
Từ năm 1986 đến nay, Việt Nam đã thực hiện nhiều bước cải cách quan trọng để chuyển đổi nền kinh tế. Cùng với quá trình đổi mới, hệ thống thuế của Việt Nam đã trải qua những bước cải cách quan trọng. Bài viết khái quát về các hình thức ưu đãi thuế, kinh nghiệm thế giới trong việc sử dụng ưu đãi thuế nhằm khuyến khích hoạt động đầu tư của doanh nghiệp, đồng thời phân tích, đưa ra các đề xuất góp phần hoàn thiện hơn chính sách ưu đãi thuế với doanh nghiệp của Việt Nam hiện nay.
ƯU ĐÃI THUẾ CHO DOANH NGHIỆP: KINH NGHIỆM CÁC NƯỚC VÀ THỰC TIỄN VIỆT NAM (PHẦN 1)
Những vấn đề đặt ra
Việc đổi mới chính sách thuế theo hướng ưu đãi, khuyến khích đầu tư nói chung và đầu tư nước ngoài nói riêng trong thời gian qua đã góp phần khơi thông nguồn vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam và có những thành công trong việc thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế theo hướng bền vững. Tuy nhiên, chính sách ưu đãi thuế cho DN cũng đặt ra nhiều vấn đề:
Thứ nhất, tác động của ưu đãi thuế đối với việc phân bổ nguồn lực trong đầu tư còn hạn chế, chưa thu hút được vốn đầu tư vào các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.
Số liệu thống kê cho thấy, các DN vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) thường tập trung vào những nơi có kết cấu hạ tầng thuận lợi như: Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Vũng Tàu, Hải Phòng, Hưng Yên, Bình Dương, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc... chiếm gần 70% số dự án và tổng vốn đầu tư cả nước. Trong khi đó, các tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa như Tây Bắc, Tây Nguyên... chỉ chiếm gần 10% tổng vốn đầu tư cả nước. Nông nghiệp chiếm khoảng 15,5% GDP cả nước năm 2016, song tỷ trọng đầu tư trong ngành Nông nghiệp chỉ chiếm gần 6% tổng vốn đầu tư toàn xã hội (Tổng cục Thống kê, 2016).
Hầu hết vốn FDI tập trung vào lĩnh vực chế biến, chế tạo và kinh doanh bất động sản. Như vậy, chính sách ưu đãi thuế để khuyến khích các DN đầu tư vào những vùng kém phát triển, vùng sâu, vùng xa, vào những ngành công nghiệp công nghệ cao, các ngành sử dụng nhiều lao động... vẫn chưa đạt được mục đích.
Thứ hai, một số hình thức ưu đãi thuế đang trở thành “kẽ hở” để DN lợi dụng, trốn thuế. Các thủ đoạn DN lợi dụng sự ưu đãi của chính sách để trốn thuế như: Thành lập DN mới để hưởng ưu đãi thuế, hết thời hạn ưu đãi lại giải thể và thành lập DN khác nhằm kéo dài thời hạn được miễn giảm thuế; Chuyển thu nhập từ dự án không hưởng ưu đãi sang dự án hưởng ưu đãi; Cố tình tạo ra các dự án đầu tư mới mang tính ngắn hạn, kém hiệu quả để được hưởng lợi từ ưu đãi hoàn thuế cho khoản lợi nhuận được sử dụng để tái đầu tư...
Thứ ba, ưu đãi thuế tạo ra gánh nặng cho ngân sách. Nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới do Pham, Le & Shukla (2012) thực hiện cho thấy, chính sách ưu đãi thuế ở Việt Nam khá cao so với các quốc gia đang phát triển.
Ưu đãi thuế cao cũng đồng nghĩa với chi phí cơ hội cao về thất thu ngân sách. Theo Quỹ Tiền tệ quốc tế - IMF (2014), việc mở rộng chính sách ưu đãi thuế là một trong những nguyên nhân dẫn đến giảm mức độ huy động ngân sách của Việt Nam.
