
Phát súng khai mạc trong chiến dịch “Nước Mỹ trên hết” của chính quyền Trump chính là việc rút Mỹ khỏi Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) – một bước đi mà nhiều người cho rằng sẽ thực sự giết chết Hiệp định thương mại gồm 12 nước chiếm đến 40% GDP toàn cầu.
Bằng việc phản đối Hiệp định đa phương như TPP, Tổng thống Donald Trump đã ca ngợi lợi ích của các hiệp định song phương, vì cho rằng các hiệp định một đối một là nơi thích hợp để Hoa Kỳ có thể dùng quyền lực thống trị thị trường làm đòn bẩy, nhằm giành thắng lợi chớp nhoáng trên bàn đàm phán. Nhưng, kỳ vọng đó của Mỹ vẫn chưa đạt được kết quả. Dự án TPP vẫn tiếp tục và chưa có bằng chứng nào cho thấy các Hiệp định song phương do Mỹ dẫn dắt sẽ trở thành hiện thực trong thời gian tới.
Thế nhưng, động cơ thực sự đằng sau chính sách thương mại của chính quyền Trump không đơn thuần là phản đối chủ nghĩa đa phương để ưu tiên chủ nghĩa song phương. Mà hơn thế nữa, chính sách đó nhằm đảm bảo Hoa Kỳ được tự do áp đặt lại thuế quan cho từng hàng hóa cụ thể, thay đổi các điều khoản của những hiệp định thương mại hiện tại và làm suy yếu cơ chế giải quyết tranh chấp ở cấp độ khu vực và quốc tế mà có thể được các nước khác sử dụng để chế ngự các hoạt động bảo hộ của Hoa Kỳ.
Điều này càng được thể hiện rõ hơn trong diễn biến các chính sách thương mại suốt 9 tháng cầm quyền của Trump.
Đầu tiên, chính phủ ngày càng dùng nhiều đến các đạo luật thương mại quốc gia - quy định cho phép các cơ quan hành pháp Mỹ được phép hạn chế nhập khẩu. Đầu tiên là các cuộc điều tra chống bán phá giá, sau đó là khôi phục lại điều luật 301, điều luật cho phép nước Mỹ được trừng phạt nếu Nhà Trắng nhận định các quốc gia khác đang tiến hành các hoạt động thương mại không công bằng. Và thậm chí, chính quyền Trump cũng đã dùng đến điều luật 232 mà ít khi được sử dụng. Điều luật này cho phép chính phủ ngăn chặn hàng hóa nhập khẩu mà theo đánh giá của họ, hàng hóa này có thể phương hại đến an ninh quốc gia, chẳng hạn như sản phẩm thép và nhôm.
Thứ hai, trong các vòng tái đàm phán thương mại, Mỹ đưa ra các yêu cầu nhằm ngăn chặn các quyết định pháp lý chống lại hành vi thương mại của Mỹ. Lấy ví dụ, Mỹ muốn loại bỏ chương 19 trong Hiệp định Thương mại tự do Bắc Mỹ (NAFTA), quy đi cho phép các quốc gia thành viên được quyền thành lập các ban hội thẩm độc lập để xem xét lại các quyết định chống bán phá giá của một quốc gia trong khối. Một ví dụ khác là việc Mỹ muốn được tùy chọn cơ quan giải quyết tranh chấp đầu tư trong NAFTA.
Thứ ba, Mỹ đang tiến hành các hoạt động nhằm làm suy yếu hệ thống giải quyết tranh chấp của WTO bằng cách chặn đứng việc bổ nhiệm thành viên mới cho Cơ quan Phúc thẩm của WTO cho đến khi WTO tiến hành cải cách lại cơ quan nay, mặc dù Mỹ không xác định được nước này mong muốn cải cách những gì. Việc châm ngòi cho các cuộc trả đũa ăn miếng trả miếng giữa các nước, hay việc làm suy yếu WTO, chính là các mối đe dọa hiện tại rõ ràng của chủ nghĩa đơn phương.
Chủ nghĩa đơn phương của Mỹ trong đàm phán
Tuy nhiên, nước Mỹ còn áp dụng chủ nghĩa đơn phương theo một cách cơ bản hơn: việc lựa chọn các chiến lược đàm phán.
Chính quyền Trump đang đi theo cách tiếp cận “kính chiếu hậu” trong các cuộc đàm phán, nhìn về phía sau bằng cách đàm phán lại các Hiệp định thương mại hiện hữu. Vì vậy dẫn một đợt tu sửa NAFTA và sửa đổi KORUS (Hiệp định Thương mại Tự do Mỹ – Hàn). Đáng lý ra, Mỹ nên nỗ lực hợp tác ăn ý, mang tính xây dựng với các nước còn lại để hiện đại hóa các Hiệp định thương mại hoặc để đảm bảo rằng các nước nghiêm túc thực thi Hiệp định. Thế nhưng, chính quyền Trump lại đang khiến cho các vòng tái đàm phán này có nguy cơ đổ vỡ bằng việc đặt mục tiêu trọng tâm của Mỹ là nhằm cắt giảm một nửa các thâm hụt thương mại hiện nay, mặc dù trên thực tế, thâm hụt thương mại là do các yếu tố kinh tế vĩ mô rộng hơn tác động và không phải là một chỉ số dùng để đo lường sức khỏe của nền kinh tế Mỹ.
