
Một trong những điều khoản được ca ngợi nhiều nhất của Thỏa thuận Thương mại Mỹ-Trung Giai đoạn 1 là điều khoản yêu cầu Trung Quốc mua thêm 50 tỷ USD các sản phẩm năng lượng của Mỹ trong vòng 2 năm tới. Ngay từ khi hiệp định được công bố, người ta đã nghi ngờ liệu Trung Quốc có thể đáp ứng được điều kiện này trong một khoản thời gian ngắn như thế. Kể từ đó, tác động của virus Corona lên nền kinh tế và nhu cầu năng lượng của Trung Quốc, đã làm dấy lên những câu hỏi nghiêm trọng về việc liệu điều khoản năng lượng của thỏa thuận thương mại có bị thất bại hay không.
Ngay cả khi Trung Quốc có thể mua 50 tỷ USD các sản phẩm năng lượng của Mỹ trong năm 2020 và 2021 như yêu cầu của thỏa thuận, động thái này hầu như không mang lại ích lợi nào đối với cả Mỹ hay Trung Quốc, bởi những giao dịch ngắn hạn thường dùng phục vụ cho các dự án đã được lên kế hoạch từ trước, và thông thường, nhu cầu năng lượng của các dự án này đã được lên kế hoạch đầy đủ cho các năm tới. Kết quả là hàng ngàn việc làm liên quan đến việc xây dựng các nhà máy năng lượng mới sẽ không thành hiện thực, tước đi một trong những lợi ích chính của Mỹ trong thỏa thuận thương mại. Tuy nhiên, có một giải pháp cho việc này: hai bên có thể thỏa thuận để các cam kết mua bán dài hạn từ những nhà máy mới cũng “tính” vào việc thực hiện nghĩa vụ của Trung Quốc trong Điều khoản 6. Trong trường hợp này, cả hai bên không chỉ cùng được hưởng lợi mà còn có thể xây dựng một nền tảng cho những thỏa thuận thương mại trong tương lai.
Lợi ích của Mỹ và Trung Quốc đến từ đâu?
Thỏa thuận Thương mại Giai đoạn 1 yêu cầu Trung Quốc phải hoàn tất việc thu mua năng lượng trong vòng 2 năm. Tuy nhiên, việc xây dựng và phát triển các nhà máy năng lượng trên diện rộng cần nhiều thời gian. Chẳng hạn, việc xây dựng nhà máy khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) thường mất đến khoảng 4 năm và đòi hỏi nguồn vốn đến hàng tỉ USD. Việc hỗ trợ tài chính cho các dự án này thường phụ thuộc vào nhà tài trợ kí kết với khách hàng các hợp đồng thỏa thuận dài hạn theo yêu cầu khách hàng, và nhận khoản tiền trả trước cho các sản phẩm năng lượng, và nhờ đó khiến cho các hợp đồng này trở nên “có lời”. Tuy nhiên, 6 nhà máy hiện đang xuất khẩu LNG tại Mỹ nhìn chung đã bán hơn 95% công suất sản xuất, hầu hết đều đáp ứng cho các hợp đồng dài hạn. Vì thế, theo như Thỏa thuận Thương mại Giai đoạn 1, yêu cầu mua thêm 50 tỷ USD sản phẩm LNG của Mỹ có thể được Trung Quốc đáp ứng bằng cách mua lại hàng hóa từ nhà buôn thứ cấp đã thu mua từ các nhà sản xuất năng lượng Mỹ. Hàng hóa sẽ được hoán đổi và bán lại, và dòng chảy hàng hóa sẽ được điều chỉnh lại. Việc này gần như không tạo ra tăng trưởng trong xuất khẩu năng lượng ròng từ Mỹ.