Năm 2014, số giảm thu ngân sách do áp dụng chính sách ưu đãi thuế TNDN và thu nhập cá nhân theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của một số luật thuế ước khoảng 2.500 tỷ đồng, tương đương 1,85% thu ngân sách từ thuế TNDN (trừ dầu thô) năm 2014.
Thứ tư, theo nghiên cứu của Oxfam (2016), chính sách ưu đãi thuế của Việt Nam tương đối phức tạp do phạm vi ưu đãi (ưu đãi theo lĩnh vực và ưu đãi theo địa bàn, quy mô vốn) được quy định trong Luật Đầu tư 2014 là khá rộng.
Nghị định số 118/NĐ-CP ngày 18/11/2015 hướng dẫn thi hành Luật Đầu tư, trong đó đã quy định cụ thể điều kiện ưu đãi thuế theo lĩnh vực và theo địa bàn.
Theo đó, có 30 lĩnh vực khuyến khích đầu tư và 27 lĩnh vực đặc biệt ưu đãi đầu tư được hưởng ưu đãi về đầu tư, trong đó có ưu đãi về thuế. Về địa bàn, chính sách ưu đãi thuế được áp dụng đối với địa bàn ưu đãi đầu tư, bao gồm cả các huyện, thị xã của 53 tỉnh trong số 63 tỉnh, thành phố trong cả nước.
Ngoài ra, khu công nghệ cao, khu kinh tế, khu công nghiệp và khu chế xuất được thành lập theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ cũng thuộc diện áp dụng chính sách ưu đãi thuế. Hiện tại, có hơn 300 loại khu như vậy được hưởng ưu đãi thuế với các hình thức khác nhau.
Bên cạnh đó, còn có nhiều hình thức ưu đãi thuế gián thu khác như ưu đãi về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu. Theo Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu năm 2016, có 23 trường hợp được hưởng ưu đãi về miễn thuế, mở rộng hơn so với Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu năm 2005.
Trong số 23 trường hợp được miễn thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, trong đó có cả các trường hợp thuộc thẩm quyền quyết định của Thủ tướng Chính phủ. Trong chính sách thuế GTGT, cũng có nhiều loại hàng hóa, dịch vụ không chịu thuế hoặc được áp dụng mức thuế suất thấp 5%...
Kết luận và gợi ý chính sách
Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu ngày càng gay gắt, để theo đuổi mục tiêu tiếp tục tăng trưởng nhanh và bền vững thì khuyến khích phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh của DN là nhu cầu tất yếu.
Các nghiên cứu thực nghiệm đã chỉ ra rằng, quyết định đầu tư của DN phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô, ổn định chính trị và duy trì môi trường thể chế lành mạnh là những yếu tố quan trọng nhất; chính sách ưu đãi thuế chỉ là một trong số các yếu tố khác mà nhà đầu tư xem xét đến khi đưa ra quyết định đầu tư.
Ưu đãi thuế không chỉ có những mặt tích cực mà còn có những hạn chế nhất định. Vì vậy, để cải thiện hiệu quả chính sách ưu đãi thuế, nghiên cứu của Oxfam do Trương và Lê (2017) thực hiện đã đưa ra một số gợi ý:
Một là, Việt Nam cần nghiên cứu giảm việc áp dụng hình thức ưu đãi về thời gian miễn thuế, giảm thuế. Hình thức ưu đãi về thời gian miễn thuế, giảm thuế đã hoàn toàn bị bãi bỏ ở các nước phát triển và hiện nay các nước OECD chỉ áp dụng hình thức giảm trừ thuế hoặc khấu hao nhanh do đây là các hình thức ưu đãi có mục tiêu cụ thể và hiệu quả nhất (Ngân hàng Thế giới, 2014).
Hai là, thủ tục hành chính cho việc xem xét, quyết định ưu đãi thuế cần đơn giản và minh bạch hơn. Trong 5 năm tới, cần tiếp tục tập trung các chính sách ưu đãi thuế trong các luật thuế để tạo thuận lợi cho công tác quản lý và thực thi chính sách, qua đó giảm chi phí tuân thủ.
