
Năm 2015 là một mốc quan trọng đối với khu vực châu Á-Thái Bình Dương khi Hiệp định Quan hệ Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) được Thượng viện Mỹ ủng hộ bằng việc phê chuẩn quyền đàm phán nhanh "fast-track" và hiện đang bước vào những vòng đàm phán cuối cùng.
Một thỏa thuận thương mại tự do châu Á (FTA) khác là Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP), cũng dự kiến kết thúc vào cuối năm 2015, với một vòng đàm phán quyết định vào tháng 10 tới.
Với 2 FTA khổng lồ, Hiệp định TPP do Mỹ dẫn đầu và RCEP, sáng kiến của Trung Quốc, đã gây nhiều tranh cãi cho rằng hai nước này đang sử dụng các FTA để đem lại lợi ích cho bản thân và cô lập nước kia ra khỏi các thỏa thuận kinh tế khu vực của mình. Trong khi đó, Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN) và các nước thành viên của nó lại đang đóng một vai trò hết sức quan trọng trong tương lai của các thỏa thuận thương mại tự do khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Khi hợp tác và hội nhập kinh tế nỗ lực của khối đã đạt đến một giai đoạn quan trọng, ASEAN sẽ không chỉ quan tâm đếncác tác động lợi ích của TPP và RCEP đối với từng quốc gia thành viên thành viên, mà còn về tác động của chúngđối với sự phát triển chung của Cộng đồng kinh tếASEAN.
Tác động của TPP và RCEP vào ASEAN
Một trong những lợi ích mà các hiệp định khu vực cao cấp đem lại cho ASEAN được công nhận rộng rãi nhất là nó giúplàm mềm cái gọi là hiệu ứng "tô phở", vốn tồn tại do sự chồng chéo giữa các FTA. Theo các khuôn khổ chung, RCEP và TPP được kỳ vọng sẽ giúp thống nhất các tiêu chuẩn thương mại trong các FTA khác nhau của ASEAN. Tuy nhiên, các nghiên cứu gần đây, trong đó có một nghiên cứu của Ngân hàng Phát triển Châu Á, đã bày tỏ lo ngại rằng hai FTA này có thể ảnh hưởng đến sự đoàn kết trong ASEAN và cản trở sự hợp tác kinh tế nội bộ và hội nhập của khối.
Các cuộc đàm phán TPP hiện nay chỉ bao gồm bốn quốc gia thành viên ASEAN: Brunei, Malaysia, Singapore, và Việt Nam. Một số thành viên ASEAN đã thể hiện sự do dự khi tham gia các cuộc đàm phán vì những yêu cầu khắt khe trong các lĩnh vực như quyền sở hữu trí tuệ (IPR), doanh nghiệp nhà nước, và cạnh tranh. Hơn nữa, yêu cầu đầu vào rất chặt chẽ làm cho thỏa thuận này trở nên kém hấp dẫn. Ví dụ, người mới tham gia sẽ phải trải qua đàm phán song phương với tất cả các thành viên trước khi họ có thể tham gia, điều này kéo dài đáng kể thời gian đàm phán và làm tăng chi phí đàm phán.
Sự thiếu vắng6 quốc gia thành viên ASEAN trong các cuộc đàm phán TPP (Campuchia, Inđônêxia, Lào, Myanmar, Philippines và Thái Lan) đã tạo ra một mối đe dọa về khả năng hội nhập kinh tế nội bộ của khu vực ASEAN. Ví dụ, khi đã tham gia TPP sẽ phát sinh vấn đề về phối hợp quy định của ASEAN đối với sở hữu trí tuệ. Tuy nhiên, khoảng cách phát triển giữa 10 thành viên còn có sự chênh lệch lớn, do đó yêu cầu hài hòa quy định sở hữu trí tuệ là một nhiệm vụ khó khăn đối với ASEAN. Các yêu cầu đòi hỏi của TPP không chỉ là gánh nặng của 4 nước ASEAN tham gia, mà còn đặt ra thách thức đối với sự hợp tác trong ASEAN, vì nó có khả năng sẽ tiếp tục nới rộng khoảng cách về quy định sở hữu trí tuệ giữa các nước thành viên.
Hơn nữa, một số học giả cho rằng tác động của TPP đối với ASEAN là rất khó lường định. Các nghiên cứu gần đây cho thấy rằng thỏa thuận nàycó lợi cho 4 thành viên ASEAN hiện đang tham gia vào các cuộc đàm phán TPP. Nhưng các nền kinh tế ASEAN khác chưa tham gia đàm phán TPP, như Thái Lan và Indonesia, sẽ chỉ có lợi một cáchkhông rõ ràng, thậm chí là có thể bất lợi hơn,vì các đối tác thương mại hiện nay như Mỹ và Nhật Bản có khả năng chuyển hướng một số hoạt động thương mại của họ sang các nước thành viên TPP như Việt Nam và Malaysia do những quốc gia này sẽ có mức thuế quan phù hợp hơn và nhận được sự đối xử ưu đãi nội khối.