Ngoài ra, hầu hết doanh thu LNG mà Trung Quốc nhập khẩu từ Mỹ sẽ hiếm khi vào lại tay nhà sản xuất ban đầu. Doanh thu từ việc hoán đổi và bán lại thường sẽ đi vào tay các đơn vị đã ký hợp đồng mua và vận chuyển hàng hóa, chứ không phải nhà sản xuất của Mỹ. Hầu hết LNG xuất khẩu từ Mỹ sẽ được bán và vận chuyển đến người mua tại cảng Hoa Kỳ hoặc sẽ được vận chuyển bởi một nhà điều hành tại cảng Hoa Kỳ theo thỏa thuận dịch vụ đầu cuối. Dù bằng cách nào đi nữa, nhà sản xuất LNG của Mỹ thường không liên quan đến (hoặc không có lợi nhuận từ) những sản phẩm LNG đã được vận chuyển đến cảng Hoa Kỳ. Vì thế, việc bán lại những hàng hóa đã cam kết được mua nhiều khả năng sẽ không mang lại ích lợi cho Mỹ. Ngay cả khi tăng trưởng trong hàng hóa mua tại chỗ sẽ dẫn đến việc thu mua những hàng hóa có thể bị hủy đơn sau đó (do giá thấp, nhu cầu giảm, hoặc bất kì lý do nào).
Một vấn đề khác là phần lớn cơ sở hạ tầng dùng để sản xuất, vận chuyển, hóa lỏng, và dự trữ khí tự nhiên đã có sẵn cho 2 năm tới. Vì thế, Thỏa thuận Thương mại Giai đoạn 1 dù có được Trung Quốc tuân thủ đầy đủ thì cũng sẽ dẫn đến không hoặc rất ít đầu tư ròng hay tạo việc làm hay đầu tư cho ngành năng lượng của Mỹ.
Cũng như những lợi ích đang bị hoài nghi đối với nhà xuất khẩu Mỹ, lợi ích đối với nhà nhập khẩu Trung Quốc tại điểm bán cũng không được chắc chắn. Trung Quốc, cũng như các quốc gia tiêu thụ nhiều năng lượng khác, hưởng lợi từ việc có nhiều nguồn năng lượng an toàn với giá thành rẻ. Các nhà máy mới, được duy trì bởi các cam kết dài hạn, sẽ tạo ra thêm một nguồn cung ứng cạnh tranh cho Trung Quốc và các khách hàng khác đến 30 - 40 năm, gấp khoảng 15 - 20 lần thời gian mua đặt ra trong Giai đoạn 1. Tuy nhiên, việc mua LNG tại chỗ trên thị trường gián tiếp chỉ sẽ dẫn đến các giao dịch hàng hóa chuyển qua thêm nhiều trung gian, nhưng không tăng sản lượng sản xuất từ các nguồn cung ứng hiện có ở châu Á.
Bước vào giai đoạn virus Corona
Các sự kiện gần đây làm dấy lên một mối lo ngại khác đối với cam kết mua thêm 50 tỷ USD năng lượng trong hai năm tới của Trung Quốc. Việc gom mọi đơn mua hàng trong một khoảng thời gian ngắn đã đặt Thỏa thuận Thương mại Giai đoạn 1 vào cùng thời điểm với các sự kiện gây hỗn loạn ngắn hạn, đang ảnh hưởng đến nhu cầu của Trung Quốc. Hiện tại, virus Corona càng khiến sự di chuyển của con người và dòng chảy của hàng hóa hạn chế hơn, tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế ở Trung Quốc và trên thế giới.
Nhu cầu năng lượng giảm sẽ khiến việc mua thêm 50 tỷ USD trong thời gian ngắn thậm chí còn khó khăn hơn. Một số người cho rằng Trung Quốc có thể bị dồn vào đường cùng, và họ sẽ tuyên bố bất khả kháng - một lý do để không thực hiện nghĩa vụ hợp đồng vì những sự kiện nằm ngoài tầm kiểm soát của chính quyền – đối với nghĩa vụ mua 50 tỷ USD sản phẩm năng lượng trong hai năm tới.
Khả năng nào để Thỏa thuận Thương mại mang lại thắng lợi cho cả Mỹ và Trung Quốc?
