
Kate Lappin là điều phối viên khu vực của diễn đàn châu Á Thái Bình Dương về vấn đề phụ nữ, luật pháp và phát triển, một mạng lưới 220 tổ chức vì quyền lợi phụ nữ và các phong trào trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương.
*Bài viết chỉ phản ánh quan điểm của riêng tác giả.
Sau 30 năm diễn ra toàn cầu tóa, nhiều người càng nhận ra rằng, sự khắc khổ, tư hữu hóa, giảm thiểu sự can thiệp của chính phủ vào chính sách tiền tệ, các thị trường và các doanh nghiệp, tự do hóa thương mại và tự do hóa đầu tư là những yếu tố đã tác động xấu và mang tính phân biệt đối với phụ nữ. Các chuyên gia tại Liên Hiệp Quốc, các nhóm nước trong hiệp ước và các tổ chức quốc tế phi chính phủ đã phải hứng chịu sự chỉ trích triền miên trong xã hội và nhận ra rằng, chủ nghĩa tân tự do có tác động ngược và mang tính phân biệt đối xử dành cho nữ giới. Một chuyển biến đáng chú ý là việc ngay cả Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) hiện nay cũng đang tỏ ra lo ngại, trước bằng chứng cho thấy các chính sách tân tự do là nguyên nhân dẫn đến bất công. Rõ ràng rằng chủ nghĩa tân tự do có phân biệt về giới và hoàn toàn không có khả năng đem lại sự công bằng giữa nam và nữ cũng như không thể đem lại sự phát triển bền vững.
Phần 2:
Làm mất dần nghề nông mà phụ nữ dùng làm kế sinh nhai
Một mục tiêu trọng tâm của các hiệp định thương mại là mở cửa ngành nông nghiệp và mở cửa thị trường bất động sản cho nhà đầu tư nước ngoài. Rất nhiều quốc gia hạn chế người nước ngoài được mua đất mà chỉ cho phép họ thuê, đôi khi chính phủ cũng nhượng bộ trong một vài trường hợp, nhưng cũng không đại trà. Có khả năng là RCEP, giống như các hiệp định thương mại khác, sẽ bao gồm điều khoản “đối xử quốc gia” – yêu cầu chính phủ các nước đối xử công bằng giữa nhà đầu tư nước ngoài và nhà đầu tư trong nước. Kết quả là, trừ phi các nước được miễn trừ thực hiện, bằng không, các cá nhân và doanh nghiệp nước ngoài sẽ được phép thu mua đất trong nước.
Một trong những sức hút của châu Á đối với nhà đầu tư nước ngoài đó chính là thị trường nhà đất dồi dào và giá rẻ. Trên thực tế, trong vòng 10 năm qua, có đến gần 19 triệu hecta đất ở châu Á bị thu mua trong các thương vụ có bóng dáng của nhà đầu tư nước ngoài. Sau khi khủng hoảng tài chính qua đi, làn sóng đầu cơ bắt đầu ồ ạt vào thị trường bất động sản, giá trị đầu tư bất động sản xuyên biên giới đã tăng đến 334% trong giai đoạn 2008 – 2015, và các nhà đầu tư ngày càng gây sức ép lên chính phủ để cho phép nhà đầu tư nước ngoài tham gia thị trường. Điều này có thể ảnh hưởng đến việc nắm giữ đất đai nhỏ lẻ trong dân chúng, đặc biệt ở những nơi mà giấy tờ chứng minh quyền nắm giữ tài sản không được đảm bảo. Hơn nữa, việc mở rộng các vụ mùa theo định hướng xuất khẩu đã kéo theo tình trạng thiếu hụt đất canh tác nông nghiệp cho phụ nữ làm kế sinh nhai. Các trang trại quy mô nhỏ để phụ nữ tự túc lương thực hàng ngày đã không còn cạnh tranh nổi với các tập đoàn độc quyền trong nông nghiệp bởi lợi thế về vốn và quy mô, trong khi phụ nữ vốn đã khó tiếp cận với nguồn đầu vào, tín dụng, công nghệ và thông tin. Hơn nữa, nữ giới cũng ít khả năng đáp ứng được các yêu cầu pháp lý trong thương mại quốc tế hay thương mại điện tử.
