
Bà Amrita Jash viết: Mặc dù căng thẳng thương mại leo thang giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc đang gây ra bất ổn, song chúng có thể tạo cơ hội cho các quốc gia Ấn Độ- Thái Bình Dương đa dạng hóa các lựa chọn thương mại của mình.
Ngày 15/1/2020, Trung Quốc và Hoa Kỳ đã ký Thỏa thuận thương mại Giai đoạn 1, đây có thể là khởi đầu cho quá trình đình chiến giữa hai nước. Thỏa thuận Kinh tế và Thương mại này yêu cầu Bắc Kinh mua thêm 200 tỷ USD hàng hóa và dịch vụ Mỹ - chủ yếu là các mặt hàng sản xuất và các sản phẩm năng lượng – trong hai năm tới.
Đổi lại, Hoa Kỳ đồng ý giảm thuế từ 15% xuống 7.5% đối với các sản phẩm Trung Quốc, một cải thiện tương đương 120 tỷ USD cho hàng Trung Quốc. Một sự đánh đổi như vậy sẽ tạo ra sự thúc đẩy quan trọng cho nền kinh tế Mỹ, vì hàng xuất khẩu Mỹ sang Trung Quốc dự kiến sẽ tăng hơn 260 tỷ USD vào năm 2020, và xấp xỉ 310 tỷ USD vào năm 2021.
Thỏa thuận này có thể sẽ có lợi cho Mỹ trong dài hạn, khiến một số người suy đoán liệu Washington có thành công rời bỏ Bắc Kinh mà không có sự thay thế nào ngoài việc từ bỏ chủ nghĩa bảo hộ của Mỹ và đưa ra những nhượng bộ lớn.
Để hiểu cách điều này xảy ra, người xem phải quay lại từ đầu. Điều gì dẫn đến cuộc chiến thương mại? Tháng 3/ 2018, Mỹ đã đệ trình một trường hợp lên Tổ chức Thương mại Thế giới để kiện Trung Quốc, cáo buộc nước này các hành vi cho phép phân biệt đối xử. Điều này nhanh chóng được chính quyền Trump theo đuổi để áp các lệnh cấm lên các khoản đầu tư Trung Quốc trong lĩnh vực công nghệ trọng yếu.
Sau đó, Washington đã áp thuế tới 550 tỷ USD lên hàng nhập khẩu của Trung Quốc như công nghệ hàng không vũ trụ, công nghệ thông tin và máy móc.
Điều này đã bị Bắc Kinh phản đối bằng cách áp thuế trả đũa lên 185 tỷ USD hàng hóa Mỹ. Căng thẳng đã tăng cao kể từ đó, không bên nào chịu nhượng bộ.
Hiện nay, một thỏa thuận thương mại có thể đóng vai trò là một giải pháp ngắn hạn cho kinh tế, song đây không phải một giải pháp lâu dài cho chiến tranh thương mại.
Thuế quan thương mại và việc khắc phục hậu quả cho hàng xuất khẩu sang Hoa Kỳ là mối quan tâm chính đối với Trung Quốc trong dài hạn, và chắc chắn sẽ tiếp tục có tác động tiêu cực lên nền kinh tế Trung Quốc, bất kể thỏa thuận này ra đời.
Với sự bất ổn kinh tế hiện nay trong đại dịch COVID-19, không thể phủ nhận rằng chiến tranh thương mại sẽ còn tiếp tục có ảnh hưởng quan trọng đối với nền kinh tế toàn cầu, và hiện diện ở nhiều quốc gia cả những rủi ro và cơ hội.
Xếp đầu trong danh sách đó là các quốc gia thuộc khu vực Ấn Độ- Thái Bình Dương. Các nền kinh tế của khu vực tương tác nhiều với Trung Quốc và thường như trong trường hợp của Úc, cung cấp nguyên liệu thô và các sản phẩm trung gian giúp tạo ra hàng xuất khẩu Trung Quốc.
Điều này có nghĩa rằng khi bất ổn bị gây ra bởi thuế quan và sự sụt giảm trong hàng xuất khẩu Trung Quốc bắt đầu xảy ra, điều này cũng sẽ dẫn đến sự sụt giảm mạnh trong hàng nhập khẩu vào Trung Quốc từ các quốc gia khác. Rõ ràng, một sự suy giảm đáng kể ở Trung Quốc sẽ có ảnh hưởng dây chuyền tiêu cực đối với các nước khác trong khu vực, nhiều nước trong số đó là đồng minh của Mỹ.
Điều này có nghĩa là các quốc gia Ấn Độ- Thái Bình Dương phải bắt đầu tìm đến các thị trường khác. Thực tế, nhiều công ty hiện đang khai thác các lựa chọn bên ngoài Trung Quốc nơi mà họ không thể hoạt động tiếp, do tác động kinh tế lớn của đại dịch COVID-19.