May mắn thay, Thỏa thuận Thương mại Giai đoạn 1 vẫn có thể thành công trong lĩnh vực năng lượng, mở đường cho các thỏa thuận bổ sung trong tương lai giữa hai bên. Điều này sẽ chỉ yêu cầu một thay đổi khá nhỏ trong việc diễn giải nội dung thỏa thuận, cụ thể là tính thêm các giao dịch mua dài hạn vào những cam kết nhập khẩu. Từ đó, thỏa thuận sẽ tạo ra lợi ích đáng kể cho cả Mỹ và Trung Quốc, cũng như giảm rủi ro Trung Quốc hủy thỏa thuận hoặc tuyên bố bất khả kháng do những điều kiện ngắn hạn.
Tại Mỹ, nguồn cung LNG vẫn rất khả quan và không hề thiếu cơ hội dành cho những cam kết mua hàng nhằm thúc đẩy tiến độ dự án của Trung Quốc. Hiện tại, có hơn một chục dự án xuất khẩu LNG đang chờ xử lý ở Mỹ, một vài trong số đó có thể được hỗ trợ tài chính và tiến tới quyết định đầu tư cuối cùng trong năm nay nếu như có người mua, như công ty dầu khí nhà nước lớn của Trung Quốc, tham gia vào một thỏa thuận mua bán LNG ràng buộc dài hạn (thường là 20 năm hoặc hơn) với một khối lượng LNG khá lớn. Việc ra mắt một dự án mới (hoặc mở rộng) như vậy sẽ thu hút hàng chục tỷ USD đầu tư mới vào cơ sở hạ tầng năng lượng của Mỹ và tạo ra hàng ngàn việc làm mới, có khả năng bắt đầu vào năm 2020.
Về phía Trung Quốc, việc thu gôm hàng hóa từ các nguồn trung gian không mang lại tính chắc chắn về một nguồn cung ứng đáng tin cậy trong dài hạn. Nhưng nếu Trung Quốc trả tiền cho các nhà máy LNG mới thông qua các hợp đồng dài hạn, họ sẽ có thêm một nguồn cung cấp đảm bảo trong nhiều thập kỷ. Một cam kết mua năng lượng lâu dài từ một nhà máy mới của Mỹ cũng sẽ cho phép Trung Quốc vượt qua mọi tác động kinh tế của virus Corona trong ngắn hạn.
Lấy ví dụ như, nếu Trung Quốc tham gia vào một thỏa thuận mua LNG dài hạn với khối lượng 4 triệu tấn LNG mỗi năm, số tiền mà người mua Trung Quốc phải trả cho nhà xuất khẩu Hoa Kỳ có thể đạt 1,5 tỷ đến 2,5 tỷ USD hàng năm, hoặc 30 tỷ đến 50 tỷ USD trong suốt thời hạn của hợp đồng, dựa trên giá thị trường hiện tại. Nếu hai nước đồng ý diễn giải như vậy trong Thỏa thuận Thương mại Giai đoạn 1, một giao dịch mua sắm này có thể đáp ứng toàn bộ yêu cầu mua hàng trị giá 50 tỷ USD. Điều khoản này sẽ hỗ trợ cả hai nước trong cuộc chiến chống lại suy thoái kinh tế do virus Corona gây ra. Trung Quốc sẽ an tâm khi mua số năng lượng mà hiện tại họ không cần, và Mỹ sẽ nhận được những lợi ích như tăng cường tạo việc làm và đầu tư vào ngành năng lượng, cũng như với việc xây dựng các nhà máy xuất khẩu mới.
Tác giả: Steven R. Miles và Kenneth B. Medlock III
Nguồn: Forbes
Từ khóa: chiến tranh thương mại, virus Corona, ngành năng lượng, cách, thỏa thuận thương mại, Mỹ-Trung, đạt, thành công
Các tin khác
- Chống Covid-19 và thách thức chặn gián đoạn kinh tế trên diện rộng - 10/04/2020
- Kinh tế ASEAN trong bão dịch Covid-19: Khó trăm bề - 10/04/2020
- COVID-19 sẽ gây thiệt hại kinh tế như thế nào đối với các nước đang phát triển? - 09/04/2020
- Dịch Covid-19 kéo dài đến cuối năm thì nền kinh tế "nguy kịch"? - 09/04/2020
- Cơ hội cho thị trường lao động tại Australia nhờ Hiệp định CPTPP - 09/04/2020






