Thêm vào đó, khi thuế nhập khẩu giảm, thực phẩm được trợ cấp sẽ tràn vào thị trường nội địa và thay thế sản phẩm do phụ nữ làm ra. Hiệp định thương mại tự do Bắc Mỹ (NAFTA) đã đi kèm với tình trạng mất đất của 2 triệu nông dân, kéo theo tình trạng di dân trong nước và ngoài nước. Riêng đối với phụ nữ, họ có thể phải chuyển sang các khu vực kinh tế đặc biệt nguy hiểm với nạn bóc lột lao động và bạo hành phụ nữ, hoặc xuất khẩu lao động ra nước ngoài. Mặc dù đầu tư nước ngoài sẽ giúp khai thác một diện tích lớn đất canh tác, đảm bảo an ninh lương thực cho cộng đồng địa phương, thế nhưng, các khoản đầu tư vào khu vực nông nghiệp thường vì mục đích phát triển các ngành xuất khẩu đem lại nhiều lợi ích cho doanh nghiệp, hơn là vì mục đích phục vụ cộng đồng. Thương mại hóa nông nghiệp quá mức sẽ làm cạn kiệt đất công và tài nguyên – nguồn sống của phần đông lao động nữ.
Hơn nữa, các dự án quy mô lớn thường được tiến hành mà không qua tham vấn ý kiến phụ nữ ở địa phương và không cần đến sự đồng ý của họ. Thu hồi đất đai bắt buộc và giảm diện tích rừng gây ra sự thay đổi trong cơ cấu lao động và cơ cấu dân số. Phụ nữ sẽ rời bỏ ruộng vườn và lao động chân tay trong các nhà máy, phân xưởng với điều kiện lao động dưới mức tiêu chuẩn.
Quyền sở hữu trí tuệ cho các tập đoàn
Nhiều thế hệ qua, phụ nữ cất giữ hạt giống, chia sẻ và phát triển vốn kiến thức về các giống cây trồng và cách sử dụng. Tập quán này tạo nên sự bền vững, hệ sinh thái và giảm thiểu chi phí. Đối với phụ nữ nông thôn tại các nước đang và kém phát triển, 80% hạt giống là tự cung tự cấp. Đến khi nở rộ hình thức canh tác mùa vụ sản lượng cao để bán ra thị trường, người nông dân mới ngày càng phụ thuộc vào hạt giống thương mại. Thậm chí họ còn đối mặt với án phạt, kể cả án phạt hình sự, vì việc tích trữ hạt giống và chia sẻ công thức.
RCEP và các hiệp định thương mại khác đang được đàm phán hiện nay có bao gồm vấn đề bảo hộ sở hữu trí tuệ, với mức độ vượt xa hiệp định “Các khía cạnh có liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ” (TRIPS) của WTO. Nếu điều khoản của TPP được RCEP sao chụp lại, các nước thành viên RCEP sẽ phải ký kết Công ước quốc tế về bảo hộ giống cây trồng mới (UPOV91). Công ước này nhằm bảo hộ sở hữu trí tuệ cho hạt giống và cây trồng, cấm người nông dân tích trữ và chia sẻ các hạt giống được bảo hộ sở hữu trí tuệ, bao gồm cả loại hạt giống mà họ từng được tự do dùng trước khi ký kết Công ước. UPOV91 còn cho phép các công ty nông sản được hạn chế quyền của người gây giống cây trồng và bảo hộ sáng chế. Điều đó đồng nghĩa với việc người nông dân sẽ phải mua hạt giống mới mỗi năm.
Mặc dù vẫn có ngoại lệ cho những chủ đất nhỏ chủ yếu trồng trọt để sinh nhai, việc miễn trừ chỉ áp dụng cho người chủ sở hữu đất đai. Trong khi đại bộ phận phụ nữ làm nông không sở hữu đất. Kết quả là, điều khoản này chỉ các khoét sâu thêm tình trạng phân biệt đối xử vốn đã tồn tại trong vấn đề quyền sở hữu đất đai của phụ nữ.
