
Nhiều loại thuốc và thủ tục xét nghiệm y tế đang quá đắt đỏ đối với phần lớn người bệnh do các công ty dược phẩm lớn đa quốc gia lạm dụng quyền lực độc quyền của mình, được luật sở hữu trí tuệ bảo vệ, định giá sản phẩm cao nhằm tối đa hóa lợi nhuận trong dài hạn.
Phần lớn chi phí nghiên cứu cơ bản được lấy từ các khoản tài trợ của chính phủ, và trong những năm gần đây, là từ các dự án từ thiện. Khi một cơ hội sinh lời xuất hiện, các nhà đầu tư mạo hiểm tài trợ vốn cho những nỗ lực sáng chế và ‘đưa những sản phẩm này ra thị trường’, vì những người nắm giữ bằng sáng chế sẽ ‘hưởng tất cả lợi ích’.
Bằng sáng chế, một dạng quyền sở hữu trí tuệ (IPR), được nhiều người tin là cần thiết để khuyến khích sự đổi mới, và để bù đắp cho những chi phí nghiên cứu và phát triển, bằng cách tạo ra sự độc quyền pháp lý tạm thời.
Quyền sở hữu trí tuệ (IPR) là một dạng độc quyền
Sau khi đảm bảo quyền nắm giữ bằng sáng chế, chủ sở hữu thường thực hiện các biện pháp bổ sung để ngăn chặn và làm suy yếu các đối thủ tiềm năng, đồng thời củng cố và mở rộng vị thế độc quyền của mình càng lâu càng tốt bằng mọi cách có thể. Các công ty tư nhân sau đó đã sử dụng lợi thế độc quyền để áp giá cao cho sản phẩm.
Năm 2015, Công ty dược Turing Pharmaceuticals đã mua bản quyền cho Daraprim- một loại thuốc được sử dụng cho các bệnh nhân ung thư và HIV để ngăn chặn các bệnh nhiễm ký sinh trùng chết người- hành động này đã làm tăng giá thuốc gấp đôi từ 13.5 USD lên 750 USD! Công ty do ông Martin Shkreli quản lý, người được truyền thông Hoa kỳ mệnh danh là ‘Anh cả trong ngành dược phẩm’ và từng được xem ‘người đàn ông đáng ghét nhất nước Mỹ’.
Các công ty tư nhân mong muốn mở rộng sự độc quyền của mình, bằng cách đăng ký các bằng sáng chế cho những sự thay đổi nhỏ của các phát minh ban đầu. Bằng việc cách này, hệ thống bằng sáng chế đã được các công ty sử dụng để tạo ra sự độc quyền lâu dài.
Các công ty khác thì ‘cạnh tranh không lành mạnh về bằng sáng chế’, nghĩa là tìm cách nắm giữ nhiều bằng sáng chế để kiếm lợi từ việc kiện tụng hoặc cấp phép, mà không phát minh ra bất cứ cái gì hoặc không tạo ra sản phẩm nào cho riêng mình. Hành vi này cho phép chủ sở hữu bằng sáng chế kiếm tiền từ những người cần bằng sáng chế của họ, đôi khi bằng cách tạo ra ‘sự chồng chéo về quyền sở hữu trí tuệ’- và các điểm nghẽn liên quan, làm hạn chế việc sử dụng tri thức của bằng sáng chế và cản trở sự đổi mới sáng tạo trong tương lai.
Trước khi Mỹ rút khỏi Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) vào tháng 1/2017, các điều khoản của TPP sẽ mở rộng các biện pháp bảo vệ sở hữu trí tuệ bao gồm lĩnh vực ‘sinh học’, ví dụ các chất tự nhiên, như insulin cho bệnh nhân tiểu đường.
Các điều khoản TPP gây khó chịu này đã bị hoãn lại trong TPP Toàn diện và Tiến bộ (sau gọi là hiệp định CPTPP), nhưng các điều khoản này vẫn có thể dễ dàng được khôi phục, để thu hút Hoa Kỳ tham gia lại vào TPP.
Xem nhẹ sức khỏe cộng đồng
Thông qua nhiều cách khác nhau, các chế độ IPR theo kiểu Mỹ đã mở rộng trên toàn thế giới kể từ khi Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) thông qua hiệp định các Khía cạnh Liên quan đến Thương mại của quyền Sở hữu Trí tuệ (TRIPS).
Theo TRIPS, tất cả các thành viên của WTO phải cung cấp một mức bảo vệ IPR tối thiểu, trong đó điều khoản bảo vệ bằng sáng chế tối thiểu là 20 năm, bao gồm cả IPR nhập khẩu được đăng ký tại các nước khác.
TRIPS cũng quy định các điều kiện sử dụng quyền chuyển nhượng ‘giấy cấp phép bắt buộc’ cho phép các chính phủ cấp phép sử dụng một phát minh bằng sáng chế cho bên thứ ba hoặc cơ quan chính phủ mà không cần sự đồng ý của chủ sở hữu bằng sáng chế.
Có ít bằng chứng cho thấy TRIPS mang lại lợi ích cho các nước đang phát triển bằng cách thu hút đầu tư nước ngoài, thúc đẩy chuyển giao công nghệ và tăng cường cải tiến. Ngược lại, TRIPS tạo ra chi phí đáng kể, không cần thiết cho các nước đang phát triển.
