JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU
Phân tích - Bình luậnHội nhập kinh tế quốc tếHiểu về thế kỷ của châu Á: Tại sao Ấn Độ và Trung Quốc phải giữ vai trò dẫn đầu

Hiểu về thế kỷ của châu Á: Tại sao Ấn Độ và Trung Quốc phải giữ vai trò dẫn đầu

TQ 11

Trật tự kinh tế cũ không còn nữa, tuy vậy Ấn Độ và Trung Quốc có nghĩa vụ phải dẫn đầu trong việc gìn giữ các lợi ích mà cấu trúc cũ đã mang lại.

Mười tám năm trước, khi thiên niên kỷ trước sắp khép lại, cuộc họp thường niên các bộ trưởng của Tổ chức thương mại thế giới tại Seattle, Hoa Kỳ đã không thể diễn ra khi hàng ngàn người biểu tình tràn ra đường phố thể hiện thái độ giận dữ cửa mình trước xu thế của toàn cầu hóa cũng như đối với bất kỳ chính phủ nước nào ủng hộ hình thái này. Tháng trước, tại ngưỡng cửa kết thúc năm 2017, hội nghị bộ trưởng các nước thành viên của WTO lại một lần nữa khép lại trong bế tắc và bất đồng. Với việc Hoa Kỳ ra mặt tỏ thái độ lãnh đạm trước các lời kêu gọi về thương mại tự do và toàn cầu hóa, có lẽ, năm 2017 sẽ được nhớ đến như là thời điểm những quốc gia đi đầu trong việc kêu gọi sự đồng thuận về thương mại tự do, toàn cầu hóa như Hoa Kỳ và Anh phải chứng kiến những gì mình đã ủng hộ và xây đắp bị chôn vùi hoàn toàn. Mỗi người sẽ ngạc nhiên vì một sự thật cay đắng rằng mặc dù cuộc xuống đường của những người biểu tình gần hai thập niên trước đây mang những đặc điểm báo trước cho cái chết của “Đồng thuận Washington” về thương mại tự do và toàn cầu hóa, không phải Fidel Castro, Hugo Chavez hay Lula da Silva mà chính là một Tổng thống Đảng Cộng hòa của Mỹ với xuất thân là tỷ phú đô la và phe phái quyền lực trong Đảng Bảo thủ Anh lại chính là những người đào huyệt mộ cho chính những gi mà những người tiền nhiệm của họ đã tạo nên. Đối với phe cánh tả toàn cầu, chiến thắng này thật chẳng mấy ngọt ngào.

Ba thập kỷ thành công

Với người dân bình thường trên khắp thế giới, những thay đổi về tư tưởng và chính sách tại những quốc gia phát triển đặc biệt tại Hoa Kỳ sau khi Tổng thống Trump lên nắm quyền và tại Anh quốc sau sự kiện Brexit, dường như mang nhiều sắc thái tối tăm hơn là tươi sáng. Nếu đứng trên quan điểm của các nước đang phát triển thì trong ba thập kỷ qua bắt đầu từ giữa thập niên 1980 thế giới đã chứng kiến số lượng người nghèo giảm đi nhiều nhất trong lịch sự phát triển của loài người. Đóng góp lớn nhất cho kết quả tốt đẹp này chính là Trung Quốc và Ấn Độ, hai quốc gia đã đạt bước phát triển thần kỳ về kinh tế trong các thập kỷ vừa qua.

Trên cơ sở thực hiện mở cửa và cải cách nội bộ mạnh mẽ hơn so với Ấn Độ, Trung Quốc đã được hưởng những lợi ích lớn hơn khi so sánh với quốc gia Nam Á. Ấn Độ, do mở cửa khá hạn chế và chậm trễ khi tiến hành hành cải cách nội bộ đã chịu thua kém trước quốc gia đông dân nhất thế trong cuộc đua tăng trưởng kinh tế; tuy vậy, có thể nói, tỷ lệ tăng tổng sản phẩm quốc nội của nước này trong vòng ba thập niên qua là cao nhất trong lịch sử. Thật là không công bằng khi cho rằng toàn cầu hóa và thị trường tự do chỉ làm lợi cho một số ít người tại Ấn Độ và Trung Quốc. Thực tế là hơn nửa tỷ người tại hai quốc gia lớn nhất châu Á đã thoát khỏi đói nghèo trong vòng một thế hệ nhờ vào toàn cầu hóa và thương mại mở, xu hướng giờ đây đã trở bị chôn vùi bởi chính những nước khai sinh ra nó.