Các quốc gia phát triển hiện nay trong RCEP – gồm Úc, Nhật Bản, Hàn Quốc và Singapore – là các nước thành viên của UPOV91, và Việt nam là quốc gia “đang phát triển” duy nhất trong RCEP đã ký Công ước này. Tuy nhiên, sau nhiều năm chịu sức ép từ các tập đoàn giống cây trồng đa quốc gia và từ các nước phát triển mong muốn áp đặt các điều khoản của Công ước này vào Hiệp định thương mại, Thái Land gần đây cũng đã phải dự thảo luật để tuân thủ Công ước OPOV91. Theo bản dự thảo, hành vi cất giữ và chia sẻ hạt giống là có tội, có thể bị phạt tiền hoặc ngồi tù hoặc cả hai. Phụ nữ làm nông sẽ phải đối mặt với các lựa chọn khắc nghiệt hơn, hoặc là mạo hiểm phạm luật, hoặc là phải đi vay tiền để mua hạt giống, nhưng nếu vụ mùa thất bại họ sẽ mất hết mọi thứ.
Vấn đề sức khỏe và khả năng tiếp cận thuốc chữa bệnh
Các hiệp định thương mại mong muốn hài hòa hóa quy định về quyền sở hữu trí tuệ có lợi cho doanh nghiệp và loại bỏ quy định TRIPS, vì TRIPS được thiết kế để cho các nước đang phát triển có được độ linh hoạt nhất định trong việc thực thi quy tắc về sở hữu trí tuệ. Các điều khoản về sở hữu trí tuệ trong TPP, nếu được sao chép qua RCEP, sẽ ảnh hưởng sâu sắc đến quyền lợi nữ giới. Vì TPP cho phép kéo dài thời hạn bảo hộ thuốc men, bảo hộ sáng chế cho những thay đổi nhỏ, và cho phép bổ sung thời gian bảo hộ cho giai đoạn kiểm nghiệm thuốc và cấp bằng sáng chế.
Sức khỏe của phụ nữ còn bị đe dọa thêm khi các hiệp định thương mại cho phép tư nhân hóa các dịch vụ chăm sóc sức khỏe và giảm khả năng tiếp cận thuốc men trợ cấp và thuốc generic. Các Hiệp định thương mại sau này còn có thêm chương dịch vụ, yêu cầu dịch vụ công phải mở cửa cho nhà đầu tư nước ngoài, nếu như bất kỳ khâu nào trong ngành dịch vụ đó hiện đang được cung ứng bởi khu vực tư nhân. Khả năng tiếp cận thuốc giá rẻ của nữ giới cũng bị đe dọa, đặc biệt khi hai nguồn cung cấp thuốc generic lớn nhất trên thế giới là Trung Quốc và Ấn Độ giờ là thành viên của RCEP. Các điều khoản bảo hộ cho độc quyền dược sẽ tác động đến nhiều doanh nghiệp sản xuất thuốc. Các doanh nghiệp này sẽ bị đội giá thành, tăng giá bán, và người chịu ảnh hưởng cuối cùng vẫn là tầng lớp nghèo nhất trong xã hội. Một nghiên cứu cho thấy, TPP sẽ giảm đáng kể từ 68% xuống còn 30% tỷ lệ người dương tính với HIV tại Việt Nam được tiếp cận với các liệu pháp chữa trị. Tại Malaysia, giá thuốc Herceptin đặc trị ung thư vú có thể tăng từ 2,600 USD lên 44,000 USD. Các bằng chứng cho thấy, khi vấn đề chăm sóc sức khỏe bị tư nhân hóa hoặc trở nên tốn kém hơn, các hộ gia đình thu nhập thấp ở nông thôn sẽ khó có khả năng chi tiền để chăm sóc sức khỏe sinh sản cho người phụ nữ trong gia đình.