Sự sụp đổ kinh tế do đại dịch thậm chí có thể có tác động cộng hưởng vào cuộc chiến thương mại, tạo ra các thị trường mới ở các quốc gia châu Á khác và đa dạng hóa các lựa chọn của đồng minh Mỹ, sự phụ thuộc của những nước này vào chuỗi cung ứng của Trung Quốc trở nên dễ bị tổn thương với sự gián đoạn của dịch bệnh COVID-19 vào thời điểm mà vấn đề trên nên được xem xét riêng biệt vì những lý do chiến lược.
Những nước hưởng lợi chính rất có thể là Việt Nam, Thái Lan, Malaysia, Ấn Độ và Đài Loan, và việc này đã bắt đầu xảy ra. Ví dụ, Apple chủ yếu lắp ráp iPhone tại Trung Quốc, đang dần chuyển các đơn vị sản xuất sang các nước khác, bắt đầu bằng việc thiết lập một cơ sở sản xuất hợp tác với Foxconn của Ấn Độ.
Trong khi đó, các thương hiệu Nhật Bản như Nintendo, Sharp, và Kyocera có kế hoạch chuyển sản xuất từ Trung Quốc sang Việt nam, và tập đoàn công nghệ khổng lồ Samsung, Hàn Quốc gần đây đã đóng cửa các hoạt động ở Trung Quốc và chuyển các đơn vị sản xuất sang cả Việt Nam và Ấn Độ.
Mặc dù, việc đa dạng hóa kinh tế quan trọng có thể xuất phát từ chiến tranh thương mại, vẫn không thể tránh khỏi tác động tiêu cực. Bên ngoài chỉ đơn giản là một cuộc thảo luận về hàng xuất khẩu và hoạt động sản xuất, cuộc chiến có tác động toàn cầu, và thay đổi các quy tắc của trật tự tự do.
Sự gia tăng chủ nghĩa bảo hộ của Mỹ đã báo hiệu trong quá trình này, tạo thành một sự khởi đầu nguy hiểm từ các nguyên tắc thương mại tự do hiện có. Với một thỏa thuận ngừng chiến một phần, điều gì xảy ra tiếp theo sẽ có ảnh hưởng quan trọng đối với tương lai của khu vực.
Sự bất ổn đã biến tính hiệu quả của một hệ thống thương mại dựa trên quy tắc đóng vai trò là một bài học cho tất cả các quốc gia, song sự bất ổn cũng tiết lộ một vấn đề nan giải cho nhiều người. Một mặt, bài học khá rõ ràng, ‘không bao giờ đặt trứng trong cùng một rổ’. Tuy nhiên, mặt khác, nhiều quốc gia đã buộc phải đối mặt với hiện thực rằng họ chỉ có quyền tiếp cận vào một giỏ thị trường.
Điều này có nghĩ rằng thách thức chính đối với các quốc gia- hiện đang phụ thuộc vào Trung Quốc- là tìm các lựa chọn thay thế. Tuy nhiên, liệu có bất kỳ quốc gia nào có thể thay thế Trung Quốc trở thành ‘công xưởng của thế giới’? Ngay cả khi một quốc gia nào đó có thể, hoặc nhiều quốc giá có thể hợp tác làm điều tương tự, thực tế rằng các doanh nghiệp không thể biết quốc gia hoặc nhóm quốc gia nào sẽ là ‘công xưởng’, sẽ gây áp lực lên nền kinh tế. Mối quan ngại dịch chuyển sản xuất và chi phí cao của việc tạo ra những thay đổi sẽ cho thấy thông qua hình thức đầu tư hạn chế và bất ổn trong tương lai.
Mặc dù, chiến tranh thương mại có khả năng tạo ra căng thẳng và bất ổn nghiêm trọng đối với hệ thống thương mại dựa trên các quy tắc hiện có ở Ấn Độ- Thái Bình Dương và xa hơn, đây cũng là một cơ hội cho các quốc gia của khu vực đa dạng hóa nền kinh tế và chuẩn bị cho một tương lai khi các nước không thể chỉ phụ thuộc vào Trung Quốc. Nếu các nước có thể giảm được sự phụ thuộc, toàn bộ khu vực sẽ an toàn hơn trong tương lai.
Nguồn: Asia & The Pacific Policy Society
Từ khóa: chiến tranh thương mại, dịch bệnh, phụ thuộc, Trung Quốc, Ấn Độ- Thái Bình Dương
Các tin khác
- Khả năng phi toàn cầu hóa giai đoạn hậu COVID-19 - 30/03/2020
- Các nước bắt đầu tích trữ thực phẩm trong bối cảnh Covid-19 đe dọa thương mại toàn cầu - 27/03/2020
- Toàn cầu hóa cần cải cách lại - 26/03/2020
- Doanh nghiệp Việt xoay trở “hàn gắn” đứt gãy thương mại - 25/03/2020
- Dịch virus corona tiếp tục gây chia rẽ mối quan hệ Mỹ - Trung - 25/03/2020






