Ủy quyền đàm phán sai lầm cho Đại diện thương mại Mỹ dẫn đến cơ quan này như đang bởn cợt với NAFTA khi đưa ra các đề xuất mà biết chắc ngay từ đầu rằng Canada, Mexico hay thậm chí các bên liên quan khác như Quốc hội Mỹ hay Cộng đồng doanh nghiệp Mỹ sẽ không đồng ý. Ví dụ, Đại diện Thương mại Mỹ đang đề nghị một điều khoản “hoàng hôn” để kết thúc NAFTA sau năm năm nếu như cả ba nước không thể đồng thời đạt được thỏa thuận làm mới lại Hiệp định. Một điều khoản khác mà cơ quan này đề xuất là yêu cầu hàm lượng xuất xứ Mỹ trong sản phẩm ô tô tối thiểu 50%, mặc cho mục tiêu của NAFTA là muốn hình thành một nền tảng sản xuất liên kết mang tầm khu vực để cạnh tranh với thế giới, mà phần thưởng là người tiêu dùng sẽ có được các sản phẩm tốt nhất với giá rẻ nhất.
Trong khi Mỹ đang cố gắng thay đổi các điều khoản trong các Hiệp định Thương mại hiện hữu, theo cách mà cả người dân trong nước hay các đối tác nước ngoài đều không đồng thuận, thì các quốc gia châu Á và những khu vực khác đang đặt cược vào các vụ mùa quy mô lớn - các Hiệp định thương mai đa phương, ví như Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực RCEP gồm 16 quốc gia ở khu vực Đông Á, Hiệp định Đối tác Kinh tế Nhật Bản – EU và TPP 2.0.
11 Quốc gia còn lại trong TPP đang phối hợp nỗ lực để tái khởi động dự án, với mục tiêu trọng tâm là đảm bảo đạt được Hiệp định về mặt nguyên tắc tại Hội nghị Thượng đỉnh Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương APEC sẽ diễn ra vào tháng 11 tại Việt Nam. Đây chắc chắn là một nhiệm vụ khó khăn, trong bối cảnh tác nhân quan trọng nhất là Mỹ đã rời khỏi Hiệp định. Tuy nhiên, các nhà đàm phán đã khôn ngoan chọn ra một công thức – tạm thời treo một vài quy định trong TPP cho đến khi Mỹ quay trở lại Hiệp định – giúp hài hòa hai mục tiêu quan nền tảng nhất. Mục tiêu đầu tiên là thuyết phục các bên đang do dự tiếp tục ở lại Hiệp định mặc dù lợi ích kinh tế của các nước này bị giảm đi do các nhượng bộ trước đây. Mục tiêu thứ hai là khuyến khích Mỹ quay trở lại bằng việc bảo lưu các quy định trước đây Mỹ yêu cầu.
Tuy nhiên, liệu Mỹ sẽ tái gia nhập TPP hay không, nếu có là khi nào. Tất cả vẫn chỉ là sự suy đoán. Nhưng nước Mỹ đã và đang thấm thía các thiệt hại. Một vài đối tác thân tín nhất đồng thời là đồng minh của Mỹ cũng đang nỗ lực xúc tiến các cơ hội thị trường mới mà không bao gồm Mỹ. Thiệt hại của quốc gia nay chắc chắn sẽ còn tăng thêm gấp nhiều lần. Nếu NAFTA đổ vỡ, người nông dân và người chăn nuôi gia súc ở Mỹ sẽ mất đi quyền tiếp cận các thị trường xuất khẩu hàng đầu. Các công nhân trong nhà máy cũng sẽ dần trở nên thừa thãi. Theo một dự báo, chỉ tính riêng khu vực sản xuất phụ tùng ô tô, việc Mỹ rút khỏi NAFTA sẽ đẩy 50,000 công nhân vào tình trạng bấp bênh.
Chủ nghĩa đơn phương không phải là một công thức đưa Mỹ đến thành công, mà thật ra, còn biến người Mỹ thành những kẻ thua cuộc.
Tác giả: Mireya Solís là thành viên cao cấp của chương trình Chính sách Ngoại giao thuộc Viện Brookings. Đồng thời, bà còn lạ đồng Giám đốc điều hành Trung Tâm nghiên cưu Chính sách Đông Á thuộc viện Brookings, washington D.C.
Nguồn: Japan Today - TQ
Từ khóa: chủ nghĩa đơn phương, Mỹ, TPP, NAFTA, WTO, thiệt hại
Các tin khác
- Tiêu dùng Trung Quốc đang định hình tương lai thương mại - 31/10/2017
- Tận dụng cơ hội của FTAs, doanh nghiệp Việt yếu thế - 31/10/2017
- Cam kết về sở hữu trí tuệ trong Hiệp định EVFTA - 31/10/2017
- EU và Mercosur gấp rút hoàn tất các thỏa thuận thương mại vào cuối năm, bất chấp sự phản đối - 30/10/2017
- “Dù tình huống nào, TPP vẫn là bước tiến quan trọng trong hội nhập châu Á - Thái Bình Dương” - 30/10/2017






