Ngoài ra, quyền sở hữu trí tuệ còn tác động lên những loại cây trồng và phương thuốc vốn được phụ nữ dân tộc và nông thôn sử dụng hàng thế hệ qua. Thông qua quy định về quyền sở hữu trí tuệ, các loại cây trồng đó lại thuộc “quyền sở hữu trí tuệ” của các tập đoàn nước ngoài. Lấy ví dụ, phụ nữ ở phía bắc Thái Lan đã dùng rễ cây Pueraria Mirifica để chữa các bệnh liên quan đến hóc môn nữ, giúp hạ thấp tỷ lệ ung thư vú trên thế giới. Nhưng vào năm 2004, Hoa Kỳ đã cấp bằng phát minh cây Pueraria Mirifica, bao gồm cả việc phơi khô và băm nhỏ, cho doanh nghiệp.
Bãi bỏ điều tiết của chính phủ trong dịch vụ công và tư nhân hóa lĩnh vực dịch vụ
Tự do hóa thương mại dịch vụ là điều khoản quan trọng trong RCEP, gồm hai mục đích chính. Một là tăng cường việc tư nhân hóa lĩnh vực dịch vụ như nước sinh hoạt, năng lượng, y tế và giáo dục. Hai là xóa bỏ sự điều tiết của chính phủ trong những lĩnh vực này liên quan đến chi phí, điều kiện cấp phép, tác động môi trường, tiêu chuẩn y tế, năng lực của nhà cung cấp, tiêu chuẩn kỹ thuật và khả năng tiếp cận.
RCEP có thể sao chép hoặc thậm chí làm chặt hơn vấn đề thương mại dịch vụ và quy định nội địa trong TPP, trong khi bản thân TPP đã vượt xa Hiệp định chung về Hàng hóa và Dịch vụ (GATS) của WTO. Trong khi GATS liệt kê các ngành dịch vụ được tự do hóa, thì TPP lại tự do hóa tất cả các lĩnh vực dịch vụ, ngoại trừ một số ngành đặc thù. Thêm vào đó, trong khi WTO cho phép các quy định trong nước được tính đến lợi ích chung, thì các hiệp định thương mại lại hạn chế điều này, yêu cầu các quy định nội địa phải “khách quan”, “minh bạch” và “không gây phiền phức hơn mức cần thiết”. Theo đó, một quy định về việc đảm bảo cung cấp nước sinh hoạt đến người nghèo và khu vực nông thôn hoặc quy định về thiết lập giá nước sinh hoạt có thể được xem là “phiền phức” hoặc không “khách quan”. Ngoài ra, các hiệp định thương mại cũng không cho phép chính phủ được thông qua các quy định mới hoặc quyết định thành lập các dịch vụ do nhà nước sở hữu trong các lĩnh vực mà tư nhân đang hoạt động. Lý do thường được đưa ra là để cho nhà đầu tư được đối xứ “vô tư và công bằng”. Nhà đầu tư còn có các “nguyện vọng thỏa đáng” khác, như kỳ vọng là các quy định pháp lý sẽ không thay đổi, và chính phủ sẽ dùng quyền lực nhà nước để bảo vệ lợi ích của nhà đầu tư. Một khi chính phủ đảo ngược quá trình tư nhân hóa, hoặc thu mua về những ngành dịch vụ thiết yếu vì mục đích nhân quyền, họ có thể đối mặt với rủi ro bị kiện theo cơ chế ISDS (cơ chế giải quyết tranh chấp giữa nhà đầu tư và nhà nước), như đã từng xảy ra ở Argentina và Mexico.
Còn tiếp ….
Nguồn: Stratfor – TQ
Từ khóa: phụ nữ, RCEP, bất bình đẳng, dịch vụ, thuốc, sở hữu trí tuệ, hạt giống, nông nghiệp
Các tin khác
- Quan hệ đối tác Trung Quốc-Pháp đang phát triển ngày càng thực dụng - 11/01/2018
- Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp tư nhân khi tham gia chuỗi giá trị toàn cầu - 11/01/2018
- Toàn cầu hóa hay quyền lợi cho phụ nữ? - 10/01/2018
- Nhà Trắng đang lên kế hoạch áp dụng những biện pháp thương mại cứng rắn hơn với Trung Quốc - 10/01/2018
- Nga đang bị ngầm ép phải rời WTO? - 10/01/2018






