Khi các nước đang phát triển sử dụng các quyền chuyển nhượng TRIPS, họ phải đối mặt áp lực quốc tế từ các công ty dược phẩm lớn và chính phủ nước ngoài yêu cầu họ hạn chế việc sử dụng quyền này.
Malaysia là nước đầu tiên sử dụng quyền “cấp phép bắt buộc’ dựa theo TRIPS để sản xuất thuốc sofosbuvir trong điều trị viêm gan C. Thuốc này từ chủ sở hữu bằng sáng chế Gilead, có giá gần 300,000RM (tương đương 68,000USD) cho toàn bộ công trình nghiên cứu của thuốc, mặc dù sản phẩm thay thế chung có giá chỉ trên 1000 RM. Công ty ‘dược phẩm lớn’ của Hoa Kỳ đã gây áp lực buộc Malaysia phải ngừng việc sử dụng điều khoản ‘giấy phép bắt buộc’.
Quyền sở hữu trí tuệ đối với vấn đề vi phạm bản quyền trí tuệ
Các nước đang phát triển thường không thể kiểm tra thực trạng độc quyền của các tập đoàn dược phẩm đa quốc gia do cơ chế chống độc quyền kém phát triển, năng lực thực thi pháp luật hạn chế và các đối tác có ảnh hưởng của mình.
Các công ty như vậy chỉ có thể “bắt chước” các sản phẩm và quy trình dược phẩm từ các nước phát triển, các “hệ thống kiến thức truyền thống” nhằm đảm bảo bằng sáng chế.
Củ nghệ từng được sử dụng rộng rãi tại Ấn Độ phục vụ cho y học, thức ăn và thuốc nhuộm. Năm 1995, Hoa Kỳ đã cấp cho Trung tâm Y tế Đại học Mississippi bằng sáng chế cho việc sử dụng và quản lý bột nghệ để chữa lành vết thương, trao cho Trung tâm này quyền độc quyền bán và phân phối bột nghệ.
Hội đồng Nghiên cứu Khoa học và Công nghiệp (CSIR) phản đối, cho rằng nghệ đã được sử dụng ởẤn Độ trong nhiều thế kỷ, đồng thời cung cấp các tài liệu tham khảo lịch sử bằng tiếng Phạn, tiếng Urgu, tiếng Hindi và các ngôn ngữ khác. Bằng sáng chế trên cuối cùng đã bị thu hồi vì thiếu yếu tố tính mới lạ.
Lựa chọn thay thế
Các nước đang phát triển hiện không còn có thể yêu cầu chuyển giao công nghệ. Việc này khiến khả năng phát triển năng suất của họ hạn chế hơn. Do đó, chính phủ của nhiều nước đang phát triển cho biết họ không có cách nào công nghiệp hóa nền sản xuất nội địa, trừ khi các công ty đa quốc gia đặt các hoạt động sản xuất giá trịgia tăng tại nền kinh tế của họ.
Bài nghiên cứu về Đổi mới, Sở hữu trí tuệ và Phát triển của Joseph Stiglitz, Dean Baker và Arjun Jayadev, đã đề xuất các lựa chọn thay thế để khuyến khích đổi mới, đặc biệt phù hợp với các nền kinh tế phát triển. Chúng bao gồm: tài trợ R&D trực tiếp tập trung; tài trợ phi tập trung thông qua giảm thuế cho chi tiêu nghiên cứu; sử dụng giải thưởng để công nhận và khen thưởng công trình nghiên cứu sáng tạo; và thiết lập các nền tảng nguồn mở để phát triển các kiến thức miễn phí.
Nếu không có sự độc quyền tư nhân mạnh mẽ được các quy định IP hiện hành bảo vệ, giá thuốc và giá các sản phẩm khác có thể giảm đáng kể, trong khi đó các nước đang phát triển sẽ có triển vọng tốt hơn để phát triển năng lực công nghiệp và năng lực công nghệ cạnh tranh quốc tế.
*Claire Lim là một luật sư từng hành nghềở Anh. Jomo Kwame Sundaram là một giáo sư đại học và quan chức cấp cao của Liên Hiệp Quốc. Cả hai đều làm việc với Viện nghiên cứu Khazanah.
Nguồn: IPS
Từ khóa: quyền sở hữu trí tuệ, độc quyền, chi phí, cạnh tranh không lành mạnh
Các tin khác
- Hiệp định RCEP: Tác động lên chuỗi cung ứng và môi trường kinh doanh ASEAN - 17/02/2020
- Năm Chủ tịch ASEAN 2020 và vai trò của “Nhóm đặc trách cao cấp về hội nhập kinh tế” - 14/02/2020
- EVFTA và EVIPA quan trọng cả về chiến lược và kinh tế trong quan hệ Việt Nam và EU - 13/02/2020
- Triển vọng chiến lược ASEAN - điểm nhấn của WEF lần thứ 50 - 12/02/2020
- Nghị viện châu Âu bỏ phiếu phê chuẩn EVFTA: Việt Nam hưởng lợi gì? - 12/02/2020






