Cũng có khả năng TPP sẽ ảnh hưởng đến chuỗi giá trị toàn cầu của một số ngành, lĩnh vực cụ thể. Ví dụ, theo ước tính của Chiou (Rieti, 2014), Việt Nam và Malaysia có thể sẽ được hưởng lợi từ các chuỗi cung ứng thiết bị điện tử mới theo TPP. Nhưng những lợi ích của 4 nước này có thể dẫn đến tăng chi phí cho các thành viên ASEAN khác. Ngành điện tử ở Campuchia và Lào dự kiến sẽ tăng trưởng chậm hơn, hoặc thậm chí là bị thiệt hại, khi các công ty Mỹ và Nhật Bản chuyển dây chuyền lắp ráp của họ sang các thành viên TPP ở châu Á và châu Mỹ Latin. Hơn nữa, Campuchia và Lào, hai nền kinh tế phát triển nhanh nhất ở châu Á, có thể bỏ lỡ một số cơ hội để nâng cao năng suất sản xuất và thúc đẩy phát triển bền vững khi ít có cơ hội tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu.
ASEAN khó có thể gây ảnh hưởng với tư cách cộng đồng kinh tế vào các cuộc đàm phán TPP hiện nay, vì nó đã tập trung các nỗ lực của mình vào các cuộc đàm phán RCEP. RCEP được coi là một sự mở rộng của 5 FTA có sẵn giữa ASEAN và sáu đối tác - Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc và Australia, và New Zealand. Dựa vào 5 FTA hiện có mà ASEAN là trung tâm, ASEAN đã tìm cách để đạt được "vai trò trung tâm" trong RCEP, theo đó nó sẽ hoạt động với vai trò như một nền tảng cho sự hợp tác và có quyền lực đàm phán mạnh mẽ hơn để bảo vệ lợi ích riêng của mình trong các cuộc đàm phán. Một trong những mục tiêu của ASEAN là RCEP phải có cách tiếp cận thực tế hơn để chấp nhận các thành viên ASEAN kém phát triển. Bằng cách này, ASEAN hy vọng rằng các cuộc đàm phán RCEP sẽ hỗ trợ các nỗ lực của mình tạo dựng một ASEAN hội nhập và hợp tác kinh tế nội bộ. So với TPP, RCEP dự kiến sẽ mang lại lợi ích cân bằng hơn giữa các quốc gia thành viên ASEAN.
Để có lợi ích thực sự, các cuộc đàm phán RCEP phải mang lại kết quả vượt ra ngoài 5 FTA hiện có giữa ASEAN và sáu đối tác thương mại của mình. Nhưng ở đây, các cuộc đàm phán lại đang phải đối mặt với những thách thức đến từ cả các quốc gia thành viên ASEAN và các quốc gia không phải là thành viên. Ví dụ, với sự khác biệt rất lớn giữa các FTA hiện có, vấn đề xoá bỏ thuế quan của RCEP hiện đang nhắm mục tiêu vào 90% dòng thuế, do đó phải điều chỉnh lại toàn bộ 5 FTA cho phù hợp với mục tiêu của RCEP. Tuy nhiên, nếu FTA với Ấn Độ, có cam kết mức loại bỏ thuế quan thấp nhất (78,8%), có thể không đáp ứng được mục tiêu này vào cuối năm 2015, thì các cuộc đàm phán RCEP sẽ có khả năng sẽ phải hạ thấp mục tiêu để đạt được sự đồng thuận chung. Điều này sẽ làm giảm lợi ích kinh tế của ASEAN từ RCEP, vì mức độ loại bỏ thuế quan sẽ không cải thiện đáng kể so với các FTA hiện có của ASEAN.
Có lợi ích khác trong ASEAN, đó là mối quan tâm về an ninh đối với Trung Quốc mà là vấn đề quan trọng nhất của RCEP. Với sự leo thang tranh chấp Biển Đông giữa Trung Quốc và một số thành viên ASEAN trong thập kỷ qua, sự xói mòn các mối quan hệ ngoại giao đã đặt các thách thức cho sự nỗ lực hội nhập kinh tế chung của ASEAN và Trung Quốc .
Vai trò của ASEAN trong đàm phán FTA
Nhìn chung, kết quả của cả hai FTA khổng lồ này sẽ phụ thuộc rất lớn vào chất lượng và quy mô của các cuộc đàm phán của khối thống nhất ASEAN. Về TPP, ASEAN cần nói lên mong muốn của mình để cócách tiếp cận toàn diện hơn cho các cuộc đàm phán gia nhập TPP trong tương lai. Cả 10 nước thành viên ASEAN đều có mặt trong các cuộc đàm phán sẽ giúp thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các thành viên ASEAN và tạo thuận lợi cho các nỗ lực hội nhập kinh tế ASEAN trong tương lai.
Trong khi đó, để tăng cường sức mạnh đàm phán của mình trong các cuộc đàm phán RCEP, ASEAN nên ưu tiên cải thiện cơ cấu tổ chức riêng của mình để thống nhất lợi ích và hành động giữa các quốc gia thành viên. Ngoài ra, ASEAN phải là một điều phối viên tích cực giữa hai sáng kiến khu vực, tạo điều kiện cho sự cùng tồn tại của TPP và RCEP và mở đường cho một khuôn khổ thương mại quy mô lớn hơn trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương.
Theo http://asiafoundation.org – PT
Từ khóa: TPP, RCEP, Tốt hay xấu, cho tương lai, ASEAN
Các tin khác
- Hiệp định Đối tác Kinh tế xuyên Thái Bình Dương: Cơ hội và thách thức đối với Việt Nam - 01/09/2015
- World Bank: TPP là 'trận đánh lớn' đối với Việt Nam - 27/08/2015
- Thực hiện các cam kết FTA: Những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam - 26/08/2015
- “Giải mã” thâm hụt thương mại với Trung Quốc - 06/08/2015
- Chiến lược đàm phán thương mại của Trung Quốc trước ngã tư đường - 04/08/2015






