Tuy nhiên, hệ thống kinh tế thế giới cũ không phải là không có khuyết tật. Vai trò của Phố Wall và vốn tín dụng toàn cầu đã khiến mô hình thương mại, đầu tư tự do xuyên biên giới lộ ra mặt trái; chính điều vừa nêu cũng đã gieo mầm cho tâm lý bất mãn về toàn cầu hóa và hệ thống thương mại-đầu tư mở. Vậy nhưng, giới chính trị gia lại chĩa mũi nhọn công kích vào thương mạị không rào cản, tự do dịch chuyển lao động thay vì tập trung giải quyết những yếu kém của hệ thống tài chính thế giới-những thành trì không dễ bị đánh bại. Thái độ sai lầm này đã tạo ra sự nguy hiểm cho tính ổn định bấy lâu của các nền kinh tế phát triển lẫn đang phát triển.

Tại các quốc gia công nghiệp hiện đại, không gì dễ dàng hơn việc đổ lỗi cho thương mại tự do khi việc làm trong ngành công nghiệp chế tạo bị mất đi; tuy nhiên, nhiều chính trị gia tại các nước này lại cố tình lờ đi sự thật rằng chính thương mại tự do đã giúp người tiêu dùng tại đây mua được hàng hóa và thụ hưởng hàng hóa với mức giá rẻ. Bên cạnh đó, tình trạng mất việc làm cũng biến lao động nhập cư trở thành đối tượng dễ bị công kích bởi dư luận trong khi chính họ lại là những người có đóng góp to lớn cho nền kinh tế các quốc gia tiếp nhận mình. Xem xét đến số lượng người nhập cư đang đảm lãnh những vị trí quan trọng tại các trường, viện nghiên cứu hàng đầu tại Hoa Kỳ và Anh quốc hoặc đang làm việc tại thung lũng Silicon, có thể thấy rằng nếu không có họ, sự thịnh vượng của Hoa Kỳ (ngay cả Vương Quốc Anh) sẽ không bao giờ xảy đến. Theo đó, bất kỳ sự chống đối nào đến tự do thương mại và nhập cư cuối cùng sẽ làm tổn hại đến lợi ích kinh tế và địa chính trị của cả xứ sở cờ hoa và đảo quốc sương mù.

Ngoài ra, các nước phát triển có tiềm lực kinh tế đủ mạnh để hạn chế của mặt tiêu cực của chủ nghĩa bảo hộ. Ngược lại, những nền kinh tế đang phát triển và mới nổi như Ấn Độ, tương lai một thế giới bị bao phủ bởi hàng rào thương mại và đầu tư cũng có nghĩa là các cơ hội sẽ bị mất đi và tình trạng đói nghèo sẽ không sớm được giải quyết. Các nước có lợi ích đặc biệt quan trọng để đảm bảo rằng thế giới sẽ không sớm trở lại tình trạng tự cung, tự cấp với hệ quả khôn lường.

Gắn với cải cách

Tuy nhiên, trước khi kêu gọi thực hiện mở cửa tại nước ngoài, những nền kinh tế mới nổi cần ổn định mô hình phát triển ngay tại chính đất nước mình. Với nhiều quốc gia đang phát triển như Trung Quốc hay Ấn Độ, tâm lý chống đối thị trường tự do không bắt nguồn từ các yếu tố bên ngoài (thương mại mở hay tự do dịch chuyển lao động) mà xuất phát từ chính hệ thống thị trường mở tại-đã bị bóp méo bởi chủ nghĩa tư bản thân hữu tại chính những nước này. Như vậy, không có gì ngạc nhiên khi lãnh đạo của cả Trung Quốc và Ấn Độ, Chủ tịch Tập Cận Bình và Thủ tướng Narendra Modi đã tập trung nguồn lực chính trị để chống tham nhũng cũng như nhổ tận gốc các nhóm lợi ích đầy quyền lực. Đây không phải là nhiệm vụ dễ dàng, kết quả cũng không thể có sau một đêm, tuy vậy, cuộc chiến chống tham nhũng và chủ nghĩa thân hữu là yếu tố căn bản để gìn giữ sự chính danh của một nền kinh tế thị trường mở-mô hình đã mang lại sự thịnh vượng nhiều hơn bất kỳ hình thái kinh tế nào trong hàng trăm năm trước đây. Tại Ấn Độ, cuộc chiến chống tham nhũng được gắn kết với nỗ lực nhằm cải thiện năng lực điều hành của nhà nước bởi chỉ có chủ thể này mới có đủ khả năng để thực hiện các nhiệm vụ nhất định.