Ba là, Việt Nam cần thực hiện phân tích chi phí - lợi ích của ưu đãi thuế một cách thận trọng và mang tính dài hạn trước khi ban hành và sau khi thực hiện, bao gồm cả khía cạnh xã hội lẫn bình đẳng giới.
Khi rà soát, hoàn thiện chính sách ưu đãi thuế cần thực hiện phân tích chi phí - lợi ích trong cả ngắn hạn và dài hạn. Việc ban hành chính sách ưu đãi thuế cũng cần đặc biệt tính đến tác động thu ngân sách, đặc biệt là trong bối cảnh thu ngân sách đang có xu hướng giảm.
Ngoài ra, cần rà soát lại toàn bộ các quy định pháp lý về ưu đãi thuế được quy định trong các luật khác ngoài luật thuế để đảm bảo tính nhất quán trong ưu đãi. Chính phủ cũng cần yêu cầu các địa phương thực hiện thống kê đầy đủ ưu đãi đã áp dụng cho các DN để cung cấp cái nhìn toàn cảnh về ưu đãi cho DN hiện nay.
Chính sách ưu đãi thuế có thể có tác dụng khuyến khích DN nhưng không phải là giải pháp tốt nhất bởi ổn định kinh tế vĩ mô và môi trường thể chế lành mạnh là nhân tố quan trọng hàng đầu đối với sự thành công của DN.
Vì vậy, cần tiếp tục thực hiện cải cách thể chế, minh bạch và nâng cao trách nhiệm giải trình trong việc thực hiện ưu đãi với DN, trong đó có ưu đãi thuế. Điều này cho phép nâng cao lòng tin của DN với Nhà nước và sẽ là điều kiện cho hoạt động đầu tư dài hạn của DN.
Tài liệu tham khảo
1. Trương Bá Tuấn và Lê Quang Thuận (2016), Báo cáo đánh giá chính sách ưu đãi thuế ở Việt Nam – Oxfam Vietnam;
2. Boonnyarat, M (2014), “Achieving effective and efficient policy of tax incentives”, Proceedings of the Asia Tax Forum 2014, Hanoi, May 7-8;
3. International Monetary Fund (IMF) (2014), "Vietnam Article IV", IMF, Washington DC;
4. James, S. (2013), "Tax and non-tax incentives and investments: Evidence and policy implications" FIAS, World Bank Group, Washington DC;
5. Pham, DM, Le, TM & Shukla GP (2011). "Legal framework for tax administration", Shukla, GP, Pham, DM, Engleschalk, M & Le TM (ed.). Tax Reform in Vietnam: Toward a More Efficient and Equitable Tax System, World Bank, Washington DC;
6. Tanzi, V & Zee, H. (2000), “Tax policy for emerging markets and developing countries", IMF Working Paper WP/00/35, IMF, Washington, DC.
Nguồn: Tạp chí tài chính
Từ khóa: ưu đãi thuế, doanh nghiệp, kinh nghiệm, các nước, thực tiễn, Việt Nam, phần 2
Các tin khác
- Các công ty châu Á di dời sản xuất sang các nước châu Á khác, khi thuế quan đánh vào Trung Quốc có hiệu lực - 27/09/2018
- Giải mã chuyện 60.000 nông trại Mỹ muốn xuất khẩu nội tạng lợn sang Việt Nam - 27/09/2018
- Máy hút bụi, lốp xe, linh kiện máy tính là những hàng hóa sẽ chịu tác động nặng nề nhất trong gói đánh thuế 200 tỷ USD của Mỹ vào Trung Quốc - 27/09/2018
- Người Mỹ thiệt hại thế nào trong cuộc chiến thương mại với Trung Quốc? - 27/09/2018
- Thái độ hiện tại của người người Anh về Brexit - 27/09/2018






















