi và vải rất kém phát triển so với ngành sản xuất hạ nguồn – may. Phần lớn sợi và vải cho ngành may mặc Việt Nam do đó được nhập khẩu, chủ yếu từ các nước phi thành viên TPP. Nếu cứ cứng nhắc áp dụng quy tắc “Từ sợi trở đi” thì dù thuế suất nhập khẩu đánh lên hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam là 0% thì Việt Nam cũng khó có thể tăng mạnh xuất khẩu sang các thị trường nội khối do hạn chế nguồn cung đầu vào sợi và vải có nguồn gốc nội khối.

Tuy vậy, sự cứu rỗi này không phải là vĩnh viễn. “Danh sách nguồn cung thiếu hụt” này chỉ có giá trị trong vòng 5 năm kể từ ngày TPP có hiệu lực, và là thời gian bắt buộc Việt Nam phải phát triển được một chuỗi sản xuất và cung ứng sản phẩm thượng nguồn ở quy mô lớn, thay thế phần lớn hàng nhập khẩu ngoại khối như tình trạng hiện tại, nếu muốn tối đa hóa lợi ích cho ngành này từ việc gia nhập TPP.

Trên thực tế, một phần đáng kể lợi ích tiềm năng từ việc gia tăng xuất khẩu vào thị trường TPP sẽ bị gặt hái bởi các doanh nghiệp FDI mà phần lớn đến từ những nước phi thành viên TPP như Trung Quốc, hiện đang tích cực đầu tư vào ngành sản xuất thượng nguồn ở Việt Nam. Nhưng về tổng thể, các nước thành viên TPP nhìn chung vẫn có lợi hơn so với khi chưa có TPP vì không chỉ người tiêu dùng của họ được dùng hàng dệt may với giá rẻ hơn (nhờ thuế suất nhập khẩu 0%) mà các doanh nghiệp dệt may của họ, trong đó có Việt Nam, vẫn giành thêm được một phần của chiếc bánh dệt may khi nguồn cung ngoại khối bị làm khó hơn bởi quy tắc “Từ sợi trở đi”.

Chương Dệt may cũng nhấn mạnh đến chuyện phối hợp hải quan giữa các nước thành viên và các nước thành viênđược thực thi những hành động thích ứng để phòng chống gian lận trong thương mại dệt may như buôn lậu, trốn thuế, hay gian lận về xuất xứ... nhằm hưởng lợi bất chính từ ưu đãi thuế quan TPP. Ngoài việc trao quyền cho hải quan của nước nhập khẩu làm việc với hải quan các nước thành viên đối tác, những hành động thích ứng có thể là yêu cầu nước thành viên đối tác cung cấp thông tin khi hải quan nước nhập khẩu có bằng chứng gian lận thương mại, và yêu cầu này phải được đáp ứng bởi nước đối tác, hoặc cũng có thể là cử nhân viên hải quan đến tận cơ sở của nhà xuất khẩu hoặc nhà sản xuất tại nước thành viên xuất khẩu để kiểm tra xem có đúng là hàng hóa đó là hàng hóa TPP để hưởng thuế suất ưu đãi hay không...

Cũng giống như với mọi hiệp định thương mại tự do (FTA) khác, chương Dệt may cũng có những quy định về phòng vệ thương mại để một nước thành viên bảo vệ lợi ích quốc gia khi ngành dệt may của họ bị đe dọa nghiêm trọng bởi hàng nhập khẩu từ một nước thành viên khác. Trong những trường hợp như vậy thì nước thành viên bị thiệt hại có quyền khôi phục hoặc áp thuế suất nhập khẩu cao hơn để ngăn chặn hàng nhập khẩu. Hiển nhiên là điều khoản này có lợi nhất cho những nước thành viên nhập khẩu ròng lớn các sản phẩm dệt may, chủ yếu là các nước phát triển như Mỹ và Nhật, đồng thời là một mối đe dọa tiềm tàng cho những nước thành viên xuất khẩu ròng chủ chốt như Việt Nam.

Tóm lại, những điểm mới của chương Dệt may là có thêm quy định về “Danh sách nguồn cung thiếu hụt” tạo ra sự linh hoạt cần thiết trong việc đáp ứng quy tắc xuất xứ đồng thời vẫn thúc đẩy chuỗi sản xuất và cung ứng nội khối, và những quy định về phòng chống gian lận thương mạidựa trên những bài học rút ra từ các FTA khác, tạo điều kiện cho hải quan các nước ngăn chặn hữu hiệu các hành động trục lợi phi pháptrong ngành dệt may.

Nguồn: Trí thức trẻ - TS. Phan Minh Ngọc

Từ khóa: Tác động, TPP, Quy tắc xuất xứ, Quy trình xác định xuất xứ, chương Dệt may

Chuyên mục RCEP

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Phân tích - Bình luận

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Thư viện hội nhập

thu vien

Xem nhiều nhất


phong ve thuong mai

Video

Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field

Liên kết

 

Lượt truy cập

008749760
Go to top