Cải cách nội địa phải đi kèm với thái độ tích cực mở cửa đối với phần còn lại của thế giới. Trung Quốc rất năng động trong hoạt hoạt động xuất khẩu và thu hút đầu tư nước ngoài nhưng nền kinh tế lớn thứ hai thế giới lại áp dụng chính sách bảo hộ nghiêm ngặt đối với hàng hóa, dịch vụ nhập khẩu (đặc biệt là hàng hóa nông nghiệp và dịch vụ) cũng như bảo hộ cho các doanh nghiệp nhà nước. Trong khi đó, Ấn Độ lại chưa từng áp dụng chính sách phát triển hướng về xuất khẩu. Một vài quan điểm sai lầm trong chính giới cho rằng nền kinh tế nội địa của quốc gia Nam Á đã đủ lớn, mặc cho sự thật rằng thị trường toàn cầu lớn gấp nhiều lần so với nền kinh tế nước này. Chỉ tính riêng giao thương hàng hóa, thị trường toàn cầu đạt con số 18 nghìn tỷ đô la, lớn gấp 9 lần tổng GDP của Ấn Độ. Với tư cách là quốc gia đông dân thứ hai thế giới, Ấn Độ cần giành được miếng bánh lớn hơn trong thị trường toàn cầu so với con số khiêm tốn 1.6% như hiện nay. Ấn Độ cũng cần tập trung hút nhiều hơn đầu tư nước ngoài. Để làm được những điều đã nêu, đất nước của dòng sông Hằng linh thiêng cần từ bỏ chính sách bảo hộ thương mại đã được áp dụng bấy lâu. Cơ hội cho Ấn Độ thu hút đầu tư, đẩy mạnh xuất khẩu là rõ hơn bao giờ hết vào thời điểm này khi tại Trung Quốc, mức lương người lao động đang tăng, cùng với đó, nền tảng của nền kinh tế lớn thứ hai thế giới đang chuyển từ tăng trưởng dựa vào xuất khẩu sang phát triển dựa trên nhu cầu tiêu dùng nội địa.

Ấn Độ và Trung Quốc nắm giữ chìa khóa của mô hình kinh tế-chính trị toàn cầu trong tương lai. Nếu tiếp tục ủng hộ chính sách hạn chế tự do thương mại như cách các quốc gia công nghiệp đang tiến hành sẽ dẫn đến tình trạng tăng trưởng chậm. Thách thức đối với Ấn Độ và Trung Quốc, hai nền kinh tế lớn có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất, chính là phải hợp tác với nhau và với các quốc gia đối tác khác trong khu vực Đông Á và châu Á Thái Bình Dương (bao gồm các nền kinh tế phát triển là Nhật Bản và Úc) nhằm duy trì tính cởi mở của thị trường và sự ủng hộ dành cho toàn cầu hóa. Hiệp định Đối tác hợp tác toàn diện khu vực (RCEP) là một diễn đàn nơi để thúc đẩy sự hợp tác này. Ấn Độ có thể tận dụng các diễn đàn khác như BBIN (gồm các nước Bangladesh, Bhutan, Ấn Độ, Nepal) và BIMSTEC (các quốc gia gồm: Bangladesh, Ấn Độ, Myanmar, Sri Lanka, Nepal, Thái Lan, Bhutan) và thông qua những nhóm nước này phát triển hợp tác với ASEAN, theo đó, thúc đẩy và hưởng lợi từ tự do thương mại và đầu tư.

Thế kỷ tiếp theo chính là thế kỷ của châu Á. Tuy nhiên, để tận dụng cơ hội này qua đó đưa nền kinh tế Ấn Độ tiến lên, Trung Quốc và các nước khác trong khu vực cần bỏ qua sự đối đầu, tâm lý bảo hộ để nắm bắt cơ hội tạo ra sự gắn kết mạnh mẽ hơn giữa quốc gia với quốc gia giống như phương Tây đã làm sau hơn hai thế kỷ chìm ngập trong sự cô lập và liên kết lỏng lẻo giữa các nước trong châu lục. Những điều đã nêu chính là định hướng phát triển chủ đạo của châu Á trong năm 2018 và thời gian tiếp theo.

Nguồn:The Hindu - LA

Từ khóa: Ấn Độ, bảo hộ, tự do thương mại, Trung Quốc, châu Á, 2018, mở cửa, xuất khẩu

Chuyên mục RCEP

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Phân tích - Bình luận

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Thư viện hội nhập

thu vien


phong ve thuong mai

Video

Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field

Liên kết

 

Lượt truy cập

008752328
Go to top